The Wife of Bath's Prologue
tiếp tục từ kia
The Wife of Bath's Prologue
Kinh lịch đời tôi, dẫu chẳng có kinh thư
Trên thế gian này, cũng đủ để minh phân
Về nỗi khổ lụy chất chồng chốn đạo phu thê;
Thưa chư vị, từ thuở tôi mới độ mười hai,
Tạ ơn Chúa vĩnh hằng, Đấng toàn năng bất tử,
Năm đời chồng, tôi đã sánh bước nơi cửa thánh đường;
Miễn là duyên nợ cho phép kết tơ;
Và tất thảy đều là những bậc trượng phu danh giá.
Nhưng người ta bảo, quả thực chẳng bao lâu,
Rằng bởi Chúa Kitô chỉ một lần duy nhất
Đến dự lễ thành hôn tại Cana xứ Galilee,
Nên Ngài dùng chính gương kia mà răn tôi rằng:
Đời người chỉ nên một lần kết tóc mà thôi.
Lại nghe đây, lời lẽ thật đanh thép,
Bên giếng nước năm xưa, Chúa Jesus - bậc Thần Nhân -
Đã quở trách người đàn bà Samaritan rằng:
“Năm đời chồng, ngươi đã từng chung chạ,
Và kẻ giờ đây bên ngươi, vốn chẳng phải chồng.”
Ngài đã phán như thế, thật rõ ràng chẳng sai.
Nhưng tôi xin truy vấn, tại sao bậc nam nhân thứ năm
Chẳng được xem như bậc chính phu của người Samaritan ấy?
Một đời người được kết tóc bấy nhiêu lần?
Bao năm tháng kinh kỳ, tôi chưa từng nghe thấy
Một con số được minh định rõ ràng.
Người đời cứ việc suy đoán ngược xuôi,
Song tôi biết chắc, minh bạch và không chút dối lừa,
Rằng Thiên Chúa đã truyền ta phải sinh sôi nảy nở;
Lời vàng ý ngọc ấy, tôi đây hiểu tường tận.
Vả lại tôi thấu tường, Ngài phán rằng bậc lang quân
Phải lìa bỏ phụ mẫu mà gắn bó cùng tôi trọn kiếp.
Song về số lượng, Ngài chẳng hạ chỉ minh phân,
Chẳng luận là song hỷ, hay đến tận bát hỷ lâm môn;
Hà cớ sao đời nỡ buông lời bỉ lậu?
Kìa xem, bậc minh quân Solomon uyên bác;
Tôi tin rằng Ngài thê thiếp chẳng riêng một người.
Ước gì Chúa ban đặc ân cho tôi được phép
Hưởng thú tiêu dao dù chỉ bằng nửa Ngài thôi!
Huân công Chúa ban cho Ngài qua muôn vàn thê tử!
Chẳng kẻ nào trên đời có được thiên tư ấy.
Chúa chứng giám, đức vua cao quý, theo ý mọn của tôi,
Ngay đêm đầu tiên đã bao phen mặn nồng hoan lạc
Với mỗi giai nhân, đời Ngài thật hiển hách biết bao.
Tạ ơn Chúa lòng lành cho tôi năm đời chồng kết tóc!
Trong số đó tôi chắt lọc những kẻ ưu tú nhất,
Cả về túi dưới lẫn hòm tiền của họ.
Trường học khác nhau rèn nên những môn sinh tinh thông,
Và thực chứng đa đoan trong muôn vàn công việc
Khiến kẻ thợ thầy đạt tới hoàn mỹ;
Tôi đây chính là môn sinh từ trường học của năm đời chồng.
Chào đón kẻ thứ sáu, bất kể khi nào chàng hiện diện.
Thật lòng mà nói, tôi chẳng thể giữ tiết hạnh vẹn toàn.
Khi lang quân lìa bỏ cõi đời, khuất núi xa mây,
Một tín hữu khác sẽ sớm kết tóc cùng tôi tức khắc,
Bởi Thánh tông đồ phán rằng khi ấy tôi được tự do
Để tái giá, nhân danh Chúa, bất cứ nơi nào tôi muốn.
Ngài bảo rằng việc kết hôn vốn chẳng phải tội khiên;
Thà rằng kết tóc xe tơ, còn hơn để lửa tình thiêu đốt.
Tôi sá gì, dẫu người đời buông lời bỉ lậu
Về Lamech bạo tàn và thói đa thê của hắn?
Tôi biết rõ Abraham vốn là bậc thánh nhân,
Cả Jacob nữa, theo như những gì tôi được biết;
Mỗi vị ấy đều có thê thiếp hơn hai người,
Và biết bao bậc thánh hiền khác cũng vậy thôi.
Chư vị hãy chỉ ra, trong bất cứ thời đại nào,
Rằng Thiên Chúa tối cao từng ngăn cấm việc kết hôn
Bằng lời phán rành rành? Xin chư vị hãy nói cho tôi hay.
Hay Ngài từng hạ lệnh giữ tiết hạnh đồng trinh ở đâu?
Tôi cũng thấu tường như chư vị, chẳng chút hồ nghi,
Rằng vị Tông đồ kia khi luận thân nữ nhi,
Đã thú nhận rằng Ngài chẳng có huấn dụ nào từ Thiên Chúa.
Người ta có thể khuyên nữ nhân giữ mình thanh sạch,
Song lời khuyên giải vốn chẳng phải sắc lệnh tối cao.
Ngài để quyền tự quyết lại cho chính chúng ta;
Bởi lẽ nếu Chúa truyền lệnh phải giữ đời trinh bạch,
Thì Ngài đã phế bỏ đạo phu thê cùng việc truyền tông.
Và quả thực, nếu chẳng có mầm hạt nào được gieo,
Thì lấy đâu ra kẻ giữ tiết hạnh đồng trinh sau này?
Đến như Thánh Paul còn chẳng dám cưỡng cầu,
Một điều mà Đức Thầy của Ngài không hề hạ chỉ.
Giải thưởng đồng trinh đã đặt sẵn nơi đích đến;
Ai chạy nhanh nhất, cứ việc đoạt lấy mà xem.
Song lời răn này chẳng ứng với mọi hạng,
Chỉ dành cho kẻ được Chúa ban đặc ân uy linh [1].
Tôi thấu tường rằng bậc Tông đồ vốn thân tâm khiết tịnh;
Tuy nhiên dẫu Ngài từng hạ bút và giảng minh
Rằng ước mong thiên hạ đều giữ mình như Ngài vậy,
Thì đó cũng chỉ là lời khuyến dụ về nếp sống khiết trinh.
Ngài vẫn chuẩn y cho tôi được giữ phận làm vợ,
Theo phép khoan hồng; nên chẳng có điều chi đáng sợ,
Hay bị khiển trách nếu tôi tái giá khi phu quân khuất núi,
Chẳng phải mang danh đa thê mà chịu nỗi nhục nhằn.
Dẫu biết rằng không chạm vào nữ nhân là điều thiện hảo;
Ngài ngụ ý chốn phòng khuê hay nơi trướng đào,
Bởi hiểm họa thay khi để lửa gần kề rơm rạ;
Chư vị hẳn thừa hiểu ví von ấy ám chỉ điều chi.
Tựu trung lại: Ngài xem trọng sự khiết trinh,
Hơn việc kết hôn trong vòng nhục dục yếu hèn.
Tôi gọi là yếu hèn, trừ phi cả nam lẫn nữ
Nguyện suốt đời mình giữ trọn sự khiết thanh.
Tôi thuận lòng; chẳng chút lòng đố kỵ,
Dẫu đời trinh bạch được trọng vọng hơn kẻ tái giá.
Họ cứ việc giữ thân tâm khiết tịnh;
Còn về phẩm hàm mình, tôi chẳng dám tự tôn,
Bởi chư vị thấu rõ, một bậc gia chủ trong dinh thự
Chẳng thể nào chỉ dùng toàn khí cụ bằng vàng;
Có những vật bằng gỗ vẫn tận trung chấp sự.
Thiên Chúa triệu mời con dân theo muôn vàn lối,
Và mỗi người đều nhận lãnh một thiên ân
Kẻ này điều nọ, tùy theo ý Ngài.
Tiết hạnh khiết trinh quả là bậc hoàn mỹ,
Cùng lòng tiết dục và sự thành tín với bề trên;
Song Chúa Kitô, nguồn cội của mọi sự vẹn toàn,
Chẳng hề hạ lệnh bắt dân phải đem tán gia sản,
Đặng bố thí sạch cho kẻ nghèo khó cực cơ,
Hòng theo dấu chân Ngài trên nẻo đường hành đạo.
Ngài chỉ phán truyền cho kẻ mong đời viên mãn;
Còn thưa chư vị, xin thứ lỗi cho, tôi chẳng phải hạng đó.
Tôi nguyện dâng trọn đóa hoa xuân sắc của đời mình,
Vào những hành sự và hoa trái của đạo phu thê.
Lại hãy phân minh, mục đích rốt ráo là chi
Khi tạo ra những khí cụ sinh truyền ấy,
Do Đấng Hóa Nhi anh minh tuyệt trần đúc nặn?
Hãy tin tôi đi, chúng chẳng được tạo ra vô ích.
Ai muốn chú giải ngược xuôi mặc kệ,
Rằng chúng chỉ dùng để bài tiết uế dịch,
Và những phần tiểu tiết của cả hai ta
Cốt để phân biệt phận nữ với thân nam,
Chẳng vì lẽ nào khác nữa, chư vị bảo thế sao?
Kinh lịch đời tôi thừa biết chẳng phải thế.
Miễn là các bậc kinh sư chẳng nổi lôi đình,
Tôi xin quyết rằng: chúng dành cho cả hai;
Vừa để giải trừ, vừa để hưởng thú
Chuyện sinh truyền, điều chẳng làm Chúa phật lòng.
Nếu không, sao sách thánh lại ghi rành rành
Rằng trượng phu phải trả cho vợ món nợ phu thê?
Vậy gã lấy gì mà trang trải nợ nần,
Nếu chẳng dùng đến cái khí cụ lành thánh kia?
Thế nên, chúng được đặt để nơi tạo vật
Vừa để bài tiết, vừa giúp việc sinh truyền.
Song tôi chẳng bảo rằng vạn dân đều phải giữ,
Những binh khí mà tôi đã phân trần cùng chư vị,
Để mà đem ra dụng trong việc sinh truyền.
Nếu thế thì người đời còn chi trọng đức khiết trinh?
Chúa Kitô giữ mình thanh sạch dẫu mang thân nam tử,
Cùng bao bậc thánh nhân từ thuở hồng hoang;
Họ suốt đời sống trong cảnh tiết hạnh vẹn toàn.
Tôi đây chẳng hề đố kỵ kẻ giữ đời trinh bạch.
Cứ để họ là bánh mì làm từ tinh bột trắng,
Còn hạng vợ con chúng tôi, hãy cứ gọi là bánh mạch thô sơ;
Thế mà với bánh mạch ấy, như Thánh Mark đã ghi tờ,
Chúa chúng ta đã cứu rỗi bao người khỏi cơn đói lả.
Trong phẩm hàm mà Thiên Chúa đã triệu mời,
Tôi cứ kiên trì; chẳng chút kiêu kỳ hay câu nệ.
Ở phận làm vợ, tôi sẽ dùng khí cụ của tôi
Một cách tự do như Đấng Hóa Nhi đã ban tặng.
Nếu tôi khắt khe bủn xỉn, nguyện Chúa phạt tôi sầu!
Phu quân tôi sẽ được hưởng dụng cả đêm lẫn ngày,
Khi nào gã muốn đến mà trang trải nợ nần.
Tôi sẽ có một đời chồng - chẳng hề thoái thác -
Kẻ vừa là con nợ, vừa là nô bộc của tôi,
Và gã sẽ chịu bao nỗi đày đọa khổ ải
Trên chính thân xác mình, chừng nào tôi còn là vợ gã.
Suốt đời này, tôi nắm quyền sinh sát
Trên tấm thân gã, chứ chẳng phải gã đâu.
Ấy là lời vị Tông đồ đã giảng giải cho tôi,
Và răn bảo các đức ông phải yêu vợ mình cho trọn.
Toàn bộ lời ấy, tôi tâm đắc đến mười phần.
Gã Xá tội đứng phắt dậy tức thì;
“Này phu nhân,” gã thốt, “thề có Chúa cùng Thánh John chứng giám!
Bà quả là bậc thuyết giáo cao minh trong việc này.
Tôi vốn toan thành gia lập thất; nhưng ôi thôi!
Cớ sao đọa đày thân xác để trả cái giá đắt nhường kia?
Thà rằng năm nay chẳng thèm cưới vợ cho rồi!”
“Khoan!” bà đáp, “chuyện tôi kể chưa bắt đầu đâu.
