favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Xuân 2026
Next

The Reeve's Prologue

31/03/2026 12:13

The Reeve's Prologue

   Khi đoàn người đương cười thỏa thuê trước sự biến nực cười ấy

Về gã Absolon và Nicholas Khéo,

Kẻ này người nọ bàn ra tán vào,

Song phần đa lấy đó làm hể hả.

Chẳng thấy ai phiền lòng vì chuyện ấy,

Duy chỉ có Osewold, lão Cai điền nọ.

Vốn lão theo nghiệp thợ mộc xưa kia,

Nên trong lòng tầm ngẩm chút nộ khí;

Lão bèn lẩm bẩm, buông lời khiển trách đôi câu.

   “Thề có giời,” lão thốt, “ta đây vốn thừa sức đáp lễ,

Khiến gã xat bột hợm hĩnh kia phải lòa mắt lú tâm,

Ví phỏng ta cũng muốn buông lời dâm ô, phàm tục.

Nhưng ta nay có tuổi, chẳng báu chuyện nô giỡn

Thời cỏ xanh đã tận; lương thảo rặt cỏ khô;

Mái đầu bạc này hằn vết tích năm tháng;

Lòng ta cũng mục ruỗng chẳng khác gì tóc ta.

   Ngặt nỗi ta đây chẳng khác gì trái sơn tra nọ,

Càng để lâu ngày, lại càng tệ hại thêm,

Đợi đến lúc mục rữa giữa đống rác rơm thối nát.

Lũ già ta, ta e cùng một giuộc như thế:

Chưa đến độ thối nẫu, thì chẳng được gọi là chín;

Đời còn thổi sáo, ta còn mải miết múa nhảy theo.

Bởi trong ý chí luôn găm sẵn một cái dằm,

Cứ muốn như cọng hành: đầu thời bạc mà đuôi lại xanh;

Dẫu sức cùng lực kiệt, lòng vẫn mê chuyện tầm phào,

Lúc chẳng thể hành sự, ta dở giọng ba hoa;

Ấy thế mà dưới lớp tro tàn, lửa dục vẫn âm ỉ cháy.

    Ta có bốn cục than hồng, để ta chỉ ra cho rõ:

Khoe khoang, điêu ngoa, tham lam với phẫn nộ;

Bốn tia lửa ấy cứ ám quẻ thân già.

Gân cốt ta dù có rệu rã, cứng đơ,

Nhưng lòng dục chẳng vơi, ấy là thực lẽ.

Ta vẫn còn cái răng ngựa tơ thèm của lạ,

Dù bao năm tháng đã trôi qua kể từ thuở,

Kể từ thuở cái vòi đời ta bắt đầu rỉ,

Bởi thật tình, khi ta vừa lọt lòng, chẳng chút chần chừ,

Thần Chết đã tay vặn nút vòi đời cho mặc sức tuôn xả,

Và từ bấy đến nay, cái vòi ấy cứ thế chảy ròng ròng,

Cho đến khi thùng rượu [1] đã cạn khô gần láng.

Rượu đời chỉ còn nhỏ giọt mép [2] thùng,

Còn cái lưỡi lẩn thận thì khua mép múa môi [2],

Về nỗi khốn khổ từ thuở nao thuở nào;

Lũ già ấy mà, ngoài sự lú lẫn, còn quái gì nữa!”

   Khi chủ quán nghe trọn tràng thuyết giáo,

Ông bèn cất lời dõng dạc tựa quân vương.

Ông rằng: “Mớ chữ nghĩa này phỏng có ích chi?

Há đặng bàn chuyện kinh kệ suốt cả ngày chăng?

Chỉ có quỷ mới khiến một lão Cai điền đi giảng đạo,

Như thể bắt gã thợ giày làm thủy thủ hay lang y.

Hãy kể tiếp chuyện của ông, đừng dây dưa phí lời.

Nhìn kìa, Deptford đó, đã gần tám giờ sáng rồi!

Kìa cả Greenwich, nơi rặt một lũ đốn mạt gian manh!

Đến lúc ông bắt đầu câu chuyện của mình rồi.”

   “Này chư vị,” Osewold lão Cai điền thốt rằng:

“Xin chư vị chớ lấy làm phiền lòng,

Dẫu ta có đáp lễ, mà xỏ mũi gã Xay bột kia một phen hả giận;

Bởi lẽ đời vốn cho phép: lấy lực trị lực, lấy oán báo oán chẳng sai.”

   “Gã Xay bột say mèm này vừa kể chúng ta nghe,

Chuyện một gã thợ mộc bị lừa gạt ra sao,

Họa chăng là để giễu cợt, vì chính ta cũng vốn kẻ trong nghề.

Và xin chư vị cho phép, ta sẽ đáp lễ hắn ngay tức khắc;

Ta sẽ dùng đúng cái giọng bỗ bã hạ đẳng của hắn mà đối đáp.

Ta cầu trời cái cổ gã gãy gục cho khuất mắt;

Hắn soi thấy cả cọng rác trong mắt ta,

Nhưng lại mù tịt chẳng hay có cây xà găm trong mắt mình!”

The Reeve's Tale

   Tại Trumpyngtoun, cách Cantebrigge chẳng bao xa,

Có dòng suối nhỏ lượn quanh, cầu bắc ngang qua,

Trên dòng suối ấy, sừng sững một cối xay;

Những lời ta kể đây, thực hư chẳng đổi thay:

Nơi đó, một gã thợ xay đã trú ngụ bao ngày.

Gã vốn hợm hĩnh, vểnh vang như loài công [3] rực rỡ.

Thổi kèn túi [4], quăng chài, gã lại hay vá lưới,

Biết tiện chén [5], vật lộn, bắn cung thạo đủ mười;

Bên thắt lưng, gã dắt thanh mã tấu dài thượt,

Cùng một lưỡi gươm bén ngót, sắc lẻm dị thường.

Gã dắt thêm con dao nhỏ đỏm dáng trong túi áo;

Chẳng kẻ nào dám gần, e gặp họa sát thân.

Lại dắt thêm dao nhọn Sheffield [6] nơi bít tất.

Mặt gã tròn cạnh, mũi thời tẹt dí [7] như không;

Cái sọ trọc lóc, nhẵn lì như đầu khỉ.

Gã đích thị hạng du côn chuyên phá phách chợ đời.

Tuyệt chẳng ai dám động đến gã lấy một ngón tay,

Kẻo gã thề bắt phải đền tội ngay tức khắc.

Đích thực gã là tên trộm ngô với bột mì,

Lại thêm thói ranh ma, thói đạo tặc đã thành quen.

Kẻ hợm hĩnh ấy, thiên hạ gọi là Symkyn.  

Gã có mụ vợ, vốn tự phụ dòng quyền quý;

Dẫu cha mụ chẳng ai khác ngoài vị linh mục [8] trong vùng.

Ông ta ném cho nàng bao nhiêu chậu đồng thau [9] làm của hồi môn,

Cốt để Symkyn chịu kết thân, chung chạ dòng máu ấy [10].

Mụ được nuôi nấng nơi tu viện trang nghiêm;

Bởi Symkyn tuyên bố: gã chẳng màng lấy vợ,

Trừ phi nàng có giáo dưỡng và còn trinh nguyên,

Để giữ cho cái danh giá hạng nông dân tự do [11] của gã.

Mụ ta cũng kiêu kỳ, trơ trẽn tựa lũ ác là [12].

Cặp đôi ấy, cảnh tượng đẹp đẽ thay;

Ngày lễ lạt, gã cứ nghênh ngang đi trước mụ,

Dải mũ trùm [13] quấn tít quanh đầu, ra vẻ ta đây,

Mụ lững thững theo sau, diện bộ đồ đỏ rực;

Và Symkyn cũng vận đôi bít tất đỏ cùng tông.

Chẳng ai dám gọi tên mụ, chỉ cung kính xưng Lệnh bà”;

Chẳng kẻ nào bạo gan chắn lối họ đi qua,

Mà cợt nhả hay lấn lướt một bận với mụ,

Trừ phi muốn mạng lìa khỏi xác dưới tay Symkyn,

Bằng đoản kiếm, hay dao găm, hoặc cái dùi đâm.

Bởi hạng ghen tuông luôn là phường hiểm độc,

Ít ra chúng cũng muốn vợ mình phải tin vậy.

Lại nữa, vì mụ cũng có vài vết nhơ [14],

Nên mụ cao giá tựa nước ở dưới mương,

Đầy vẻ khinh khi và coi thường thiên hạ.

Mụ cứ ngỡ mình là lệnh bà cần giữ kẽ,

Nhờ cái gốc gác và giáo dưỡng nơi tu viện kia

Mà mụ đã được học thuở còn thơ.

   Cặp đôi ấy có một mụn con gái,

Vừa tròn đôi mươi, chẳng kém chẳng hơn;

Ngoại trừ đứa trẻ mới nửa năm tuổi,

Đang nằm trong nôi, một thằng cu kháu khỉnh.

Con nhỏ trông dày mình và nở nang,

Mũi thời tẹt dí, nhưng mắt xám như thủy tinh [15];

Mông thời nở nang, ngực tròn trịa, căng tràn.

Nhưng mái tóc con nhỏ lại rất đẹp; ta chẳng nói điêu ngoa.

   Vị linh mục trong vùng, vì thấy con nhỏ cũng ra dáng,

Nên quyết ý chọn nó làm người thừa tự,

Hưởng sạch bách cả điền sản lẫn cơ ngơi;

Thế nên lão mới làm mình làm mẩy chuyện gả chồng cho nó.

Cái bụng lão muốn gả nó vào chốn cao sang,

Kết thân với lũ dòng dõi trâm anh thế phiệt;

Lý luận của lão cho rằng lộc của nhà thánh thì phải đổ vào

Máu mủ nhà thánh [16], cái giống nảy nòi từ nhà thánh mà ra.

Thế đấy, lão muốn làm rạng danh dòng máu thánh của mình,

Dẫu có phải ăn tươi nuốt sống [17] cả giáo hội này đi nữa.

   Gã thợ xay nắm cái quyền độc quyền, chẳng đơm sai,

Ôm hết lúa ngô mạch nha của cả vùng này vào cối;

Nhất là có cái trường lớn kia ở Cambridge,

Thiên hạ vẫn gọi là Soler Hall [18];

Mọi thức thóc lúa mạch nha của họ đều phải qua tay nghiền của gã.

Chẳng ngờ một ngày kia, trong lúc ngặt nghèo,

Lão quản lương lâm trọng bệnh, nằm liệt giường tưởng chết đến nơi.