Đừng vội, ông sẽ còn phải nếm từ một thùng rượu khác,
Trước khi tôi đi, nó sẽ có vị đắng chát hơn cả bia mạch thô.
Và khi tôi đã kể tường tận cho ông hay
Về những nỗi khổ lụy chất chồng trong đạo phu thê,
Điều mà tôi đã quá thông tường suốt cả đời mình -
Nghĩa là, chính tôi đây đã từng là kẻ cầm roi -
Thì lúc ấy ông mới được chọn xem có muốn nhấp môi,
Từ cái thùng rượu tôi sắp sửa khui hay không.
Hãy dè chừng, trước khi ông tiến lại quá gần;
Bởi tôi sẽ dẫn ra hơn mười ví dụ điển hình.
“Kẻ nào chẳng biết nhìn người mà giữ mình,
Thì sẽ bị người đời soi gương mà răn dạy lại.”
Chính những lời ấy, Ptholomy từng hạ bút;
Hãy tìm đọc tập Thành điển Almagest mà xem.
“Thưa phu nhân, nếu là điều sở nguyện,”
Gã Xá tội thưa, “như lời khi nãy bà tuyên bố,
Xin cứ tường thuật, chớ nể mặt một ai,
Và truyền dạy cho kẻ hậu sinh những thực chứng của bà.”
“Hân hạnh thay,” bà thốt, “nếu điều ấy vừa lòng chư vị;
Song tôi cũng xin thỉnh cầu cả quý hội nơi đây,
Rằng nếu lỡ buông lời thật ngẫu hứng,
Xin chớ bởi lời ấy mà đem lòng phiền trách,
Vì ý định của tôi, cốt yếu cũng chỉ để mua vui tiêu khiển.”
Nào thưa ngài, giờ tôi xin kể tiếp chuyện mình.
Thề có chén rượu nồng tôi đang nhắp trên môi,
Tôi sẽ nói thực; về năm gã chồng tôi có,
Ba kẻ thì tốt, còn hai kẻ tệ hại.
Ba gã tốt đều giàu sụ, lại già khú đế;
Gắng gượng lắm cũng chẳng giữ nổi cái giao kèo [2]
Mà họ đã thề bồi ràng buộc với thân tôi.
Chư vị thừa biết tôi muốn ám chỉ điều chi mà, lạy Chúa!
Chúa chứng giám, tôi cứ buồn cười khi nghĩ lại
Những đêm tôi hành hạ lũ già ấy phải lao lực khổ làm sao!
Thề có đức tin, tôi chẳng coi tình cảm họ ra gì.
Bởi điền sản, kho tàng họ đã dâng trọn;
Tôi chẳng cần phí công nhọc sức thêm nữa
Để lấy lòng hay cung kính đám già nua.
Họ yêu tôi chết đi sống lại, Chúa trên cao chứng giám,
Nên tôi lại càng khinh khỉnh, chẳng màng đến tình họ!
Một nữ nhân khôn ngoan sẽ luôn ra sức dỗ dành
Để có được tình yêu, nếu nàng ta chưa có được.
Nhưng một khi tôi đã nắm gọn chúng trong tay,
Và chúng đã dâng hết đất đai nhà cửa cho tôi,
Thì việc gì tôi phải nhọc công chiều chuộng,
Trừ phi để thu lợi hay để bản thân được thảnh thơi?
Tôi bắt chúng làm việc đến kiệt sức, thề có đức tin,
Đến mức bao đêm chúng phải gào lên “Ối giời ôi!”
Tôi tin chắc chúng chẳng đời nào xơi nổi miếng thịt muối,
Dành cho những đôi lứa thuận hòa ở vùng Dunmowe.
Tôi trị chúng bằng cái phép công của riêng mình,
Khiến gã nào gã nấy răm rắp, hân hoan
Mang quà cáp xa xỉ từ phiên chợ về cho tôi.
Chúng mừng húm mỗi khi tôi ban lời ngon ngọt,
Bởi Chúa biết, tôi thường mắng nhiếc chẳng tiếc lời.
Nào nghe đây, cách tôi hành xử thật phải đạo,
Hỡi những nội tướng thông tuệ, kẻ thấu hiểu sự đời.
Chị em phải biết cách đổ vấy, vu khống lũ chồng,
Bởi chẳng gã nam nhân nào bì kịp nửa phần bạo dạn
Trong việc thề thốt và điêu ngoa như nữ nhi.
Tôi chẳng nói điều này với hạng vợ hiền đức,
Trừ phi họ lỡ bước sa lầm.
Một người vợ khôn, nếu biết mưu cầu thiện hảo,
Sẽ khiến lão chồng tin sái cổ rằng con chim kia đã hóa rồ,
Rồi gọi ngay con hầu làm chứng cho lời mình
Để đồng lòng xảo thuật. Giờ hãy nghe tôi đã mắng nhiếc đây:
Này lão già lụ khụ, lão làm cái trò gì đấy?
Sao vợ tay hàng xóm lại lượt là, rực rỡ đến thế kia?
Ả đi đâu cũng được người đời trọng vọng, nể vì;
Còn tôi vò võ xó nhà, chẳng có lấy bộ đồ ra hồn.
Lão làm cái gì bên nhà hàng xóm thế hử?
Ả đẹp lắm sao? Lão muốn tòm tem lắm phải sao?
Lão thầm thì gì với con hầu nhà mình đấy? Lạy Chúa tôi!
Lão già dâm dật kia, dẹp ngay mấy trò bỉ ổi ấy đi!
Và nếu tôi có bạn tâm giao hay bằng hữu thân tình,
Dẫu tình nghĩa thanh cao, lão lại mắng nhiếc như quỷ,
Mỗi khi tôi dạo bước hay ghé chơi nhà họ!
Lão mò về nhà, say khướt như hũ chìm,
Rồi leo lên ghế mà thuyết giáo, quân khốn kiếp!
Lão bảo tôi rằng thật là một nỗi đại họa,
Khi cưới hạng nữ nhân nghèo hèn vì tốn kém chi gia;
Còn nếu ả giàu sang, thuộc hàng danh gia vọng tộc,
Thì lão lại rên là cực hình đọa đày,
Khi phải chịu thói kiêu kỳ và tâm tính đỏng đảnh.
Còn nếu ả xinh đẹp, quân gian trá kia,
Lão lại bảo kẻ trăng hoa nào cũng muốn chiếm cho bằng được;
Rằng ả chẳng thể giữ trọn tiết hạnh
Khi bị đám háo sắc vây hãm, tấn công từ khắp phía.
Lão bảo rằng kẻ thì ham chúng tôi vì của cải,
Kẻ thì vì vóc dáng, kẻ lại bởi dung nhan,
Kẻ vì nàng này biết ca múa, lả lướt cung đàn,
Kẻ lại vì dòng dõi cao sang hay lời đưa duyên tình tứ;
Kẻ lại mê đôi tay ngọc, cánh tay thon nhỏ tựa cành tơ;
Thế là theo lời lão, tất thảy đều tống khứ cho quỷ tha ma bắt!
Lão bảo rằng chẳng nam nhân nào giữ nổi tường thành,
Khi cứ bị công phá, vây hãm mãi từ muôn phương.
Lão lại phán nếu nữ nhân dung mạo xấu xí,
Thì ả sẽ tham luyến mọi nam nhân trong tầm,
Như loài khuyển săn, ả sẽ chồm lên vồ vập,
Cho đến khi tìm được kẻ chịu mua đứt món hàng mới thôi.
Chẳng có con ngỗng xám nào xơ xác giữa hồ,
Mà theo lời lão, lại có thể sống đời lẻ bóng.
Lão rêu rao rằng thật khó để chế ngự và sở hữu,
Một thứ mà chẳng có kẻ nào tình nguyện đoái hoài.
Đồ vô lại! Lão thốt ra những lời bỉ lậu ấy khi lên giường,
Rằng hiền nhân tuyệt không nên vướng víu chuyện thành thân,
Và những ai muốn hướng lòng về cõi Thiên đàng cũng vậy.
Nguyện cầu thiên lôi giáng xuống cùng chớp giật lửa thiêu,
Đánh gãy cái cổ nhăn nheo, khô héo của lão!
Lão bảo nhà dột, cùng khói bếp ám nồng,
Và hạng vợ lèm bèm khiến nam nhân đào tẩu
Khỏi chính gia đường mình; ôi, lạy Chúa lòng lành!
Lão già lụ khụ mắc bệnh gì mà lải nhải khôn nguôi thế?
Lão bảo rằng hạng vợ con thường che đậy thói hư
Đợi đến khi ván đã đóng thuyền, mới chịu phơi ra tất thảy -
Đúng là châm ngôn của quân bỉ lậu!
Lão bảo bò, lừa, ngựa, cùng chó săn,
Đều được đem ra thử nghiệm, giám định bao lần;
Nào chậu thau, bồn rửa, trước khi người ta chọn mua,
Nào thìa muỗng, ghế ngồi, cùng mọi thứ đồ gia dụng,
Cả nồi niêu, xiêm y, hay vật phẩm trang hoàng;
Thế mà với vợ con, thiên hạ lại chẳng được phép đo lường,
Đợi đến lúc thành thân - đồ lão già lẩm cẩm, quân bỉ lậu! -
Lão mới kêu chúng tôi lộ thói hư lúc ấy.
Lão lại còn bảo tôi chẳng thấy hài lòng,
Trừ khi lão phải hết lời ca tụng nhan sắc tôi;
Rằng lão phải dán mắt vào mặt tôi không rời,
Và gọi tôi là phu nhân kiều diễm ở mọi nơi mọi chốn.
Rồi lão phải bày tiệc linh đình đúng ngày tôi chào đời,
Để khiến tôi được tươi tắn và hân hoan;
Lão phải kính trọng cả bà vú nuôi của tôi,
Và nể trọng cả con hầu nơi khuê phòng tôi trú ngụ,
Cùng với đám thân quyến và bằng hữu của cha tôi -
Lão cứ đặt điều như thế đó, đồ lão già bụng chứa hũ điêu toa!
Lại còn về gã học việc Janekin của chúng ta,
Chỉ bởi mái tóc xoăn thanh tân, óng ả tựa vàng ròng,
Và bởi gã cứ hộ tống tôi đi ngang về dọc,
Mà lão lại ôm giữ một nỗi nghi tâm sai lạc.
Tôi chẳng thèm, dẫu mai này lão xuống lỗ!
Nhưng phân minh cho tôi rõ: can cớ chi lão lại giấu giếm, đồ chết tiệt,
Mấy cái chìa hòm tiền khỏi tay tôi?
Của cải ấy là phần của tôi cũng như của lão, thề có Chúa chứng tri!
Hử, lão định biến phu nhân nhà này thành kẻ khờ khạo sao?
Nay, thề có Đấng Thiêng liêng danh gọi Thánh James,
Lão chẳng thể tham cả đôi đường, dẫu lão có lộn tiết phát rồ,
Là vừa làm chủ thân xác, lại vừa quản lý tài sản của tôi;
Lão buộc phải từ bỏ một thứ, dẫu có tức nổ đom đóm mắt.
Rình rập, săm soi tôi ích gì?
Tôi đồ rằng lão chỉ muốn tống khứ tôi vào cái hòm kia mà khóa lại cho rảnh nợ!
Lão đáng ra phải thưa rằng: “Nhà nó ơi, cứ đi đâu tùy ý;
Cứ việc tiêu dao tự tại; tôi chẳng thèm tin mấy lời đàm tiếu thị phi.
Bởi tôi thấu rõ bà là hiền thê tiết hạnh, hỡi Phu nhân Alys.”
Phận nữ chúng tôi chẳng ưa kẻ nào cứ quản thúc săm soi
Xem mình đi đâu; chúng tôi muốn tự tại.
Trong muôn người, nguyện cầu ngài được phúc ân,
Bậc chiêm tinh thông tuệ, Ngài Dan Ptholome cao quý,
Người đã hạ bút trong tập Thành điển Almagest rằng:
“Kẻ đạt đến đỉnh cao của trí tuệ nhân gian,
Là kẻ chẳng màng ai đang nắm giữ thế gian.”
Từ lời sấm ấy, lão phải hiểu lấy điều này:
Nếu lão đã đủ đầy, can cớ gì bận tâm,
Rằng thiên hạ ngoài kia đang hân hoan thế nào?
Bởi chắc chắn rồi, đồ lão già lẩm cẩm, xin thứ lỗi cho,
Lão vẫn có đủ “vốn tự thân” của tôi khi bóng tối buông màn.
Thật là hạng bủn xỉn vô đối khi nỡ từ chối,
Một kẻ muốn mồi lửa từ cây đèn của lão;
Lão đâu có mất đi chút ánh sáng nào đâu, lạy Chúa!
Lão đã có đủ, bớt lèm bèm thêm đi.