Thế là gã thợ xay được đà, vơ vét cả lúa lẫn bột

Nhiều gấp trăm lần so với bận trước;

Bởi khi xưa gã chỉ ăn cắp chút đỉnh gọi là lễ độ,

Còn nay gã thành tên trộm vô sỉ, cướp bóc trắng trợn.

Ông hiệu trưởng có mắng mỏ, làm mình làm mẩy,

Gã cũng coi chẳng đáng cọng cỏ khô;

Gã cứ việc oang oảng huênh hoang, thề thốt rằng mình chẳng làm bậy.

   Bấy giờ, có hai tay môn sinh nghèo khó,

Cùng trú ngụ trong cái hội trường ta vừa kể.

Đầu óc chúng ương ngạnh, lại ham hố trò vui;

Chỉ vì muốn tìm chút thú tiêu khiển huyên náo,

Chúng cứ bám lấy ông hiệu trưởng mà nài nỉ,

Xin được rời trường trong một chốc lát,

Để đến cối xay canh chừng mớ thóc đang nghiền.

Chúng còn bạo gan đem cả đầu ra mà thề:

Gã thợ xay chẳng hòng bịp bợm lấy nửa thúng,

Dẫu bằng mưu hèn hay dùng sức mạnh cướp đi.

Rốt cuộc, ông hiệu trưởng cũng đành phải cho phép.

Một đứa tên John, đứa kia gọi Aleyn;

Cả hai sinh quán tận vùng Strother xa xôi,

Mịt mù phương Bắc; ta cũng chẳng rõ nơi nào.

   Tay Aleyn này bèn sửa soạn đồ đạc cho xong,

Rồi quăng ngay bao thóc lên lưng ngựa.

Tay môn sinh Aleyn cùng John lên đường,

Kiếm sắc khiên tròn, cả hai giắt bên hông.

Tay John vốn thạo đường - chẳng cần ai chỉ lối -

Đến cối xay, bèn đặt bao thóc xuống.

Tay Aleyn lên tiếng trước: “Chào bác Symond, thật tình!

Vợ với cả cô con gái nhớn nhà bác dạo nầy mạnh giỏi không?” [19]

   “Chào Aleyn,” Symkyn lên tiếng, “thề có mạng sống tôi!

Cả John nữa, sao rồi, các chú làm gì ở đây thế này?”

   “Bác Symond ơi,” tay John bảo, “thề có Giời, cái túng nỏ chừa ai.

Ngữ nỏ có quân hầu thì phải tự thân mà vận, bác nhể, [20]

Chẳng thế thì đích thị là lũ khùng, như mấy thầy đồ vẫn bẩu thế.

Lão quản lương nhà tôi, đồ là sắp đi chầu Giời rồi,

Cái răng hàm trong thủ lão cứ đau nhức nhối suốt không thôi;

Thế nên tôi với Aleyn mới phải lặn lội sang đây,

Nghiền mớ ngô rồi lại gánh về cho sớm;

Xin bác ra tay giúp cho mau để chúng tôi được về.”

   “Xong xuôi cả thôi,” Symkyn bảo, “thề có đức tin của tôi!

Thế các chú định làm gì trong lúc ta ra tay đây?”

   “Thề có Giời, tôi sẽ đứng cạnh cái phễu nầy,”

Tay John bảo, “để xem mớ ngô nó chui vô trong ấy ra mần sao.

Thề có họ hàng hang hốc, tôi chửa bao giờ được thấy,

Cái phễu cứ lắc qua lắc lại như thế nầy bao giờ.”

   Tay Aleyn mới đáp: “John, cậu định mần thế hử?

Thế thì tôi sẽ đứng ở dưới [21], thề có cái gáo [22] của tôi nầy,

Để xem mớ bột nó rơi tõm xuống máng ra mần sao;

Đấy sẽ là trò vui của tôi cho bõ công sang nầy.

Bởi John à, thực tình, tôi cũng cùng một giuộc với cậu;

Cũng mù tịt cái nghề thợ xay y như cậu nớ.”

   Gã thợ xay cười khẩy sự ngây ngô của chúng,

Và nghĩ: “Trò này chẳng qua là mưu mẹo.

Chúng tưởng chẳng ai xỏ mũi được mình,

Nhưng thề có cơ nghiệp, mình sẽ làm chúng tối mắt,

Mặc kệ mọi mánh khóe trong mớ triết lý kia.

Chúng càng bày trò quái chiêu bao nhiêu,

Ta đây càng thuổng được nhiều bấy nhiêu.

Thay vì cho bột, ta sẽ tống cho chúng cám.

“Kẻ học cao nhất chưa chắc đã khôn nhất,”

Như xưa ngựa cái đã bảo con sói vậy.

Mớ tri thức của chúng, ta coi chẳng đáng cọng cỏ khô.”

   Gã lẻn ra ngoài cửa thật kín đáo,

Khi thấy thời cơ đến, thật nhẹ nhàng.

Gã ngó nghiêng cho đến khi tìm thấy

Con ngựa của đám môn sinh đang buộc

Sau cối xay, dưới một giàn lá rậm;

Hắn tiến lại gần con ngựa thật khẽ;

Rồi lập tức tháo phăng bộ cương ra.

Khi ngựa đã sổng, nó bắt đầu phóng

Về phía đầm lầy, nơi lũ ngựa cái hoang đang chạy,

Và thế là “hí hí”, nó lao đi xuyên bụi rậm lùm cây.