Lão lại còn bảo, hễ chúng tôi ăn diện rực rỡ
Với phục sức quý giá cùng gấm vóc lụa là,
Thì ấy là mầm họa cho tiết hạnh khiết trinh;
Ấy thế mà - đồ quân khốn kiếp! - lão cứ cố gồng mình,
Mượn danh vị Tông đồ để thốt ra những lời này:
“Hãy điểm tô bản thân bằng y phục khiêm cung và thanh sạch,” ngài phán thế,
“Đó mới là trang sức thực thụ của hạng nữ nhi;”
“Chớ chẳng phải bằng tóc bện xảo kỳ hay châu báu điểm trang,
Nào ngọc trai, nào vàng ròng, hay những thức lụa là đắt đỏ.”
Nhưng thây kệ kinh văn hay những lời chú giải của lão,
Tôi chẳng mảy may, dẫu chỉ bằng muỗi mắt!
Lão lại còn phán tôi chẳng khác chi loài mèo;
Bởi hễ kẻ nào đem xém trụi bộ lông mèo,
Thì con mèo mới chịu ngoan ngoãn nằm yên xó bếp;
Còn nếu bộ lông nó mà mượt mà, óng ả,
Thì nó chẳng thèm ở trong nhà nửa ngày,
Mà lẻn đi ngay khi trời chưa hửng sáng,
Cốt để phô thân và nheo nhéo gào đực.
Ý lão muốn bảo: hễ tôi mà ăn diện rực rỡ, đồ quân bỉ lậu kia,
Thì tôi sẽ chạy tót ra ngoài để khoe khoang áo quần cho thiên hạ!
Lão già lẩn thẩn kia, rình rập săm soi tôi ích gì?
Dẫu lão có khẩn cầu Argus với trăm con mắt hiển hiện,
Đến làm kẻ hộ vệ canh chừng tôi sát nút,
Thì thề có đức tin, lão chẳng thể cầm chân tôi trừ phi tôi tự nguyện;
Tôi vẫn thừa sức dắt mũi lão, thề có trời xanh chứng giám!
Lão lại còn rêu rao rằng có ba điều nọ,
Khiến cả mặt đất này phải rúng động kinh hồn,
Và đến điều thứ tư thì chẳng ai chịu nổi.
Ôi thưa đức ông bỉ lậu, nguyện Chúa rút ngắn đời lão đi!
Thế mà lão cứ thuyết giáo mãi rằng hạng vợ dữ dằn,
Chính là một trong những đại họa kinh khiếp.
Chẳng lẽ trên đời không còn cách nào khác để ví von,
Hay chẳng còn dụ ngôn nào cho lão mượn lời,
Mà cứ phải lôi phận vợ mọn này ra sao?
Lão còn ví von tình yêu đàn bà với địa ngục [3],
Với mảnh đất cằn khô, nơi nước chẳng kết giọt;
Lão cũng ví nó như ngọn lửa hoang dại khôn cùng;
Càng cháy bùng lên, lại càng khao khát cháy,
Để thiêu sạch sanh mọi thứ ở trên đường.
Lão bảo rằng, hệt như loài sâu mọt đục khoét thân cây,
Người vợ cũng hủy hoại chồng mình theo cách thức ấy;
Đó là điều kẻ vướng xiềng xích vợ con đều thấu hiểu.
Thưa rằng đúng những gì chư vị vừa nghe đó,
Tôi cứ khăng khăng đổ vấy cho mấy lão chồng già,
Rằng chính họ đã thốt ra những lời ấy trong cơn túy lúy;
Tất thảy đều là đặt điều, nhưng tôi đã kéo cả gã Janekin,
Cùng đứa cháu gái vào làm chứng cho lời mình.
Lạy Chúa! Tôi đã đày đọa họ trong đau khổ và ưu phiền,
Dẫu họ hoàn toàn vô tội, thề có nỗi khổ nạn của Ngài!
Bởi tôi có thể vừa cắn vừa hí vang như một con ngựa đích thực.
Tôi có thể than vãn ngay cả khi mình là kẻ có lỗi,
Nếu không, có lẽ tôi đã bị họ vùi dập tự đời nào.
Ai đến cối xay trước người đó được nghiền trước;
Tôi ra đòn mắng nhiếc trước, thế là cuộc chiến này xong xuôi.
Chúng lại còn hí hửng vì được thanh minh nhanh chóng,
Cho những tội lỗi mà cả đời chưa từng phạm phải mảy may.
Tôi vu khống tội lăng nhăng với đám gái tơ,
Ngay cả khi chúng bệnh tật đứng còn không vững.
Thế mà tôi vẫn biết cách mê hoặc lòng người, bởi lão
Cứ đinh ninh rằng tôi dành cho lão bao thâm tình!
Tôi thề thốt rằng mọi chuyến lẻn ra ngoài trong đêm tối
Chỉ là để rình rập đám gái tơ mà lão đang tòm tem;
Dưới cái lốt ấy, tôi đã tận hưởng biết bao niềm khoái lạc.
Bởi lẽ, mọi sự tinh khôn ấy vốn đã nằm sẵn trong bản tính chúng tôi;
Lừa lọc, khóc lóc và thêu thùa là ba thứ mà Chúa đã ban
Cho phận nữ nhi như một thiên tư, chừng nào họ còn sống trên đời.
Và thế là tôi có thể tự phụ một điều rằng:
Đến cuối cùng, tôi luôn là kẻ thắng thế trên mọi phương diện,
Dù bằng mưu mẹo, bằng sức mạnh, hay bằng bất cứ thủ đoạn nào,
Chẳng hạn như việc không ngừng cằn nhằn hay oán thán.
Nhất là khi ở trên giường, chúng mới thật thảm hại sao:
Ở đó tôi sẽ mắng nhiếc và chẳng ban cho chúng chút khoái lạc nào;
Tôi sẽ chẳng chịu nằm yên trên giường thêm một khắc,
Nếu tôi cảm thấy cánh tay lão choàng qua người mình,
Cho đến khi lão chịu nộp tiền chuộc cho tôi;
Lúc ấy tôi mới để lão thực hiện cái trò khờ khạo.
Thế nên, tôi kể câu chuyện này cho mọi nam nhân được rõ,
Ai kiếm chác được thì cứ việc, bởi mọi thứ đều có giá;
Chẳng ai có thể nhử chim ưng bằng một bàn tay không.
Vì lợi lộc, tôi có thể cắn răng chịu đựng mọi dục vọng của lão,
Và giả như mình cũng đang thèm khát lắm thay;
Dù thề có Chúa, tôi chẳng đời nào ưa nổi cái thứ thịt nhão ấy.
Chính điều đó khiến tôi luôn tìm cớ mắng mỏ,
Bởi dẫu cho Đức Giáo hoàng có ngồi ngay bên cạnh,
Tôi cũng chẳng thèm nể mặt ngay tại bàn ăn nhà mình,
Vì thề có lòng thành, tôi luôn đáp trả sòng phẳng từng lời một.
Nguyện xin Chúa tối cao toàn năng chứng giám cho tôi,
Dẫu ngay lúc này tôi có phải lập di chúc để lìa đời,
Thì tôi cũng chẳng nợ chúng một lời mắng nào chưa trả hết.
Tôi đã dùng trí khôn để sắp đặt mọi chuyện
Khiến chúng buộc phải đầu hàng, coi đó là giải pháp tốt,
Bằng không thì chẳng đời nào chúng được yên thân;
Bởi dẫu lão có gầm rống như con sư tử cuồng nộ,
Thì lão vẫn sẽ thất bại trong việc đạt được mục đích của mình.
Rồi tôi sẽ thỏ thẻ: “Này chồng yêu dấu, nhìn xem
Willy [4], chú cừu của chúng ta, mới hiền lành làm sao!
Lại đây nào phu quân, để em hôn lên má chàng một cái!”
Lão cũng nên học cách nhẫn nại và nhu mì như thế,
Và giữ cho mình một tâm tính dịu ngọt
Bởi lão vẫn thường rao giảng về sự nhẫn nại của Thánh Job cơ mà.
Hãy cứ chịu đựng mãi đi, vì lão giảng giải hay đến thế;
Bằng không, chắc chắn chúng tôi sẽ dạy cho lão biết rằng
Có được một người vợ yên ổn là điều tốt đẹp dường nào.
Không nghi ngờ gì, một trong hai ta phải có kẻ cúi đầu,
Và vì nam nhân vốn dĩ có lý trí sáng suốt hơn
Phận nữ nhi, nên lão chính là người phải cam chịu.
Cớ gì lão cứ phải cằn nhằn và rên rỉ mãi như thế?
Có phải vì lão muốn giữ khư khư của quý cho riêng mình?
Ô kìa, cứ lấy hết đi! Xem này, lấy cho bằng sạch nhé!
Thề có Thánh Peter! Tôi sẽ rủa lão nếu lão không yêu nó thiết tha;
Bởi nếu tôi mà đem bán cái món quà xinh xẻo [5] này,
Thì tôi đã có thể diện đồ lượt là, tươi tắn như một đóa hồng;
Nhưng tôi sẽ chỉ dành riêng nó cho khẩu vị của lão mà thôi.
Thề có Chúa, lão thật đáng trách! Thật lòng tôi phải nói!
Đó là những ngón nghề mà chúng tôi thi triển.
Nay tôi xin luận về người chồng thứ tư của mình.
Gã chồng thứ tư ấy là một kẻ phong lưu -
Tức là, gã có riêng cho mình một ả nhân tình -
Còn tôi lúc ấy đương độ xuân thì, rạo rực khao khát,
Ngang bướng, can trường và hân hoan tựa chim khách.
Tôi có thể nhảy múa theo tiếng đàn cầm réo rắt,
Và cất giọng hót tựa họa mi, thề có Chúa chứng giám,
Mỗi khi đã nhắp một ngụm rượu vang ngọt lịm!
Lão Metelius, cái gã thô lậu, đồ con lợn bẩn thỉu,
Kẻ đã dùng gậy cướp đi mạng sống của vợ mình
Chỉ vì bà ta uống rượu; nếu tôi mà là vợ lão,
Thì lão chẳng đời nào dọa nổi tôi khỏi chén nồng!
Bởi sau khi say rượu, tôi chỉ còn biết nghĩ đến Nữ thần Tình ái,
Vì chắc chắn như thể hơi lạnh sinh ra mưa đá,
Một cái miệng hảo ngọt [6] tất yếu dẫn tới một cái đuôi lẳng lơ.
Một phụ nữ túy lúy thì chẳng còn sức mà phòng thủ -
Đám đàn ông dâm dật vốn đã thừa kinh nghiệm chuyện này.
Nhưng - lạy Chúa Kitô! - mỗi khi tôi nhớ lại
Thuở xuân thì cùng những ngày hân hoan,
Lòng tôi lại rạo rực tận sâu thẳm tâm can.
Cho đến tận ngày nay, lòng tôi vẫn thấy an ủi bồi hồi
Rằng tôi đã sống trọn vẹn thế giới của mình trong thời đại của tôi.
Nhưng tuổi già, ôi chao, thứ thuốc độc gây héo mòn mọi thứ,
Đã cướp mất cả nhan sắc lẫn nhựa sống sinh sôi.
Thôi thì kệ. Vĩnh biệt nhé! Cho quỷ tha ma bắt đi!
Tinh hoa đã cạn; chẳng còn gì nói;
Giờ tôi chỉ còn cám bã để đem bán, theo cách tốt nhất tôi có thể;
Nhưng tôi vẫn sẽ gắng gượng để giữ lấy niềm vui.
Bây giờ tôi xin kể tiếp về người chồng thứ tư.
Tôi nói thật, lòng tôi căm phẫn khôn cùng
Khi thấy gã tìm được khoái lạc bên bất cứ ả nào khác.
Nhưng gã đã bị quả báo, thề có Chúa và Thánh Joce!
Tôi đã đẽo cho gã một cây thập tự từ chính khúc gỗ gã mang về [7];
Chẳng phải bằng thân xác tôi, theo cách nhơ nhuốc nào đâu,
Mà chắc chắn rằng, tôi đã lả lướt với thiên hạ đến mức
Khiến gã phải tự rán trong chính mỡ mình [8]
Vì phẫn nộ, và vì một nỗi ghen tuông tột độ.
Thề có Chúa, ngay trên dương thế, tôi chính là Nhân Gian của gã,
Bởi thế tôi hy vọng linh hồn gã giờ đã được hưởng vinh hiển trên trời.
Vì Chúa biết, gã thường xuyên phải ngồi đó mà than vãn,
Khi chiếc giày gã mang cọ vào chân đau đớn vô cùng [9].
Chẳng một ai, ngoại trừ Chúa và gã, có thể thấu rõ,
Rằng tôi đã hành hạ, xoay gã khổ sở đến nhường nào.
Gã lìa đời đúng lúc tôi trở về từ vùng Jerusalem,
Và giờ nằm yên dưới cây thập tự nơi điện thờ,
Dẫu ngôi mộ của gã chẳng được chạm trổ tinh xảo
Như lăng tẩm của hoàng đế Darius lừng lẫy năm nào,
Mà bậc thầy Appelles đã dày công kiến tạo;
Thật hoang phí nếu chôn cất quá xa hoa.
Thôi cứ để gã yên nghỉ; nguyện Chúa ban cho linh hồn gã sự thảnh thơi!
Giờ gã đã nằm gọn trong nấm mồ, yên vị trong quan quách rồi.
Giờ tôi xin kể về người chồng thứ năm của mình.
Cầu Chúa cho linh hồn gã đừng bao giờ sa xuống địa ngục!
Ấy thế mà với tôi, gã lại là kẻ bỉ lậu, tàn nhẫn nhất;
Nỗi đau ấy còn cảm nhận rõ trên từng dẻ sườn,
Và sẽ theo tôi cho đến tận ngày nhắm mắt xuôi tay.
Nhưng ở trên giường, gã mới tươi trẻ và nồng nhiệt làm sao,
Lại thêm cái tài khéo léo nịnh nọt, dỗ dành,
Mỗi khi gã muốn chiếm được “món quà xinh xẻo” của tôi;
Thế nên, dẫu gã có đánh tôi đau đớn đến tận xương tủy,
Gã vẫn có thể chiếm lại tình yêu của tôi ngay tức khắc.
Tôi đồ rằng mình yêu gã nhất, chính bởi vì gã
Luôn tỏ ra hờ hững, khó gần trong chuyện ái ân.
Phận nữ nhi chúng tôi, nếu tôi không nói dối,
Thường có một ảo tưởng kỳ quặc trong chuyện này:
Hễ thứ gì chúng tôi không dễ dàng có được,
Thì chúng tôi lại khao khát và gào thét đòi cho bằng được cả ngày.
Càng bị cấm đoán, chúng tôi càng thèm muốn;
Nhưng hễ ai vồ vập quá thì chúng tôi bỏ chạy ngay.
Chúng tôi phô hàng của mình với vẻ kiêu kỳ;
Bởi ở phiên chợ, càng đông kẻ tranh mua thì hàng càng lên giá,
Còn thứ gì quá dư dật thì chẳng ai thèm coi trọng:
Người đàn bà khôn ngoan hẳn thấu hiểu điều này.
Người chồng thứ năm của tôi - nguyện Chúa phù hộ cho linh hồn gã! -
Kẻ tôi lấy vì tình chứ chẳng màng chút của cải,
Gã từng là một học giả tại Oxford hào hoa,
Nhưng đã bỏ học nửa chừng, rồi về quê trọ học
Nơi nhà người bạn thân của tôi trong vùng;
Cầu Chúa cho bà ấy siêu thoát! Bà ấy cũng tên Alisoun.
Bà thấu rõ lòng tôi, và cả những chuyện thầm kín,
Còn rõ hơn cả vị linh mục giáo xứ, thề có trời xanh!
Có chuyện gì tôi cũng đem trút hết cho bà.
Bởi chỉ cần chồng tôi có lỡ đi tiểu lên tường,
Hay làm điều gì đó khuất tất đến mức mất mạng,
Thì tôi cũng sẽ đem kể sạch cho bà, và cho một bà vợ đức hạnh khác,
Cùng đứa cháu gái mà tôi hằng yêu quý,
Tôi chẳng nề hà mà xổ ra mọi chuyện kín kẽ nhất.
Và tôi đã thường xuyên làm thế, có Chúa chứng giám,
Khiến mặt gã thường xuyên đỏ gay và nóng bừng
Vì xấu hổ tột cùng, và gã tự trách bản thân mình
Vì đã trót tin cẩn kể những điều hệ trọng ấy.
Chuyện là, vào một mùa xuân nọ -
Vì tôi thường xuyên ghé thăm bà bạn thân của mình,
Bản tính tôi vốn ưa thích sự hân hoan, diện mạo rạng ngời,
Và thích tản bộ dạo chơi suốt tháng Ba, tháng Tư, tháng Năm,
Từ nhà này sang nhà khác để nghe ngóng đủ thứ chuyện trên đời -
Thế là gã học giả Jankin, cùng bà bạn Alys của tôi,
Và cả tôi, đã cùng nhau dạo chơi đồng nội.
Chồng tôi lúc ấy đang ở tận London suốt cả mùa Chay;
Nên tôi càng có thời cơ mà vui thú tiêu dao,
Để được ngắm nhìn, và cũng để được phô diễn
Trước đám nam nhân đa tình. Làm sao tôi biết được vận may
Hay cái duyên của mình định sẵn phương nào?
Thế nên tôi chăm chỉ thực hiện những cuộc viếng thăm
Đến các buổi lễ canh thức và các đám rước linh đình,
Đến cả những buổi thuyết giáo và những cuộc hành hương,
Xem diễn kịch phép mầu rồi dự cả đám cưới,
Tôi xúng xính bộ xiêm y đỏ tươi rực rỡ.
Thề có mạng sống mình, chẳng có loài sâu mọt, nhện hay bọ vắt nào
Thèm đụng đến hay gặm nhấm đống quần áo của tôi lấy một chút;
Biết vì sao không? Vì chúng được tôi đem ra diện suốt ngày!
Nay tôi xin kể tiếp những gì đã xảy đến với mình.
Như tôi đã nói, chúng tôi cùng dạo bước giữa đồng nội,
Cho đến khi cuộc lả lướt, tình tứ giữa đôi bên,
Tức gã học giả và tôi, đã nồng đượm đến mức vì sự phòng xa,
Tôi ngỏ lời cùng gã và bảo rằng:
Nếu mai này tôi thành góa phụ, gã nhất định phải cưới tôi.
Bởi chắc chắn rằng - tôi nói đây chẳng phải để khoe khoang -
Tôi chưa bao giờ sống mà thiếu những dự tính
Cho một cuộc hôn nhân mới, hay cho bất cứ chuyện gì khác.
Tôi coi trái tim của một con chuột chẳng đáng giá cọng hành,
Nếu chỉ biết duy nhất một cái hang mà lẩn trốn;
Bởi hễ cái hang đó bị lấp, nó coi như tàn đời.
Tôi đổ vấy cho gã rằng gã đã dùng bùa mê thuốc lú với tôi -
Chính bà mẹ đã truyền dạy cho tôi ngón nghề xảo quyệt ấy -
Tôi bảo rằng mình đã chiêm bao thấy gã suốt đêm dài,
Rằng gã định hạ sát tôi khi tôi đang nằm ngửa trên giường,
Và cả tấm nệm của tôi thì nhem nhuốc máu tươi;
“Nhưng tôi vẫn hy vọng rằng gã sẽ mang lại điều tốt lành cho tôi,
Bởi máu chính là điềm báo của vàng ròng, như tôi đã được dạy.”
Tất thảy là dối trá; tôi chẳng mơ mộng gì,
Tôi chỉ vâng theo những lời dạy của mẹ,
Trong chuyện này cũng như trong chuyện khác.
Nhưng giờ đây, thưa ngài, để tôi xem mình định nói gì tiếp nào.
A ha! Lạy Chúa, tôi nhớ ra mạch truyện của mình rồi!
Khi xác gã chồng thứ tư của tôi nằm trên linh cữu,
Tôi cũng khóc lóc tỉ tê, mặt mày rầu rĩ lắm,
Chẳng qua phận làm vợ thì phải thế, vì đó là lệ thường,
Tôi dùng khăn trùm đầu che kín cả khuôn mặt,
Nhưng vì đã thủ sẵn gã nhân tình,
Nên cũng chẳng rơi lệ mấy, tôi thề.
Sáng hôm ấy, xác chồng tôi được khiêng vào giáo đường,
Giữa đám láng giềng đang sụt sùi than khóc;
Và Jankin, gã học giả của chúng ta, cũng có mặt trong đoàn.
Thề có Chúa chứng giám, khi nhìn gã bước đi
Sau linh cữu, tôi thấy gã có một cặp bắp chân,
Cùng đôi bàn chân thật rắn rỏi và thanh tân,
Đến mức tôi dâng trọn cả tim mình cho gã.
Gã lúc ấy, tôi đồ rằng, mới độ tuổi đôi mươi,
Còn tôi đã tứ tuần, nếu phải nói ra sự thật;
Nhưng tôi vốn luôn giữ cái răng ngựa tơ [10] thèm khát.
Răng tôi thưa, nhưng nom lại rất hợp;
Tôi mang trên mình dấu ấn của Nữ thần Tình ái.
Có Chúa làm chứng, tôi là một người đầy rạo rực,
Lại xinh đẹp, giàu sang, tươi trẻ và đắc ý,
Và thật vậy, như những gã chồng trước vẫn thường bảo tôi,
Rằng tôi sở hữu âm hộ tuyệt diệu nhất trần đời.
Bởi chắc chắn rằng, tôi hoàn toàn thuộc về Nữ thần Kim tinh
Trong cảm xúc, và trái tim tôi thuộc về Thần Chiến tranh.
Thần Kim tinh cho tôi dục vọng, sự đa tình lẳng lơ,
Còn Thần Hỏa tinh ban cho tôi sự cứng cỏi, bạo dạn;
Cung mọc của tôi là Kim Ngưu, có Hỏa tinh ngự trị [11].
Ôi chao, ôi chao! Sao tình yêu lại bị coi là tội lỗi!
Tôi vốn luôn thuận theo thiên hướng của bản thân
Nhờ vào năng quyền của tinh tú chiếu mệnh;
Điều đó khiến tôi chẳng thể nào khước từ việc mở ra
Mật phòng của Kim tinh [12] cho bất cứ gã trai nào tử tế.
Tôi vẫn còn mang vết sẹo của Thần Hỏa trên mặt,
Và ở cả một nơi thầm kín khác nữa.
Nguyện xin Chúa tối cao cứu rỗi linh hồn tôi,
Tôi chưa bao giờ biết yêu một cách chừng mực,
Mà luôn chạy theo cơn si cuồng của dục năng,
Dẫu gã đó thấp hay cao, tóc đen hay tóc vàng;
Tôi chẳng bận tâm, miễn là gã làm tôi thấy thỏa nguyện,
Dẫu gã có nghèo hèn hay thuộc phẩm trật nào đi nữa.
Tôi còn biết nói gì đây, ngoại trừ việc khi tháng vừa tàn,
Gã học giả hào hoa Jankin - mới lịch thiệp làm sao -
Đã rước tôi về dinh bằng một lễ cưới long trọng;
Và tôi đã trao sạch cho gã mọi đất đai, điền sản
Mà mình từng dày công gom góp được bấy lâu.
Nhưng rồi sau đó, tôi đã phải hối hận khôn cùng;
Gã chẳng chịu chiều theo bất cứ ước muốn nào tôi có.
Thề có Chúa, có lần gã đã vả tôi một cú trời giáng bên tai,
Chỉ vì tôi đã giật phăng một trang trong cuốn sách của gã [13],
Cú giáng ấy khiến màng nhĩ tôi điếc đặc.
Tôi vốn ngang ngược như một con sư tử cái,
Và cái lưỡi thì đích thị là một kẻ liến thoắng không ngơi,
Tôi vẫn cứ thích đi dạo đó đây, hệt như thuở trước,
Đi từ nhà này sang nhà khác, mặc cho gã thề thốt cấm ngăn;
Thế là gã bắt đầu lôi các bài thuyết giáo ra tụng niệm,
Và dạy tôi bằng những điển tích từ lịch sử La Mã cổ;
Rằng lão Simplicius Gallus nọ đã bỏ vợ ra sao,
Và ruồng rẫy bà ta cho đến tận cuối đời,
Chỉ bởi một lần lão bắt gặp bà ta để đầu trần [14]
Đứng ngấp nghé nhìn ra ngoài cửa mà thôi.
Gã còn nêu đích danh một gã người La Mã khác,
Kẻ đã ruồng bỏ vợ chỉ vì bà ta dám đi xem
Một hội hè náo nhiệt mà không xin phép lão trước.
Và rồi gã lại lật tìm trong cuốn Kinh Thánh của mình,
Trích ra đúng cái câu châm ngôn từ sách Huấn Ca,
Nơi vị hiền triết ra lệnh và nghiêm cấm ngặt nghèo:
Đàn ông chớ có để mặc vợ mình đi lang ngoài đường.
Rồi gã sẽ dõng dạc tuyên bố thế này, chẳng chút nghi ngờ:
“Kẻ nào dựng nhà mình bằng cành liễu,
Kẻ nào thúc con ngựa mù băng qua những cánh đồng hoang,
Và kẻ nào để mặc vợ mình đi bái lạy các thánh nhân,
Thì kẻ đó thật đáng đời bị treo cổ trên giá treo xác!”