   Gã thợ xay quay lại, tịnh không nói một lời,

Cứ thế làm việc, lại còn giỡn hớt với mấy tay môn sinh

Cho đến khi chỗ ngô đã được nghiền xong xuôi, đẹp đẽ.

Đến lúc bột đã đóng bao và thắt nút kỹ càng,

Tay John chạy ra ngoài, thấy ngựa đã mất tiêu,

Bèn gào lên: "Bớ Giời!", "Ối làng nước ơi!

Mất ngựa rồi Aleyn ơi, thề có xương thánh đây nầy,

Nhấc chân lên! Nhanh cái xác lên, mau mau lên xem nào!

Khốn khổ chưa, ông hiệu trưởng mất con ngựa quý rồi."

Tay Aleyn quên sạch bách, cả bột lẫn ngô;

Chữ nghĩa toan tính trong đầu bay biến đâu hết.

“Cái chi? Nó đi nẻo nào rồi?” hắn gào lên hỏi.

   Mụ vợ nhảy bổ vào, vừa chạy vừa thở chẳng ra hơi.

Mụ bảo: “Ối dào! Ngựa các chú té ra đầm lầy rồi,

Đang đuổi theo lũ ngựa cái hoang, chạy tít mù tắp.

Quỷ tha ma bắt cái bàn tay nào buộc ngựa như thế,

Cái đứa đáng lẽ phải thắt dây cương cho chắc vào mới phải!”

   “Giời đất ơi,” tay John gào lên, “Aleyn à, thề có nỗi khổ của Chúa,

Bỏ kiếm xuống đi, rồi tôi cũng bỏ của tôi đây nầy.

Tôi nầy nhanh lắm, Giời biết đấy, chả khác gì con hoẵng;

Thề có trái tim Giời, nó nỏ thoát được cả hai đứa mình đâu!

Sao hồi nãy cậu nỏ dắt con ngựa vào trong chuồng hả?

Đen quá xá! Thề có Giời, Aleyn à, cậu đúng là dại dột!”

   Mấy tay môn sinh khờ khạo chạy thục mạng

Về phía đầm lầy, cả Aleyn lẫn John.

   Vừa lúc gã thợ xay thấy bọn chúng đi khuất,

Bèn hốt ngay nửa thúng bột của chúng,

Rồi bảo mụ vợ đem nhào ngay thành cái bánh.

Gã bảo: “Tôi đồ rằng lũ môn sinh cũng dè chừng tôi lắm.

Thế mà lão thợ xay vẫn vặt râu được mấy thầy đồ,

Tri thức gì chứ; cứ để mặc chúng đi!

Nhìn kìa, chúng đang chạy đấy! Phải, cứ để lũ trẻ con nô đùa.

Chúng chẳng bắt được nó dễ dàng đâu, thề có cái gáo [22] tôi đây.”

   Mấy tay môn sinh khờ khạo chạy ngược chạy xuôi,

Gào thét: "Chặn đi! Chặn đi! Đứng lại! Đứng lại! Kìa, coi chừng phía sau!

Cậu huýt sáo đi, để tôi chặn nó ở đằng nầy!"

Nhưng chẳng mấy chốc, trời đã tối mịt tối mù,

Chúng chẳng thể nào, dẫu đã dốc hết sức bình sinh,

Mà bắt được con ngựa, nó cứ phóng như bay,

Cho tới khi chúng túm được nó dưới một cái mương.

   Mệt lử và ướt sũng, như con thú dưới mưa,

Tay John nhếch nhác lết về, theo sau là Aleyn.

“Than ôi,” John rên rỉ, “khốn nạn cái ngày tôi sinh ra!

Giờ bọn mình nỏ thoát được cảnh khinh khi, nhạo báng mất thôi.

Mớ ngô bị nẫng mất rồi; người ta sẽ bẩu mình là quân dại dột,

Cả ông hiệu trưởng lẫn đám bạn hữu,

Và nhất là cái lão thợ xay kia, khốn khổ thân tôi chưa!”

   Thế là tay John cứ vừa đi vừa than vãn dọc đường

Về phía cối xay, tay dắt con ngựa Bayard [23].

Hắn thấy lão thợ xay đang ngồi chồm hổm bên bếp lửa,

Bởi trời đã tối mịt, bọn chúng chẳng đi đâu được nữa;

Thế nên mới khẩn nài lão, nhân danh đức Chúa lòng lành,

Cho chúng được tá túc và ăn uống chút đỉnh, tiền nong sẽ trả lại sòng phẳng.

   Gã thợ xay bèn đáp: “Nếu mà nhà còn chỗ,

Dẫu thế nào, các chú cũng sẽ có phần thôi.

Nhà ta vốn chật hẹp [24], nhưng các chú là bậc học rộng biết nhiều [25];

Chắc các chú thừa sức dùng lý lẽ biện bác mà biến cái xó

Rộng có hai mươi thước thành hẳn một dặm đường chứ chẳng chơi.

Để xem chỗ này có đủ dùng không,

Hay các chú định dùng mồm mép nới rộng nó ra cho thỏa cái thói các chú.”

    “Nầy bác Symond,” tay John bảo, “thề có thánh Cutberd [26],

Bác khi nào chả vui tính, bác bẩu thế là phải quá rồi.

Tôi nghe người ta bẩu: ‘Đời người phải chọn một trong hai:

Bằng lòng với cái mình tìm thấy, hoặc tự mang đồ của mình đi.’