Nhưng tất thảy đều vô ích, tôi chẳng thèm chấp một mớ hạt xoan
Ba cái thứ châm ngôn hay ba cái lời giáo điều xưa cũ của gã,
Tôi cũng chẳng đời nào để gã sửa trị cái tính nết của mình.
Tôi căm ghét kẻ nào cứ vạch ra những thói hư tật xấu của tôi,
Và thề có Chúa, nhiều chị em chúng tôi cũng đều nghĩ thế thôi.
Điều đó khiến gã hoàn toàn phát rồ lên với tôi;
Nhưng tôi thì chẳng đời nào chịu nhún nhường gã trong bất cứ chuyện gì.
Nay tôi xin thề với chư vị bằng sự thật, nhân danh Thánh Thomas,
Vì sao tôi đã xé một trang trong cuốn sách của gã,
Khiến gã rồ người mà vả tôi một cú điếc đặc.
Gã có một cuốn sách mà đêm cũng như ngày,
Gã đều say sưa đọc để mua vui;
Gã gọi nó là Valerie và Theofraste,
Và mỗi lần đọc, gã lại cười khoái trá đến nực cười.
Lại còn có những ghi chép của một gã học giả thành Rome,
Một vị hồng y tên là Thánh Jerome,
Kẻ đã viết sách để chống lại Jovinian;
Trong đó còn có cả Tertullian,
Crisippus, Trotula và cả Heloise,
Vị nữ tu viện trưởng ở chẳng xa Paris là bao,
Rồi cả những câu Châm ngôn của Solomon,
Nghệ thuật Yêu đương của Ovid, cùng hằng hà sa số cuốn khác;
Tất thảy chúng được đóng chung vào một tập dày cộp.
Thói quen của gã, bất kể ngày hay đêm,
Mỗi khi có thời gian rảnh rỗi và thảnh thơi
Khỏi những công việc trần thế thường nhật,
Là lại lôi cuốn sách về những mụ vợ ác độc này ra đọc.
Gã biết về những truyền thuyết và cuộc đời của họ
Còn nhiều hơn thảy những người vợ tốt trong Kinh Thánh.
Bởi chư vị hãy tin tôi đi, đó là một điều bất khả
Rằng có gã học giả nào lại chịu nói tốt về phụ nữ bao giờ,
Trừ phi đó là cuộc đời của những vị thánh nữ anh minh,
Còn ngoài ra, chẳng có người phụ nữ nào được chúng dung tha sất.
“Ai là kẻ đã vẽ hình con sư tử?” [15] - hãy trả lời tôi xem nào!
Thề có Chúa, nếu phụ nữ mà là người viết nên lịch sử,
Như cách đám học giả vẫn làm trong thư phòng của chúng,
Thì họ đã viết về sự đê tiện của đàn ông nhiều hơn gấp bội
Những gì mà dòng giống Adam có thể gột rửa cho sạch.
Con cái của Thần Thủy tinh và Thần Kim tinh
Luôn đối chọi nhau trong mọi hành động của mình;
Thần Thủy tinh ưa chuộng trí tuệ và khoa học,
Còn Thần Kim tinh lại yêu sự phóng túng và hưởng lạc.
Và bởi bản tính khác biệt thiên bẩm của họ,
Khi kẻ này hưng thịnh thì kẻ kia tất phải suy vong.
Thế nên, Chúa mới biết, Thần Thủy tinh thật cô độc
Tại cung Song Ngư, nơi mà Thần Kim tinh đang ngự trị rực rỡ,
Và Thần Kim tinh sẽ lụi tàn nơi Thần Thủy tinh thăng hoa.
Bởi vậy, chẳng người phụ nữ nào được gã học giả nào ngợi ca.
Đám học giả ấy, khi đã già nua và không làm nổi
Chút việc phòng the nào cho đáng giá một cái giày cũ,
Thì chúng liền ngồi xuống và viết trong cơn lú lẫn
Rằng phụ nữ chẳng bao giờ biết giữ trọn đạo nghĩa phu thê!
Nhưng nay hãy quay lại mục đích chính, vì sao tôi lại kể với chư vị,
Rằng tôi đã bị đánh nhừ tử chỉ vì một cuốn sách, thề có Chúa!
Vào một đêm nọ, Jankin - gã chủ nhà của chúng tôi,
Đang ngồi bên bếp lửa và say sưa đọc cuốn sách của gã,
Gã đọc về Eva trước tiên, người mà vì sự độc ác của bà
Đã khiến cả nhân loại phải rơi vào cảnh khốn cùng,
Và vì lẽ đó mà chính Chúa Jesus Christ đã bị đóng đinh,
Để dùng dòng máu từ trái tim Ngài mà cứu chuộc chúng ta.
Kìa xem, ở đây chư vị có thể thấy rõ ràng về đàn bà,
Rằng đàn bà chính là mầm mống hủy diệt của cả nhân loại.
Rồi gã đọc cho tôi nghe chuyện Sampson đã mất đi mái tóc thế nào:
Khi gã đang say ngủ, ả nhân tình đã dùng kéo cắt phăng chúng đi;
Chính bởi sự phản trắc ấy mà gã đã mất đi đôi mắt của mình.
Rồi gã lại đọc cho tôi nghe, nếu tôi không nói dối,
Về chàng Hercules và nàng Dianyre của chàng,
Người đã khiến chàng phải tự thiêu mình trong ngọn lửa rực trời.
Gã chẳng hề quên lấy một li những ưu phiền và khổ nhục
Mà Socrates đã phải nếm trải cùng hai mụ vợ của ông;
Chuyện bà Xantippa đã hắt cả bô nước tiểu lên đầu chồng mình.
Người đàn ông tội nghiệp ấy chỉ biết ngồi lặng thinh như chết;
Ông lau sạch đầu mình, chẳng dám thốt thêm một lời,
Ngoại trừ câu: “Sấm chớp vừa dứt, ắt mưa sa tới ngay thôi!”
Gã kể về Pasipha, hoàng hậu đảo Crete,
Với gã, câu chuyện về sự đê tiện ấy mới ngọt ngào làm sao;
Ôi gớm ghiếc thay! Đừng nói thêm nữa - thật kinh tởm -
Về những ham muốn quái gở và khoái lạc kinh hoàng của mụ ta.
Về nàng Clytemnestra, kẻ vì thói dâm dật của mình,
Đã tâm xà khẩu phật mà ra tay sát hại chồng;
Gã đọc những dòng ấy với tất tật lòng thành kính và sùng mộ.
Gã còn kể cho tôi nghe về căn nguyên vì lẽ gì
Mà Amphiorax phải bỏ mạng nơi thành Thebes.
Chồng tôi nắm rõ cái truyền thuyết về mụ vợ của ông ta,
Ả Eriphyle, kẻ chỉ vì một chiếc trâm cài bằng vàng
Mà đã lén lút khai báo với quân đội Hy Lạp
Về nơi chồng mình đang ẩn náu kín đáo;
Khiến ông ta phải nhận một kết cục bi thảm tại thành Thebes.
Gã kể cho tôi nghe về Livia, cả về Lucie:
Cả hai người đều đã khiến chồng mình phải bỏ mạng,
Kẻ thì vì tình yêu, kẻ bởi thù hận.
Livia đã ra tay với chồng mình vào một buổi đêm muộn,
Bằng thuốc độc liều cao, bởi mụ coi ông ta là kẻ thù;
Còn Lucie, mụ đàn bà dâm dật, lại yêu chồng mình đến độ
Muốn ông ta lúc nào cũng phải tơ tưởng đến mụ,
Nên mụ đã chuốc cho ông ta thứ linh tửu tình yêu
Khiến ông ta lăn ra chết trước khi trời kịp sáng;
Và cứ thế, những người làm chồng lúc nào cũng phải nếm mùi sầu khổ.
Rồi gã kể tôi nghe về một gã tên Latumius,
Kẻ đã than vãn với người bằng hữu Arrius của mình
Rằng trong khu vườn nhà lão có mọc một cái cây,
Mà lão kể rằng cả ba mụ vợ của lão
Đều đã treo cổ tự tử trên đó vì lòng dạ hiểm độc của chúng.
“Ôi người anh em thân mến,” Arrius bèn thốt lên,
“Hãy cho tôi xin một nhánh của cái cây phước hạnh ấy,
Để tôi đem về trồng ngay trong khu vườn của nhà mình!”
Gã đọc tiếp về những vụ án gần đây của những mụ vợ:
Rằng có những kẻ đã hạ sát chồng ngay trên giường,
Rồi thản nhiên để nhân tình mây mưa suốt cả đêm dài,
Trong khi xác chồng vẫn nằm sõng soài trên sàn.
Có những kẻ lại đóng đinh vào đại não của chồng,
Khi họ đang say giấc và cứ thế mà kết liễu.
Có những kẻ lại lén bỏ thuốc độc vào chén rượu.
Gã thốt ra những lời độc địa hơn cả những gì lòng người có thể hình dung,
Và đi kèm với đó, gã thông thuộc nhiều câu châm ngôn
Còn hơn cả cỏ cây hoa lá mọc trên đời.
“Thà rằng,” gã nói,”ngươi chọn nơi trú ngụ
Cùng với loài sư tử hay loài rồng hung dữ,
Còn hơn là sống với một mụ đàn bà hay chì chiết.
“Thà rằng,” gã nói, “ngươi thui thủi trên mái nhà cao,
Còn hơn ở dưới nhà cùng một mụ vợ nộ khí xung thiên;
Đàn bà vốn dĩ độc ác và ngang ngược,
Chúng luôn căm ghét những gì chồng mình yêu quý.”
Gã bảo: “Đàn bà vứt bỏ cả liêm sỉ của mình,
Ngay khi ả trút bỏ lớp xiêm y”; và hơn thế nữa,
“Một người đàn bà đẹp, nếu không giữ tiết hạnh,
Thì chẳng khác nào chiếc nhẫn vàng xỏ nơi mũi lợn.”
Ai có thể tin nổi, hay ai có thể tưởng tượng ra,
Nỗi sầu khổ và uất ức bủa vây tôi lúc ấy?
Và khi tôi thấy gã chẳng định bao giờ dừng lại,
Cứ mải mê đọc cái cuốn sách đáng nguyền rủa ấy suốt đêm thâu,
Tôi bèn bất thình lình giật phăng ba trang giấy
Khỏi cuốn sách ngay khi gã đang đọc; và đồng thời
Tôi vung nắm đấm giáng thẳng vào má gã một cú trời cho,
Khiến gã nhào ngửa ra sau, rơi tõm vào bếp lửa nhà tôi.
Gã lồng lộn chồm dậy như một con sư tử điên,
Rồi gã dùng nắm tay đấm thẳng vào đầu tôi một cú cực mạnh,
Khiến tôi nằm sõng soài trên sàn nhà như một kẻ đã chết.
Và khi gã thấy tôi nằm bất động không động tĩnh,
Gã kinh hãi tột độ và định bụng bỏ chạy thoát thân,
Cho đến khi tôi cuối cùng cũng tỉnh lại từ cơn mê sảng.
“Ôi! Ngươi đã giết ta rồi sao, đồ gian tặc kia?” tôi thốt lên,
“Và vì đất đai mà ngươi nỡ lòng mưu sát ta sao?
Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ta vẫn muốn trao cho ngươi một nụ hôn.”
Gã bèn tiến lại, quỳ gối xuống nhẹ nhàng,
Và thốt lên: “Hỡi Alisoun, người chị thân yêu của ta,
Thề có Chúa chứng giám, ta sẽ chẳng bao giờ đánh nàng nữa!
Những gì ta đã làm, lỗi lầm ấy là tại nàng (ép ta).
Hãy tha thứ cho ta, ta khẩn cầu nàng điều đó!'
Thế nhưng tôi vẫn bồi thêm cho gã một cú vả vào má,
Và nói: “Đồ gian tặc, để trả cho đủ nợ;
Giờ thì ta chết đây, ta chẳng thể thốt thêm lời nào nữa.”
Nhưng sau cùng, qua bao nỗi muộn phiền và cay đắng,
Hai chúng tôi đi đến một thỏa ước chung.
Gã đã trao trọn dây cương vào đôi tay tôi,
Trao cho tôi quyền cai quản nhà cửa và đất đai,
Kiểm soát cả cái lưỡi và cả bàn tay của gã;
Và tôi bắt gã phải đốt phăng cuốn sách đó ngay tức khắc.
Và khi tôi đã giành được về cho bản thân mình,
Bằng sự áp đảo, toàn bộ quyền tự trị tối cao,
Gã bèn nói: “Hỡi người vợ hiền thục của ta,
Hãy cứ làm bất cứ điều gì nàng thích suốt quãng đời còn lại;
Hãy giữ gìn danh dự cho nàng, và cả phẩm giá của ta nữa” -
Kể từ ngày ấy chúng tôi chẳng bao giờ tranh cãi.
Có Chúa giúp sức, tôi đã đối đãi gã tử tế
Như bất cứ người vợ nào từ Đan Mạch cho tới tận Ấn Độ,
Và cũng mực thước thủy chung, gã đối với tôi cũng vậy.
Tôi cầu xin Thiên Chúa, Ngài đang ngự trên tòa uy linh,
Hãy ban phước cho linh hồn gã vì lòng nhân từ cao cả.
Giờ đây tôi xin bắt đầu câu chuyện của mình, nếu chư vị muốn nghe.
Thầy dòng khất thực cười ha hả khi nghe những lời ấy;
“Này phu nhân,” ông nói, “nguyện xin Chúa cho tôi được hưởng phúc lành,
Thật là lời dẫn nhập lê thê cho một câu chuyện!”
Và khi Viên Đòi án nghe thấy tiếng Tu sĩ thốt lên lời ấy,
“Kìa xem,” Viên Đòi án vống, “thề có hai cánh tay của Chúa!
Mấy gã tu sĩ lúc nào cũng thích xía mũi vào chuyện của người khác.
Hỡi những người anh em, hãy xem này, lũ ruồi và đám tu sĩ
Chẳng cái đĩa thức ăn hay cái sự đời nào mà chúng không nhảy bổ vào.
Lảm nhảm cái gì về dẫn nhập với chả dạo đầu [16]?
Gì! Thích nhông nhông hay nước kiệu [17], hay im mồm mà ngồi xuống!
Ông đang làm hỏng cuộc vui của chúng tôi bằng cái thói ấy đấy!”
“Hừ, anh muốn thế à, thưa Viên Đòi án?” gã Tu sĩ đáp;
“Thế thì, thề có đức tin, trước khi cuộc hành trình kết thúc,
Tôi sẽ kể một hoặc hai câu chuyện về lũ Đòi án các người,
Đến mức tất thảy mọi người phải vào mặt ngươi.”
“Cứ thử xem nào, ta nguyền rủa cái bản mặt Tu sĩ nhà ngươi,”
Viên Đòi án quát, “và ta cũng tự nguyền rủa chính mình,
Nếu ta không kể lại hai hay ba câu chuyện về lũ tu sĩ các ngươi,
Trước khi chúng ta kịp đặt chân tới vùng Siitingbourne,
Khiến trái tim ngươi héo hon sầu thảm;
Vì ta biết nhẫn nại nơi ngươi đã cạn kiệt.”
Chủ quán của chúng ta hét lên: “Im lặng! Ngay!”
Rồi nói tiếp: “Hãy để người phụ nữ kể câu chuyện của bà ấy.
Các người hành xử chẳng khác nào đám say rượu.
Nào phu nhân, hãy tiếp tục câu chuyện, thế là tốt nhất.”
“Tôi đã sẵn sàng rồi, thưa ngài,” bà đáp, “tùy ý ngài thôi,
Nếu tôi được sự cho phép của vị Tu sĩ đáng kính lắm đây.”
“Vâng, thưa bà,” ông nói, “xin cứ kể, tôi sẽ lắng nghe.”
The Wife of Bath's Tale
Vào những ngày xa xưa dưới triều đại Vua Arthur,
Mà người dân Anh quốc vẫn hằng tôn kính và ca ngợi,
Khắp dải đất này vốn đầy những phép tiên.
Nàng tiên chúa cùng đám tùy tùng rộn rã bước chân
Thường nhảy múa trên những đồng cỏ xanh mướt;
Đó là niềm tin xưa mà tôi đọc trong sách,
Tôi đang nói tới hàng trăm năm về trước.
Nhưng nay chẳng còn ai thấy bóng dáng đám yêu tinh,
Bởi chính lòng bác ái và những lời kinh kệ
Của đám tu sĩ khất thực và những kẻ thánh thiện
Đang lùng sục mọi dải đất, mọi dòng sông,
Nhiều như bụi li ti trong tia nắng,
Ban phước cho những lâu đài, cung điện, những sảnh đường,
Những thành quách, những ngôi làng, những chuồng ngựa, những kho lương,
Những bến đò, những nông trang - chẳng sót một nơi nào.
Chính vì thế mà nay chẳng còn bóng tiên nương,
Bởi nơi nào xưa kia loài tiên thường dạo bước,
Thì nay gã tu sĩ khất thực đã thống trị mất rồi.
Gã đi tuần vào buổi sáng sớm lẫn lúc ban trưa,
Lầm rầm đọc kinh và những điều thánh đức,
Khi gã rảo bước quanh địa bàn hành nghề.
Phụ nữ có thể an tâm đi lại khắp nơi.
Trong mọi bụi rậm hay dưới mọi tán cây,
Chẳng còn con quỷ dâm [18] nào ngoài gã,
Và gã chẳng làm gì họ, ngoài việc làm họ mất danh tiết.
Chuyện kể rằng dưới thời vua Arthur anh minh ấy,
Trong cung điện có một gã hiệp sĩ trẻ tuổi phong lưu,
Vào một ngày nọ, khi chàng đang cưỡi ngựa đi săn bên dòng sông,
Tình cờ gã bắt gặp, khi chỉ có một mình,
Một thiếu nữ đang tản bộ ngay phía trước.
Và mặc nàng ra sức chống cự hay van xin,
Gã đã dùng bạo lực để cưỡng đoạt trinh tiết nàng;
Tội ác ấy gây nên làn sóng phẫn nộ kinh hoàng,
Người dân kéo đến cửa cung đòi vua Arthur thực thi công lý,
Khiến gã hiệp sĩ bị kết án tử hình.
Theo đúng trình tự luật pháp, gã phải bị chém đầu -
Có lẽ luật lệ thời bấy giờ vốn dĩ nghiêm khắc -
Trừ phi Hoàng hậu cùng những quý bà khác trong triều
Đã cùng nhau khẩn thiết cầu xin Nhà vua rủ lòng khoan dung,
Cho đến khi Ngài ban cho gã cơ hội được sống ngay tại đó,
Và giao phó gã cho Hoàng hậu, tùy ý bà quyết định,
Để bà chọn lựa giữa việc cứu mạng hay kết liễu.
Hoàng hậu tạ ơn đức vua với tất thảy tấm lòng,
Và sau đó, bà cất lời phán truyền với gã hiệp sĩ,
Vào một ngày nọ, khi bà thấy thời cơ đã điểm:
“Ngươi vẫn còn đứng đó,” bà phán, “trong tình cảnh này,
Rằng mạng ngươi vẫn chưa hề được bảo chứng.
Ta sẽ ban cho ngươi sự sống, nếu ngươi có thể thưa ta rõ:
Điều gì là thứ phụ nữ khát khao nhất trên đời?
Hãy cẩn trọng mà giữ xương cổ ngươi khỏi lưỡi rìu sắt!
Và nếu ngươi không thể trả lời ta ngay lập tức,
Ta cho phép ngươi được đi khỏi nơi đây
Trong hạn định một năm và một ngày, để tầm sư học đạo,
Tìm cho ra một câu trả lời thỏa đáng;
Và ta cần một lời cam đoan, trước khi ngươi cất bước,
Rằng ngươi sẽ quay lại nộp mình tại chính nơi đây.”
Sầu não thay cho gã hiệp sĩ, gã thở dài sườn sượt trong ưu phiền;
Nhưng làm sao được! Gã chẳng thể tùy nghi hành sự.
Sau rốt gã quyết định lên đường bôn tẩu,
Và hẹn ngày trở lại khi hạn định một năm vừa mãn,
Với câu trả lời mà Thiên Chúa rủ lòng ban cho gã;
Rồi gã cáo biệt triều đình, cất bước ra đi theo con đường định mệnh.
Gã sục sạo khắp nẻo, gõ cửa mọi dinh cơ,
Nơi gã hy vọng tìm thấy cơ duyên ân điển
Để thấu triệt điều gì là thứ phụ nữ hằng ái mộ nhất;
Thế nhưng, dẫu có đi tới chân trời góc bể nào,
Gã chẳng thể tìm thấy trong sự vụ này
Hai sinh linh cùng đồng tâm nhất trí.
Kẻ bảo phụ nữ yêu nhất là giàu sang,
Người nói danh dự, kẻ nói sự vui vầy,
Kẻ nói gấm vóc, người bảo dục vọng chốn khuê phòng,
Và thường xuyên được làm góa phụ rồi tái giá.
Có người nói rằng lòng chúng tôi được thỏa nguyện nhất
Khi chúng tôi được phỉnh nịnh và chiều chuộng.
Kẻ ấy nói gần trúng sự thực, tôi chẳng dối:
Đàn ông chiếm lòng chúng tôi tốt nhất bằng lời đường mật,
Bằng sự ân cần và cung phụng bủa vây,
Chúng tôi đều sa bẫy, dù sang hay hèn.
Và có kẻ bảo chúng tôi yêu nhất,
Là được tự do hành sự theo sở nguyện,
Chẳng để nam nhân nào khiển trách những thói xấu,
Mà phải bảo chúng tôi thông tuệ, không chút khờ khạo.
Bởi lẽ thật tình, trong thảy hạng chúng tôi,
Nếu có kẻ nào dám gãi đúng chỗ đau,
Chúng tôi ắt sẽ đá lại, vì hắn nói trúng sự thực.
Cứ thử đi, rồi kẻ làm vậy sẽ thấy rõ;
Dẫu cho lòng chúng tôi đê tiện đến nhường nào,
Chúng tôi vẫn muốn được coi là thông tuệ và thanh sạch.
Lại có kẻ bảo rằng chúng tôi lấy làm hân hoan
Khi được coi là người kiên định và kín kẽ,
Luôn giữ trọn một chí hướng, chẳng lay chuyển,
Và chẳng bao giờ tiết lộ những điều nam nhân kể.
Nhưng chuyện ấy chẳng đáng giá cái cán cào.
Thề có Chúa, hạng đàn bà chúng tôi chẳng thể giấu giếm gì;
Hãy nhìn gương Midas, chư vị có muốn nghe chuyện này không?
Ovid, giữa bao điển tích nhỏ,
Kể rằng Midas, dưới làn tóc dài,
Có đôi tai lừa mọc ngay trên đỉnh đầu,
Một khiếm khuyết mà lão che giấu hết mức
Một cách đầy xảo diệu khỏi nhãn quan thiên hạ,
Đến độ ngoại trừ phu nhân, chẳng một ai hay biết.
Lão sủng ái bà nhất, và cũng ký thác lòng tin;
Lão khẩn cầu bà đừng để một sinh linh nào
Được biết về điểm dị dạng của mình.
Vương hậu thề với lão: “Không đời nào”; dù chiếm được cả thế gian này,
Bà không muốn phạm phải sự đê tiện hay tội lỗi ấy,
Khiến phu quân mình mang thanh danh uế tạp;
Bà cũng chẳng muốn kể vì nỗi hổ thẹn của chính mình.
Thế nhưng, bà cứ tưởng như mình sắp chết
Nếu phải giấu giếm cơ mật ấy quá lâu;
Bà thấy nó nung nấu đau đớn nơi lồng ngực
Đến mức tất yếu phải có lời nào đó thoát ra;
Và vì chẳng dám thưa với nam nhân nào,
Bà bèn chạy phắt ra đầm lầy kế bên;
Cho đến khi tới đó, trái tim bà đã rực lửa nung nấu;
Và như con vạc kêu oàm oạp trong bùn lầy,
Bà áp miệng mình xuống tận dòng nước:
“Hỡi làn nước, đừng bội phản ta bằng thanh âm của ngươi,”
Bà nói; “ta chỉ kể cho ngươi thôi chứ chẳng một ai khác:
Phu quân ta có đôi tai lừa dài ngoẵng!
Giờ thì lòng ta đã nhẹ nhõm; giờ thì nó thoát ra rồi.
Chẳng còn nghi ngờ gì, ta chẳng thể giữ kín thêm được nữa.”
Qua đây chư vị thấy đó, dù chúng tôi có nán lại đôi chút,
Thì rồi cũng phải lộ ra thôi; chúng tôi chẳng thể giấu được cơ mật.
Phần còn lại của câu chuyện nếu chư vị muốn nghe,
Hãy tìm đọc Ovid, nơi chư vị có thể thấu tường.
Gã hiệp sĩ, nhân vật chính trong câu chuyện của tôi,
Khi nhận thấy chẳng thể nào đạt được mục đích -
Tức là tìm cho ra điều mà phụ nữ yêu chuộng nhất -
Thần trí trong lồng ngực sầu não đến tột độ.
Nhưng gã phải hồi cung; chẳng thể nấn ná thêm;
Ngày gã quay về đã cận kề trước mắt.
Và trên hành trình ấy, gã tình cờ ruổi ngựa,
Giữa nỗi lo âu phiền muộn, men theo bìa rừng,
Nơi gã trông thấy một điệu vũ đang xoay vòng
Của hai mươi tư thiếu nữ, và còn nhiều hơn thế;
Gã vội vã tiến về phía điệu vũ ấy với lòng thiết tha,
Mong học được chút trí tuệ uyên thâm.