Nhưng tôi xin bác, bác chủ quý hóa ạ,

Kiếm cho bọn tôi chút đồ nhắm với thức uống cho xôm,

Bọn tôi sẽ trả tiền sòng phẳng, nỏ thiếu một xu.

Tay không thì nỏ dụ được chim ưng đâu bác nhể;

Đấy, bạc của bọn tôi đây, sẵn sàng chìa ra đây.”

   Gã thợ xay bảo con vào phố,

Mua bánh, bia, ngỗng quay sẵn một bàn.

Ngựa kia gã buộc kỹ càng,

Chẳng cho sổng nữa, buộc hàng hẳn hoi.

Trong buồng gã dọn nơi nghỉ tạm,

Mền, ga trải sẵn [27], đẹp đẽ tinh tươm.

Mười lăm thước, cách giường gã nằm.

Con gã một góc riêng giường, sát bên.

Nào còn chỗ rộng hơn chăng?

Bởi nhà chật hẹp, chỗ nằm có vậy.

Tiệc tùng, chuyện phiếm vui vầy,

Nốc bia loại mạnh, nửa đêm đi nằm.

   Gã thợ xay đã đánh bóng loáng mặt mũi mình;

Mặt gã tái nhợt vì say quá mức chứ không đỏ gat.

Gã nấc lên, và nói bằng giọng mũi

Như thể đang bị nghẹn họng hay sổ mũi.

Gã đi nằm và mụ vợ đi cùng gã.

Mụ ta hớn hở vui tươi như một con chim sáo,

Vì cái họng của mụ cũng đã được làm cho ướt sũng.

Cái nôi được đặt ngay dưới chân giường của mụ,

Để đưa đưa, và để cho đứa trẻ bú mớm.

Và khi rượu trong bình đã cạn sạch bách,

Đứa con gái cũng lập tức đi ngủ ngay;

Aleyn và John cũng đi nằm;

Chẳng còn gì nữa, chẳng cần đến thuốc ngủ làm chi.

Gã thợ xay đã nốc bia một cách nhiệt tình đến mức

Gã khịt mũi như một con ngựa trong giấc ngủ,

Đến cả cái “đuôi” [28] phía sau gã cũng chẳng buồn giữ kẽ.

Mụ vợ phụ họa cho gã một bè trầm thật mạnh;

Người ta có thể nghe tiếng họ ngáy xa tận hai tầm dặm;

Đứa con gái cũng ngáy theo, cho có hội có phường.

   Aleyn nghe thấy dàn đồng ca [29] ấy,

Hắn huých John và hỏi: “Ngủ rồi hả?

Cậu đã nghe cái bài [29] chi rất lạ bao giờ chưa?

Kìa, cả nhà nó đang làm lễ nguyện chiều [29] xôm thế;

Cầu cho lửa giời [30] giáng xuống đầu chúng nó!

Ai đời lại nghe thấy cái chuyện kinh hãi thế bao giờ?

Phải, chúng nó rồi sẽ nhận cái kết đắng ngắt thôi.

Đêm dài nầy tớ nỏ thể nào chợp mắt được;

Cơ mà nỏ sao, rồi mọi sự sẽ tốt đẹp cả thôi.

Vì John nầy,” hắn bảo, “thề có Giời chứng giám,

Nếu có thể, tớ sẽ xơi con nhỏ kia bằng được.

Luật pháp [31] đã định cho mình được bồi thường rồi,

Vì John à, có cái luật bẩu rằng:

Hễ một người bị thiệt cái nầy,

Thì ở chỗ khác họ phải được bù đắp lại.

Ngô mình bị nẫng mất rồi, thật nỏ sai đâu được,

Mà cả ngày nay mình đã khốn khổ quá chừng;

Đã nỏ được đền bù mớ ngô bị mất,

Thì phải tìm niềm an ủi khác cho mình thôi.

Thề có linh hồn Chúa, nỏ thể khác được đâu!”

   John mới đáp lời: “Aleyn nầy, liệu cái thần hồn!

Gã thợ xay nầy là quân côn đồ lắm,” gã bảo,

“Và nhỡ mà lão tỉnh giấc giữa chừng,

Thì lão nẫng cả hai đứa mình một trận nhục nhã nỏ sai đâu!”

   Aleyn bảo: “Tớ coi lão nỏ bằng con ruồi đâu.”

Rồi hắn đứng dậy, lẻn về phía đứa con gái.

Con nhỏ nằm ngửa, ngủ say như chết,

Cho đến khi hắn đã sát bên, con nhỏ chẳng kịp hay,

Thì đã quá muộn để mà kêu cứu,

Và nói ngắn gọn, họ đã hòa thành một.

Giờ cứ vui đi, Aleyn; để ta kể về John.

   Tay John nằm im độ vài phút đồng hồ,

Và tự than thân trách phận đầy khổ sở.

“Ối dào!” gã bảo, “Trò đùa nầy thiệt quái ác;

Giờ tôi có thể bẩu rằng tớ nỏ khác chi con khỉ [32].

Thế mà bạn tôi lại có chút đền bù cho cái vạ của nó;

Nó đang ôm con gái lão thợ xay trong tay.

Nó đã liều mình, và đạt được mục đích,

Còn tôi thì nằm đây như cái bao tải rác trên giường;

Mai nầy khi trò đùa được kể lại,

Người ta sẽ coi tôi là quân khờ khạo, là đồ hèn!

Thề có đức tin, tôi sẽ đứng dậy và liều một phen!

“Kẻ nhát gan là kẻ xui xẻo,” người ta vẫn bẩu thế mà.”

Thế rồi hắn đứng dậy, rón rén bước tới

Chỗ cái nôi và đưa tay nhấc nó lên,

Rồi khẽ khàng bê nó đặt xuống phía cuối giường mình.

   Ngay sau đó mụ vợ thôi tiếng ngáy,

Mụ thức giấc và ra ngoài đi đái,

Rồi mụ quay lại, chẳng thấy cái nôi đâu,

Mụ quờ quạng chỗ này chỗ kia, nhưng chẳng thấy.

“Dào ôi!” mụ bảo, “Suýt nữa thì đi lạc;

Suýt nữa thì bò vào giường đám môn sinh.

Ôi, lạy Chúa tôi! Thế thì hỏng bét!”

Và mụ cứ thế đi tiếp cho tới khi thấy cái nôi.

Mụ cứ quờ quạng lần xa hơn bằng tay,

Và thấy cái giường, mụ chẳng mảy may nghi ngờ,

Bởi vì cái nôi đang đặt ngay cạnh đó,

Mụ chẳng biết mình đang ở đâu vì trời tối mịt;

Mụ rón rén bò vào giường cùng tay môn sinh,

Và nằm im thin thít, định bụng sẽ ngủ tiếp.

Chỉ một chốc sau, tay John môn sinh chồm dậy,

Và hắn giày vò mụ vợ hiền trận ra trò.

Một cuộc sung sướng thế này, đã lâu lắm mụ chưa từng có;

Hắn thúc [33] mạnh và sâu như thể kẻ điên cuồng.

Cuộc đời khoái lạc này hai tay môn sinh tận hưởng

Cho tới khi con gà trống thứ ba bắt đầu cất tiếng gáy.

   Aleyn mệt lử khi rạng đông ló dạng,

Vì hắn đã cày cuốc hùng hục suốt cả đêm,

Gã bảo: “Từ biệt nhé Malyne [34], hỡi nàng thơ ngọt ngào!

Ngày lên rồi; ta nỏ thể ở lại lâu hơn;

Song mãi mãi, dù ta có đi bộ hay cưỡi ngựa,

Ta vẫn là chàng môn sinh của riêng em, thề có phúc lành của ta!”

   “Giờ thì, anh ơi,” con nhỏ bảo, “đi đi, từ biệt nhé!

Nhưng trước khi anh đi, có một chuyện em muốn nói:

Khi anh đi về phía nhà qua lối cối xay,

Ngay lối vào phía sau cánh cửa,

Anh sẽ thấy một cái bánh làm từ nửa giạ bột,

Cái bánh được làm từ chính chỗ bột của anh,

Chính em đã giúp bố đánh cắp.

Và, anh ơi, nguyện Chúa che chở và bảo vệ anh!”

Vừa dứt lời, đứa con gái dường sắp sửa bật khóc [35].

   Aleyn đứng dậy, bụng bảo dạ: “Trước lúc rạng đông,

Mình phải lẻn về nằm cạnh bạn mình,”

Và hắn lần tay thấy cái nôi ngay tức khắc.

“Thề có Giời,” hắn nghĩ, “mình đi lạc nẻo sạch bách rồi.

Đầu óc mình mụ mẫm vì chuyện lao lực đêm nay,

Nên bước chân nỏ còn chuẩn xác.

Nhìn cái nôi là biết mình nhầm chỗ;

Đây là giường lão thợ xay với mụ vợ gã nằm đấy.”

Thế là hắn đi tiếp, mẹ kiếp cái quân quỷ dữ,

Đến thẳng giường nơi gã thợ xay đang nằm.

Hắn đinh ninh đã bò đến cạnh John,

Nhưng lại chui tọt vào chỗ gã thợ xay,

Hắn tóm cổ gã và khẽ khàng thủ thỉ.

Hắn bảo: “Nầy John, cái đồ đầu lợn, dậy mau,

Thề có linh hồn Chúa, nghe cái trò hay ho nầy.

Thề có đức thánh Jame hiển linh,

Chỉ trong đêm ngắn ngủi nầy, tôi đã ba lần

Xơi con gái gã thợ xay nằm ngửa tênh hênh,

Trong lúc cậu, quân nhát gan, cứ run lên cầm cập.”

   “Hả, đồ gian phụ gian ác,” gã thợ xay gầm lên, “mày dám làm thế sao?

A, quân phản trắc! Đồ thư lại dối trá!” gã quát,

“Thề có tôn uy của Chúa, mày phải đền mạng!

Kẻ nào dám to gan hạ nhục danh dự

Con gái tao, đứa trẻ vốn mang dòng dõi danh giá như thế?”

Rồi gã chộp lấy yết hầu Aleyn mà bóp nghiến,

Aleyn cũng hằn học tóm lại gã chẳng vừa,

Hắn giáng một cú đấm đích đáng vào ngay giữa mũi gã.

Máu gã tuôn ròng ròng xuống tận ngực;

Trên sàn nhà, mũi miệng đều nát bét,

Chúng vật lộn như hai con lợn trong bao;

Hết quật lên rồi lại vật xuống ngay tức khắc,

Cho đến khi gã thợ xay vấp phải một hòn đá,

Gã ngã ngửa người đè lên mụ vợ,

Mụ vốn chẳng hay biết gì về cuộc loạn đả ngớ ngẩn này;

Vì mụ vừa mới thiếp đi một chốc

Bên cạnh John, kẻ đã thức trắng đêm qua,

Bị đè bất thình lình, mụ vợ choàng tỉnh giấc.

“Cứu tôi với! Ôi thánh giá thiêng vùng Bromeholm!” mụ kêu lên,

“In manus tuas [36]! Con xin phó thác hồn mình trong tay Chúa!

Dậy mau, Symond! Quỷ dữ đè lên người tôi rồi.

Tim tôi vỡ mất; cứu với! Tôi chết đến nơi rồi!

Có kẻ đè lên bụng, có kẻ lại đè lên đầu tôi.

Cứu tôi với, Symkyn, đám thư lại gian ác đang đánh nhau kìa!”

   Tay John bật dậy nhanh hết mức có thể,

Hắn quờ quạng dọc tường tới lui,

Để tìm một cây gậy; mụ vợ cũng vùng dậy theo,

Mụ thông thuộc ngóc ngách trong nhà hơn John,

Và bên vách tường mụ vớ được ngay một cây gậy,

Mụ thấy một tia sáng lờ mờ le lói,

Bởi ánh trăng sáng chiếu qua một cái lỗ trên tường,

Và nhờ ánh sáng ấy mụ thấy cả hai người đang vật lộn,

Nhưng thực lòng mụ chẳng thể phân biệt ai với ai,

Chỉ thấy một vật trăng trắng hiện ra trước mắt.

Và khi thấy vật trăng trắng ấy lấp loáng,

Mụ đinh ninh là tay môn sinh đang đội mũ ngủ,

Mụ cầm gậy tiến lại gần, gần hơn nữa,

Định bụng giáng cho Aleyn một đòn chí mạng,

Nhưng lại nện thẳng vào cái đầu trọc lốc của gã thợ xay,

Khiến gã đổ gục, gào lên: “Bớ người ta! Tôi chết mất!”

Đám môn sinh bồi thêm cho lão một trận rồi để mặc lão nằm đó,

Chúng chỉnh đốn y phục, dắt ngựa đi ngay,

Mang theo cả bao bột và lên đường đi thẳng.

Tại cối xay, không quên lấy cái bánh

Làm từ nửa giạ bột đã được nướng thơm tho.

   Thế là gã thợ xay kiêu ngạo đã bị một trận nhừ tử,

Gã mất trắng cả tiền công xay lúa mì,

Lại còn phải bao trọn bữa tối không thiếu một xu

Cho Aleyn và John, những kẻ đã nện lão ra bã.

Vợ lão bị xơi, và con gái lão cũng thế.

Kìa, kết cục của một gã thợ xay gian trá là thế đấy!

Bởi thế câu ngạn ngữ này nói đúng chẳng sai:

“Ác giả thì ắt gặp ác báo.”

Kẻ chuyên đi lừa người rồi sẽ bị chính người lừa lại.

Và nguyện xin Thiên Chúa, Đấng ngự trên cao hiển hách,

Phù hộ cho cả đoàn hành hương này, từ lớn đến nhỏ!

Thế là ta đã trả đũa gã Thợ xay gọn gàng bằng câu chuyện của mình.

 

Thanh Nghi dịch

 

Chú thích:

[1] Trong văn hóa Trung cổ, thùng rượu là biểu tượng cho cơ thể.

[2] Chymbe: Trong tiếng Anh trung cổ, Chymbe là một từ đồng âm có hai nghĩa: vừa là cái vành gỗ nhô ra của thùng rượu (danh từ), vừa là tiếng gõ chuông vang vọng (động từ). Chaucer sử dụng lối chơi chữ này để ví von rằng khi sinh lực của lão Cai điền đã cạn kiệt đến tận vành, thì thứ duy nhất còn lại là cái lưỡi rỗng tuếch cứ lải nhải không thôi.

[3] Trong các sách về động vật (bestiaries) thời Trung cổ, con công là biểu tượng của Sự Kiêu Ngạo - một trong bảy đại tội.

[4] Trong Canterbury Tales, kèn túi thường gắn liền với gã thợ xay. Việc miêu tả nhân vật trong câu chuyện biết thổi sáo là một cú mạo phạm trực diện vào gã Thợ xay trong đoàn hành hương, ám chỉ hạng thợ xay nào cũng chỉ có trò tiêu khiển thô lậu đó.

[5] Turne coppes: Ở đây có hai cách hiểu: Một là kỹ năng thợ thủ công (tiện chén gỗ trên máy tiện), hai là “lật chén” trong các cuộc thi nhậu.

[6] Sheffield vốn nổi tiếng với ngành thép từ thời Trung cổ. Việc sở hữu một con dao Sheffield cho thấy nhân vật thích phô trương dù chỉ là một gã thợ xay làng.

[7] Trong nhân tướng học thời Trung cổ, chiếc mũi tẹt được coi là dấu hiệu của bản tính dâm đãng, thô lỗ và thiếu tự trọng.

[8] Thời trung cổ, linh mục Công giáo bắt buộc phải độc thân. Việc ông ta có con gái nghĩa là nàng là con rơi.

[9] Đồng thau là thứ kim loại bền, bóng nhưng không quý như vàng bạc. Nó tượng trưng cho sự giàu có thực dụng của giới bình dân.

[10] Một sự kết hợp giữa phường du côn và kẻ phạm giới.

[11] Estaat of yomanrye: Symkyn là một yeoman (nông dân tự do, có vai vế hơn nông nô).

[12] Trong văn hóa trung cổ, loài chim ác là biểu tượng cho sự lăng loàn, huyên náo, thích ăn cắp và hay khoe khoang những thứ lấp lánh nhưng vô giá trị.

[13] Typet là dải vải dài rủ xuống từ mũ trùm đầu. Ở đây chỉ việc nhân vật muốn tỏ ra mình có học hoặc địa vị vì chỉ kẻ không phải lao động chân tay mới mặc những đồ vướng víu như thế.

[14] Ám chỉ địa vị con rơi của mụ.

[15] eyen greye as glas: vốn là công thức miêu tả vẻ đẹp của các lệnh bà trong thơ ca lãng mạn (Romance).

[16] Ý chỉ con hoang.

[17] Vị linh mục vì muốn làm sang cho dòng dõi riêng mà sẵn sàng tiêu tán tài sản công thành của riêng.

[18] Đây là tên gọi cổ của King's Hall (nay thuộc Trinity College, Cambridge). Việc đưa một địa danh học thuật danh giá vào một câu chuyện tục tĩu là cách Chaucer tạo ra sự tương phản buồn cười giữa trí tuệ cao siêu và những mánh khóe lừa lọc tầm thường.

[19] Ở đây Chaucer sử dụng phương ngữ. Hai anh chàng này nói giọng miền Bắc (Northumbrian) nghe lạ tai và có phần quê mùa so với giọng London/Cambridge.

[20] Trong nguyên tác, John dùng các từ có nguyên âm “a” kéo dài (thay vì “o” như miền Nam: no, so, home). Đây là bằng chứng rõ nhất cho thấy Chaucer đang mô phỏng giọng nói vùng Northumbria.

[21] Đây là một chiến thuật. Trong khi John án ngữ tại cái phễu đổ thóc vào ở phía trên, Aleyn lại chọn đứng ở cái máng hứng bột ở phía dưới. Như vậy Symkyn không thể hớt bớt thóc khi đổ vào, cũng không thể bớt bột khi nó chảy ra.

[22] By my croun: Croun ở đây ám chỉ phần tóc cạo trên đỉnh đầu của các tu sĩ hoặc sinh viên thời bấy giờ.

[23] Đây là cái tên phổ biến dành cho ngựa trong văn học Trung cổ. Tuy nhiên trong điển tích, Bayard thường ám chỉ sự mù quáng hoặc khờ khạo.

[24] Ngôi nhà của thợ xay thời trung cổ thường chỉ có một phòng lớn duy nhất, mọi hoạt động sinh hoạt ngủ nghỉ đều diễn ra ở đó.

[25] Art: Symkyn đang ám chỉ đến Liberal Arts mà sinh viên Cambridge phải học, đặc biệt là môn Logic và Biện thuyết. Gã mỉa mai rằng mớ lý thuyết đó hoàn toàn vô dụng khi đối mặt với cái bụng đói và một chỗ ngủ chật chội.

[26] Thánh Cuthbert, vị thánh bảo hộ vùng Northumbria (miền Bắc nước Anh).

[27] Đây là loại chăn len dày có nguồn gốc từ vùng Châlons (Pháp). Sự xuất hiện của món đồ này cho thấy Symkyn không phải hạng nghèo khổ.

[28] Tayl: Đây là một uyển ngữ chỉ phần hậu môn hoặc cái mông. Chaucer không dùng từ ngữ giải phẫu trực tiếp mà dùng từ này để duy trì hình ảnh so sánh gã thợ xay với loài vật. Ở dòng trước đó, Chaucer miêu tả Symkyn as an hors he fnorteth. Việc nhắc đến cái đuôi ở dòng tiếp theo hoàn thiện bức tranh về một sinh vật hạ đẳng.

[29] Melodye / Sang / Complyn: Chaucer sử dụng các thuật ngữ âm nhạc và tôn giáo một cách đầy mỉa mai.

[30] Wilde fyr: vừa có nghĩa là lửa trời, vừa ám chỉ một loại bệnh viêm da lở loét (St. Anthony's fire).

[31] Esement: Một thuật ngữ pháp lý. Aleyn đang cố trí thức hóa hành vi trả thù của mình.

[32] Trong văn học Trung đại, con khỉ tượng trưng cho kẻ bắt chước một cách ngu ngốc hoặc kẻ bị lừa phỉnh.

[33] priketh: gợi liên tưởng đến việc dùng vũ khí hoặc thúc ngựa, tiếp tục duy trì hình ảnh các nhân vật hành động theo bản năng loài vật.

[34] Lần đầu tiên trong truyện cô con gái được gọi tên. Việc gọi cái tên này vào đúng khoảnh khắc chia tay tạo nên một sự châm biếm về những vần thơ tình lãng mạn (courtly love).

[35] Chaucer sử dụng phong cách Mock-romantic. Một cuộc hoan lạc lén lút trong bóng tối, khởi đầu từ ý định trả thù lại kết thúc bằng một cảnh chia tay mùi mẫn như trong các truyện thơ quý tộc.

[36] “Trong tay Ngài (con xin gửi gắm linh hồn)”. Đây là lời cuối cùng của Chúa Jesus trên thập giá.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công