Nhưng than ôi, trước khi gã kịp tiến đến nơi,
Điệu vũ ấy tan biến, gã chẳng biết phương nào.
Chẳng một sinh linh nào lọt vào nhãn quan,
Ngoại trừ trên thảm cỏ xanh, gã thấy một mụ già ngồi đó,
Chẳng ai hình dung nổi một tạo vật nào xấu xí hơn.
Trước mặt gã hiệp sĩ, mụ già ấy gượng dậy,
Và thốt lên: “Thưa ngài hiệp sĩ, lối này chẳng còn đường đi.
Thề có đức tin của ngài, hãy bảo tôi ngài đang tìm kiếm điều gì!
Biết đâu sự việc sẽ chuyển biến tốt lành hơn;
Những người già cả này thông tuệ nhiều thứ lắm,” mụ nói.
“Thưa hiền mẫu,” gã hiệp sĩ đáp, “lẽ tất nhiên
Ta chẳng khác nào kẻ đã tử thương, trừ phi ta thấu hiểu
Điều chi là thứ mà phụ nữ hằng khát khao nhất.
Nếu bà có thể chỉ giáo, ta nguyện sẽ hậu tạ xứng đáng.”
“Hãy đặt tay vào tay tôi mà thề danh dự,” mụ nói,
“Rằng điều kế tiếp mà tôi yêu cầu,
Ngài sẽ thực hiện, nếu điều đó nằm trong khả năng của ngài,
Và tôi sẽ thưa cho ngài rõ trước khi màn đêm buông xuống.”
“Đây là lời thề của ta,” gã hiệp sĩ đáp, “ta chấp thuận.”
“Vậy thì,” mụ nói, “ta dám tự đắc mà khẳng định rằng
Tính mạng ngài đã bảo toàn, vì ta sẽ đứng ra bảo chứng;
Thề có mạng sống của ta, Hoàng hậu cũng sẽ đồng tình với ta thôi.
Để xem kẻ nào kiêu kỳ nhất trong đám phụ nữ,
Dẫu có mang khăn trùm quý phái hay mạng che tóc lộng lẫy,
Mà dám phủ nhận điều ta sắp chỉ giáo cho ngài đây.
Ta hãy lên đường thôi, đừng phí lời thêm nữa.”
Đoạn mụ thầm thì một thông điệp vào tai gã,
Và bảo gã hãy cứ vui vẻ, chẳng việc gì phải sợ.
Khi họ về tới triều đình, gã hiệp sĩ
Tuyên bố đã giữ đúng hạn định như lời hứa,
Và gã thưa rằng lời giải đáp đã sẵn sàng.
Vô số quý phu nhân, và biết bao thiếu nữ,
Cùng nhiều góa phụ thông thái đã hội tụ,
Hoàng hậu đích thân ngự trên ghế thẩm phán,
Tất thảy tề tựu để nghe lời đối đáp của gã;
Rồi gã hiệp sĩ được lệnh bước ra trình diện.
Lệnh truyền im lặng được ban xuống cho tất thảy,
Để gã hiệp sĩ được phân trần trước công chúng,
Điều chi là thứ phái nữ trần thế ái mộ nhất trên đời.
Gã hiệp sĩ chẳng đứng thinh lặng như loài cầm thú,
Mà đáp lại câu hỏi ấy ngay tức khắc,
Bằng giọng nam nhi đanh thép, vang khắp triều đình:
“Tâu lệnh bà, xét một cách tổng quát,” gã thưa,
“Phụ nữ khát khao có được Chủ quyền,
Đối với cả phu quân lẫn tình lang của họ,
Và được giữ quyền Áp đảo trên những người ấy.
Đó là ước nguyện tột bậc của các bà, dẫu các bà có giết tôi đi nữa.
Cứ tùy nghi hành sự; tôi ở đây phục tùng ý nguyện của các bà.”
Khắp triều đình chẳng phu nhân, thiếu nữ, hay góa phụ nào
Đứng ra phản đối lời gã đã tuyên bố,
Mà thảy đều bảo gã xứng đáng được bảo toàn mạng sống.
Ngay lời ấy, mụ già chợt vươn mình đứng dậy,
Kẻ mà hiệp sĩ đã thấy ngồi trên thảm cỏ xanh:
“Xin rủ lòng nhân đức,” mụ thốt lên, “lạy lệnh bà vương hậu!
Trước khi triều đình tan buổi, xin hãy thực thi Công lý cho tôi.
Chính tôi đã chỉ dạy câu trả lời này cho gã;
Vì lẽ đó, gã trao lời thề danh dự nơi đây,
Rằng điều đầu tiên mà tôi yêu cầu gã,
Gã sẽ thực hiện, nếu điều đó nằm trong khả năng của gã.
Vậy trước toàn triều đình, tôi khẩn cầu ngài, thưa hiệp sĩ,”
Mụ phán, “rằng ngài hãy cưới tôi làm vợ,
Bởi ngài biết rõ chính tôi đã bảo toàn mạng sống cho ngài.
Nếu tôi nói sai, hãy phủ nhận đi, thề có đức tin của ngài!”
Gã hiệp sĩ đáp: “Than ôi, khốn khổ cho ta thay!
Ta thấu rõ đó chính là lời hẹn ước của mình.
Vì lòng kính Chúa, hãy lựa một thỉnh cầu mới!
Hãy lấy hết điền sản ta, và để thân xác ta tự do.”
“Chẳng đời nào,” mụ đáp, “nguyền rủa cả hai ta!
Dẫu cho tôi có xấu xí, già nua và bần hàn,
Tôi chẳng đổi lấy tất thảy kim khí hay quặng báu,
Dù chôn dưới lòng đất hay bày ra trên đời,
Ngoại trừ việc được làm vợ ngài, cũng là người tình của ngài.”
“Người tình của ta ư?” gã thốt lên, “không, đó là kiếp đọa đày của ta!
Than ôi, sao một kẻ thuộc dòng tộc của ta
Lại có thể bị hạ bệ nhục nhã, ô uế đến thế này!"
Nhưng thảy đều vô ích; kết cục của gã là
Bị cưỡng bách; gã tất yếu phải cưới mụ ta,
Gã đón lấy mụ vợ già nua và đi vào phòng ngủ.
Giờ đây có lẽ vài người sẽ bảo,
Rằng vì sự sơ suất mà tôi chẳng bận tâm
Thuật lại cho chư vị về sự hân hoan và vẻ tráng lệ
Của bàn tiệc cưới diễn ra vào chính ngày hôm đó.
Về điều này, tôi xin được đáp gọn:
Tôi khẳng định chẳng có niềm vui hay tiệc tùng nào hết;
Chẳng có chi ngoài sự nặng nề và u ám mênh mông.
Bởi gã đã lén lút cử hành hôn lễ vào buổi sớm,
Rồi suốt cả ngày sau đó, gã trốn biệt như một con cú,
Gã khổ sở khôn cùng bởi dung mạo vợ gã quá kinh khiếp.
Nỗi sầu khổ ê chề trong tâm trí gã hiệp sĩ,
Khi gã cùng mụ vợ được đưa lên giường;
Gã trằn trọc và trở mình hết bên này sang bên nọ.
Mụ vợ già vẫn nằm đó, mỉm cười mãi không thôi,
Và thốt lên: “Ôi phu quân yêu dấu, nguyện Chúa ban phước!
Có phải mọi hiệp sĩ đều đối với vợ thế này chăng?
Phải chăng đây là lễ nghi của vương triều Arthur?
Hay mọi hiệp sĩ của ngài đều kiêu kỳ, xa cách thế?
Ta là người tình và cũng là hiền thê của ngài;
Chính là kẻ đã bảo toàn mạng sống cho ngài,
Và quả thực, tôi chưa từng làm điều sai với ngài;
Sao ngài lại đối xử với tôi như thế trong đêm đầu tiên này?
Ngài hành xử như kẻ đã đánh mất thần trí vậy.
Ta có tội tình chi? Vì lòng kính Chúa, hãy nói đi,
Và ta sẽ sửa đổi, nếu ta có thể.”
“Sửa đổi?” gã hiệp sĩ kêu lên, “Than ôi, không đời nào!
Chẳng bao giờ sửa được nữa đâu.
Bởi bà quá kinh hãi, lại già nua như thế,
Hơn nữa còn xuất thân từ hàng ngũ hạ đẳng,
Chẳng trách sao ta cứ phải quằn quại và trằn trọc thế này.
Cầu xin Thiên Chúa cho trái tim ta vỡ đi cho rồi!”
“Có phải,” mụ phán, “đây là nguyên ủy nỗi bất an trong ngài?”
“Phải, đích thị là vậy,” gã đáp, “chẳng có gì lạ.”
“Này ngài,” mụ nói, “tôi có thể tu chỉnh vạn sự này,
Nếu tôi muốn, trước khi ba ngày trôi qua,
Với điều kiện ngài phải biết cách đối đãi cho đúng mực với tôi.”
“Nhưng, vì ngài bàn về Sự Cao Quý ấy,
Thứ vốn được truyền thừa từ Phú Quý lâu đời,
Rằng vì lẽ đó mà các ngài là những Bậc Quân Tử,
Sự ngạo mạn ấy chẳng đáng một con gà mái đâu.
Hãy nhìn xem kẻ nào giữ mình đức hạnh luôn luôn,
Cả chốn riêng tư lẫn nơi hiển lộ, và hằng tâm niệm
Thực thi những nghĩa cử cao đẹp trong khả năng;
Hãy coi kẻ đó mới là bậc cao quý nhất.
Chúa Kitô muốn ta nhận lấy sự cao quý từ chính Ngài,
Chứ chẳng phải từ tổ tiên hay gia sản cũ của họ.
Bởi dẫu họ có để lại cho ta trọn vẹn di sản,
Thứ khiến ta tự xưng là kẻ có dòng dõi cao sang,
Thì họ cũng chẳng thể nào di truyền lại được,
Cho bất kỳ ai trong chúng ta lối sống đức hạnh của mình,
Thứ đã khiến họ được xưng tụng là những bậc quân tử,
Và răn dạy chúng ta phải dõi theo họ ở phẩm cấp ấy.”
“Vị thi sĩ hiền triết vùng Florence,
Người tên hiệu Dante, đã luận bàn về đạo lý này rất tường tận.
Hãy xem, lời lẽ của Dante được đúc kết trong vần điệu thế này:
“Rất hiếm khi từ những cành nhánh nhỏ nhoi mà
Dũng hạnh của con người nảy nở, bởi Thiên Chúa, bằng đức thiện của Ngài,
Muốn chúng ta thụ nhận Sự Cao Quý từ chính Ngài”;
Bởi từ tổ tiên, ta chẳng thể thụ hưởng điều chi
Ngoài những vật chất phù du, thứ vốn có thể khiến con người tổn hại và tàn phế.
Hơn nữa, bất kỳ ai cũng thấu hiểu điều này như ta,
Rằng nếu Sự Cao Quý được cấy trồng một cách tự nhiên
Vào một dòng dõi nhất định theo huyết thống,
Thì dù lúc riêng tư hay nơi hiển lộ, họ sẽ chẳng bao giờ ngừng
Thực thi những bổn phận tốt đẹp của đức cao quý;
Họ sẽ chẳng thể phạm phải sự đê tiện hay thói hư tật xấu nào.”
“Hãy mang ngọn lửa vào gian nhà tăm tối nhất,
Từ chốn này cho đến tận đỉnh núi Caucasus,
Rồi đóng cửa lại và để mọi người đi khỏi;
Ngọn lửa ấy vẫn cứ rạng ngời bùng cháy,
Như thể có hai vạn người đang chiêm bái;
Nó vẫn hằng giữ trọn bản tính tự nhiên của mình,
Thề có mạng sống của tôi, cho đến khi nó lụi tàn.
Qua đây ngài thấy rõ rằng Sự Cao Quý,
Chẳng hề gắn với Sản nghiệp tư hữu,
Bởi con người chẳng hành xử theo đúng thiên chức,
Luôn luôn như ngọn lửa kia, hỡi ngài, theo đúng phẩm cách của nó.
Vì Chúa chứng giám, người ta vẫn thường thấy
Con trai một vị vương tôn làm điều nhục nhã và đê tiện;
Và kẻ nào muốn được xưng tụng là cao quý,
Chỉ vì sinh ra trong một dinh cơ quyền quý,
Có tổ tiên hào hiệp và đức hạnh,
Mà bản thân chẳng thực thi những nghĩa cử cao đẹp,
Chẳng dõi theo bậc tiền nhân đã khuất,
Thì kẻ đó chẳng hề cao quý, dù là Công tước hay Bá tước;
Bởi những hành vi tội lỗi biến kẻ đó thành hạng phàm phu.
Vì Sự Cao Quý chẳng qua là thanh danh
Của tổ tiên ngài, vì đức thiện lớn lao của họ,
Thứ vốn là vật ngoại thân đối với ngài.
Sự cao quý của ngài đến từ chính Thiên Chúa;
Vậy nên, sự cao quý chân chính đến từ Ân điển,
Chứ chẳng hề được di truyền cùng với tước vị của chúng ta.
“Hãy ngẫm xem sự cao quý ấy, như Valerius đã thuật,
Về chính bậc Tullius Hostillius thuở nào,
Kẻ từ chốn bần hàn đã vươn mình tới hàng vương giả.
Hãy tìm đọc Seneca, và cả Boethius nữa;
Ở đó ngài sẽ thấy tường tận, chẳng chút nghi nan,
Rằng kẻ nào thực thi nghĩa cử cao đẹp, kẻ đó mới chính là bậc quân tử.
Và vì lẽ đó, phu quân yêu dấu, ta xin được kết luận:
Dẫu cho tổ tiên ta có là hạng thô lậu, hèn kém,
Thì Thiên Chúa tối cao, và ta hằng hy vọng vậy,
Vẫn ban cho ta ân điển để sống một đời đức hạnh.
Khi ấy ta mới thực là kẻ cao quý, kể từ lúc ta khởi đầu
Sống đời chính đạo và khước từ tội lỗi.
Và nơi nào ngài khiển trách ta vì nỗi bần hàn,
Thì Thiên Chúa chí cao, đấng mà chúng ta hằng tin kính,
Đã chí nguyện sống đời bần khổ trọn kiếp người.
Quả thực, bất kỳ nam nhân, thiếu nữ hay sản phụ nào
Cũng thấu hiểu rằng Chúa Jesus, quân vương cõi trời,
Chẳng bao giờ chọn một lối sống đốn mạt, bất lương.
Cái nghèo hân hoan là một điều thanh bạch, hiển nhiên;
Đó là lời Seneca và các bậc hiền triết hằng răn dạy.
Kẻ nào thấy thỏa nguyện với sự bần hàn của mình,
Tôi coi kẻ đó là giàu sang, dẫu hắn chẳng có lấy một manh áo sờn.
Kẻ nào còn tham luyến mới chính là kẻ bần cùng,
Vì hắn ham muốn thứ vượt ngoài quyền hạn;
Nhưng kẻ chẳng có chi, cũng chẳng mong cầu chi cả,
Lại là kẻ phú túc, dẫu ngài coi hắn chỉ là hạng phàm phu.
Cái nghèo chân chính thường cất tiếng hát ca;
Juvenal đã bàn về nó đầy hóm hỉnh:
“Kẻ bần hàn, khi rảo bước trên đường trường,
Có thể hát ca vui vẻ ngay trước mặt lũ đạo tặc.”
Cái nghèo là một thiện hữu đáng ghét, và tôi đồ rằng,
Nó là kẻ giúp ta rũ bỏ mọi nỗi lo toan vướng bận;
Nó cũng là bậc thầy tu chỉnh trí tuệ
Cho kẻ nào biết đón nhận nó bằng sự khắc khổ.
Cái nghèo là thế đó, dẫu vẻ ngoài có vẻ khốn khổ, đạm bạc:
Nó là một sản nghiệp mà chẳng ai thèm tranh đoạt.
Cái nghèo thường khi, lúc con người ở thế hạ phong,
Sẽ giúp kẻ đó thấu suốt Thiên Chúa và chính bản thân mình.
Với ta, cái nghèo là một thấu kính nhiệm màu,
Nhờ đó mà người ta nhìn rõ được những người bạn chân chính.
Vậy nên, thưa ngài, vì ta chẳng làm điều chi tổn hại đến ngài,
Xin ngài đừng khiển trách ta vì nỗi bần hàn thêm nữa.
“Giờ đây, thưa ngài, ngài lại khiển trách ta về tuổi già;
Và quả thực, thưa ngài, dẫu chẳng có điển tích nào ghi lại,
Thì những bậc quý nhân trọng danh dự như ngài
Vẫn thường bảo rằng người ta nên dành sự ưu ái cho kẻ già nua,
Và gọi họ là bậc cha chú, ấy mới là sự cao quý của ngài;
Và ta đồ rằng mình cũng có thể tìm thấy những tác giả viết như vậy.
Giờ đây, khi ngài bảo rằng ta vừa kinh hãi vừa già nua,
Thì ngài chẳng việc gì phải sợ mình sẽ bị mọc sừng;
Bởi sự nhếch nhác và già cỗi, thề có sự hưng thịnh của ta,
Chính là những vệ binh vĩ đại canh giữ đức tiết hạnh.
Thế nhưng, vì ta thấu hiểu những lạc thú của ngài,
Ta sẽ thỏa mãn cái dục vọng trần tục ấy của ngài.”
“Hãy chọn đi,” mụ phán, “một trong hai điều này:
Một là có ta, kẻ kinh hãi và già nua cho đến ngày lâm chung,
Nhưng sẽ là một người vợ trung trinh, khiêm hạ của ngài,
Suốt đời này chẳng bao giờ làm điều chi khiến ngài phật ý,
Hai là ngài muốn có ta, kẻ trẻ trung và kiều diễm,
Rồi phải chấp nhận lấy sự mạo hiểm từ đám đông
Những kẻ sẽ tìm đến dinh cơ của ngài vì ta,
Hoặc ở một chốn nào khác, lẽ tất yếu là vậy.
Giờ hãy tự mình chọn lấy, bất cứ điều gì khiến ngài vừa ý.”
Gã hiệp sĩ ngẫm suy thiệt hơn và thở dài sầu não,
Nhưng sau rốt gã cất lời theo cách này:
“Thưa phu nhân, người tình và hiền thê yêu dấu,
Ta xin đặt mình dưới sự quản cai anh minh của nàng;
Hãy tự mình chọn lấy điều chi mang lại sự thỏa nguyện nhất,
Và cả danh dự lớn lao nhất cho nàng cũng như cho ta.
Ta chẳng màng chọn lấy điều nào trong cả hai,
Bởi nàng thấy vừa ý bao nhiêu, thì ta cũng mãn nguyện bấy nhiêu.”
“Vậy là ta đã giành được quyền Thống trị đối với ngài,” mụ phán,
“Vì ta có thể tự ý lựa chọn và Quản cai theo ý mình sao?”
“Phải, quả thực vậy, thưa phu nhân,” gã đáp, “ta thấy thế là tốt nhất.”
“Hãy hôn ta đi,” mụ nói nói, “chúng ta đừng giận hờn nhau nữa,
Bởi, thề có đức tin của ta, ta sẽ dành cho ngài cả hai -
Tức là, ta sẽ vừa Kiều diễm lại vừa Đức hạnh [19].
Ta cầu xin Thiên Chúa cho mình phải phát điên mà chết,
Nếu ta không dành cho ngài sự hiền lương và Trung trinh,
Như bất kỳ người vợ nào kể từ thuở khai thiên lập địa.
Và nếu sáng mai ta không Diễm lệ để ngài nhìn ngắm
Như bất kỳ quý bà, Hoàng hậu hay Nữ hoàng nào,
Từ phương Đông cho đến tận phương Tây,
Thì ngài cứ việc định đoạt sinh tử của ta tùy ý.
Hãy vén màn lên đi, và hãy xem sự thể thế nào.”
Và khi gã hiệp sĩ thực sự nhìn thấy tất thảy những điều này,
Rằng nàng quá đỗi kiều diễm, và lại trẻ trung đến thế,
Vì quá đỗi hân hoan, gã xiết chặt nàng trong đôi tay mình.
Trái tim gã tắm mình trong Bể hạnh phúc [20].
Gã hôn nàng cả ngàn lần liên tiếp,
Và nàng vâng lời gã trong mọi sự,
Những điều có thể mang lại cho gã sự thỏa nguyện và vui thú.
Và thế là họ sống bên nhau cho đến lúc bạc đầu
Trong niềm hoan lạc vẹn toàn; và cầu Chúa Jesus ban cho chúng con
Những đức phu quân biết vâng lời, trẻ trung và sung mãn nơi phòng khuê,
Cùng ân điển để chúng con được sống thọ hơn những kẻ mình kết hôn;
Và con cũng cầu Chúa hãy rút ngắn mạng sống của những kẻ
Chẳng chịu để cho vợ mình đứng ra cai quản;
Còn những hạng già nua, hay giận dữ và bủn xỉn,
Cầu Chúa sớm giáng xuống đầu chúng trận dịch hạch kinh hồn!
Thanh Nghi dịch
Chú thích:
1. Trong thần học trung cổ, việc giữ mình đồng trinh được coi là một ân sủng từ Chúa.
2. Từ statute chỉ cả giáo luật lẫn pháp lý Trung cổ về nghĩa vụ “trả nợ phu thê” (debitum conjugale). Đây là khế ước buộc đôi bên phải đáp ứng nhu cầu thể xác của nhau, một bổn phận được giáo hội coi là thiêng liêng nhưng cũng đầy tính cưỡng bách. Nhân vật biến hành vi tính dục thành một điều khoản thương mại sòng phẳng trong bản hợp đồng hôn nhân của mình.
3. Nhân vật mượn các ẩn dụ về địa ngục, đất và lửa để tái hiện những định kiến thù ghét phụ nữ kinh điển trong văn chương khắc kỷ Trung cổ. Hình ảnh “địa ngục” và “đất cằn” lột tả quan niệm về dục vọng nữ giới như một hố sâu không đáy; “lửa hoang dại” tượng trưng cho ham mê mãnh liệt và không thể cứu vãn.
4. Cách ví von hạ thấp người chồng xuống hàng vật nuôi dễ bảo.
5. Chaucer dùng từ lóng trần trụi (queynte) và từ lóng tiếng Pháp có vẻ nhã nhặn (bele chose) để nói về bộ phận sinh dục.
6. Likerous vừa có nghĩa là tham ăn, vừa có nghĩa là dâm đãng.
7. Croce of the same wode: ẩn dụ về việc gã chồng đi ngoại tình (“khúc gỗ gã mang về”), và Alisoun dùng chính việc giả vờ ngoại tình để tạo ra nỗi đau cho gã (“cây thập tự gã phải vác”).
8. In his owene grece made hym frye: Thành ngữ bình dân chỉ việc một người tự thiêu đốt bản thân vì những cảm xúc tiêu cực.
9. Shoo hym wrong: Đây là một điển tích dân gian nổi tiếng bắt nguồn từ Thánh Jerome. Nội dung như sau: Một người đàn ông bỏ vợ, khi bị hỏi tại sao (vì cô vợ trông rất đẹp), đã giơ chiếc giày lên và nói: “Các anh thấy giày đẹp nhưng chỉ tôi mới biết nó cọ đau ở đâu”.
10. Coltes tooth: Mượn hình ảnh con ngựa non đang độ thay răng nhằm khẳng định nhựa sống trong mình vẫn luôn rạo rực như thuở đôi mươi dù đã bước sang tuổi bốn mươi.
11. Nhân vật dùng kiến thức chiêm tinh là một môn khoa học nghiêm túc thời đó để giải thích sự mâu thuẫn trong bản tính: bà vừa lẳng lơ, mềm yếu (Venus) lại vừa hung hăng, bướng bỉnh (Mars). Việc Mars nằm trong cung Kim Ngưu giải thích cho sự bùng nổ về dục vọng.
12. Chambre of Venus: Cách gọi đầy khêu gợi về cơ thể.
13. Vào thế kỷ 14, bản thảo được viết trên da thuộc (parchment) - vật liệu làm từ da cừu hoặc da dê đã qua xử lý hóa chất, căng khung và cạo mỏng để đạt độ bền cực cao. Da thuộc vốn dẻo dai, chống rách và được thiết kế để tồn tại hàng thế kỷ; để xé rời một trang da thuộc bằng tay trần đòi hỏi một lực cổ tay và cơ bắp cực mạnh.
14. Trong quan niệm cổ đại là hành vi thiếu đoan chính.
15. Đây là một ngụ ngôn của Aesop. Một con sư tử thấy bức tranh vẽ cảnh người đàn ông giết sư tử và nói: “Nếu sư tử biết vẽ, kết quả sẽ khác”.
16. preambulacioun là một sự nhại lại đầy ác ý của Viên Đòi án đối với từ preamble mà Tu sĩ dùng để chê bai phu nhân vùng Bath.
17. Viên Đòi án cố tình bóp méo âm tiết để tạo ra sự liên tưởng đến việc điều khiển ngựa (amble - nhông nhông, trotte - chạy nước kiệu).
18. Incubus.
19. Câu gốc dùng fair and good: đối lập với quan niệm “fair and foolish” vốn là định kiến rong văn chương Trung cổ, cho rằng sắc đẹp và đức hạnh là hai đường thẳng song song.
20. Bath of Blisse.
The Canterbury Tales
