The Miller's Prologue
Khi vị Hiệp sĩ đã kể xong câu chuyện của mình,
Trong cả đoàn chẳng có ai, dù trẻ hay già,
Không thốt lên rằng đó là tích truyện cao quý
Và rất đáng để khắc cốt ghi tâm,
Đặc biệt là những bậc quyền quý trong đoàn.
Chủ quán cười lớn và thề rằng: “Tôi cam đoan,
Mọi sự đang diễn biến tốt đẹp; chiếc túi đựng chuyện đã mở tung.
Hãy xem giờ đây ai sẽ là người kể chuyện tiếp;
Bởi thực tình, cuộc chơi đã khởi đầu thật mỹ mãn.
Giờ xin mời ngài, thưa Đan sĩ, nếu ngài có thể,
Kể điều gì đó sánh ngang với câu chuyện của ngài Hiệp sĩ.”
Gã Xay bột, kẻ vì say khướt mà mặt mũi tái nhợt,
Đến mức khó lòng ngồi vững trên lưng ngựa,
Chẳng thèm cởi mũ trùm hay mũ rộng vành để chào,
Cũng chẳng nhường nhịn ai theo phép lịch sự,
Mà cứ thế gào lên bằng giọng của nhân vật Pilate1,
Và thề: “Nhân danh cơ thể, máu thịt và xương cốt Chúa,
Tôi cũng biết một câu chuyện cao quý cho dịp này,
Mà tôi sẽ dùng để đối lại câu chuyện của Hiệp sĩ.”
Chủ quán thấy gã say túy lúy vì bia rượu,
Liền nói: “Khoan đã, Robin, người anh em thân mến;
Để một người thuộc phẩm trật cao hơn kể xem sao hẵng.
Đợi chút nhé, chúng ta sẽ thu xếp mọi việc thật chu toàn.”
“Nhân danh linh hồn Thiên Chúa,” gã nói, “đừng hòng”;
Vì tôi phải nói, bằng không chỗ này chẳng còn gì thú.”
Chủ quán đáp: “Thế thì kể đi, cực nhọc!
Đúng là ngẫn; trí khôn của anh bị (rượu) đánh gục rồi.”
“Giờ hãy nghe này,” gã Xay bột nói, “hỡi tất thảy chư vị!
Nhưng trước tiên tôi có lời phân trần thế này,
Rằng tôi đương say khướt; nghe giọng chính mình là biết.
Thế nên nếu có lỡ lời hay nói điều gì sai,
Khẩn nài chư vị đổ lỗi cho thứ bia vùng Southwark này.
Vì tôi sẽ kể một huyền thoại và một tiểu sử rạng ngời
Về một lão thợ mộc cùng người vợ của hắn,
Về chuyện một gã học giả đã xỏ mũi tay thợ ra sao.”
Gã Quản sự gắt lên: “Câm họng!
Thôi ngay cái trò dâm ô bậy bạ của kẻ say thất học đi.
Thật là tội lỗi và ngu xuẩn tột cùng
Khi nhục mạ hay phỉ báng bất cứ ai,
Lại còn bêu rếu các bà vợ bằng tai tiếng như thế.
Thiếu gì chuyện khác để mà nói đâu.”
Gã Xay bột say khướt lập tức phản kháng:
“Oswald2 anh trai yêu quý của tôi ơi,” gã nói,
“Kẻ nào không có vợ thì kẻ đó mới không bao giờ mọc sừng.
Nhưng tôi đâu có ý bảo ông là cái thằng mọc sừng;
Ngoài kia đầy rẫy những bà vợ tốt, vô kể,
Cứ nghìn đứa tốt mới lòi ra một đứa tồi.
Ông tự biết rõ điều đó mà, trừ phi ông phát rồ.
Mắc mớ gì lại sừng sộ với câu chuyện của tôi?
Tôi cũng có vợ đấy thôi, thề có Chúa, cũng như ông vậy;
Nhưng tôi thà mất cả cặp bò đang cày dưới ruộng kia,
Còn hơn vơ nợ vào thân cho quá sức chịu đựng,
Mà tự huyễn rằng tôi là cái thằng mọc sừng;
Tôi cứ tin chắc là tôi chẳng mọc cái sừng nào!
Làm chồng thì đừng có tọc mạch quá mức
Vào bí mật của Thiên Chúa, hay chuyện riêng của vợ mình.
Miễn là ông vẫn tìm thấy phúc lộc dồi dào của Chúa ở đấy,
Những phần còn lại việc gì phải bới móc mà nhọc thân?”
Tôi còn biết nói gì hơn, ngoài việc gã Xay bột này
Chẳng vì kiêng nể bất cứ ai mà tiết chế lời lẽ,
Cứ thế tuôn ra những lời thô thiển theo lối kẻ phàm phu.
Tôi lấy làm tiếc khi phải thuật lại ở đây.
Bởi lẽ đó, khẩn nài mọi bậc thanh cao đức độ,
Vì tình yêu Thiên Chúa, chớ có phán xét rằng tôi
Đang mang tâm địa bất chính; chẳng qua tôi buộc phải tường thuật
Mọi chuyện kể của họ, dẫu là thiện hay ác,
Bằng không tôi sẽ làm sai lệch chính những tư liệu của mình.
Thế nên ai không muốn nghe những lời ấy,
Xin lật sang trang và chọn lấy tích truyện khác;
Bởi người đó sẽ tìm thấy đủ đầy mọi thể loại,
Từ những tích truyện sử biên bàn về sự cao quý,
Cho đến những chuyện về luân lý và sự thánh thiện.
Chớ có oán trách tôi nếu các vị chọn nhầm chuyện để nghe.
Gã Xay bột vốn là kẻ thô lỗ; quý vị hẳn đã tường tận.
Gã Quản sự cũng vậy và còn nhiều kẻ khác,
Cả hai đều chỉ biết thốt ra những lời dâm ô, tục tĩu.
Xin hãy thấu đáo cho, và đừng đổ lỗi cho tôi;
Vả lại, kẻ trí chớ nên nghiêm trọng hóa một lời mua vui.
The Miller's Tale
Xưa có kẻ ngụ tại Oxford,
Gã trọc phú tham, chứa khách ăn nằm,
Nghề mộc vốn là kế sinh nhai.
Ở cùng gã là tên môn đồ nghèo,
Đã học Thất nghệ3, song mọi vọng tưởng
Đều dồn cả vào thuật chiêm tinh,
Thạo đôi chút các phép toán thiên văn,
Để định đoạt bằng thuật vấn tin,
Hễ thiên hạ hỏi, vào những canh giờ,
Lúc nào nắng hạn hay khi mưa rào,
Hay hễ ai hỏi sự biến vần xoay,
Vô hạn chuyện, tôi chẳng thể kể xiết.
Gã môn đồ này tên gọi Nicholas Khéo.
Tường chuyện tình kín và những cuộc tiêu dao;
Thêm thói tinh ranh, kín kẽ khôn cùng,
Vẻ ngoài lại hiền như nàng trinh nữ.
Gã có riêng một gian trong quán trọ,
Lủi thủi đơn chiếc, chẳng ai bầu bạn,
Khéo bày đủ thức cỏ hoa thơm ngát;
Chính gã cũng ngọt như rễ cây
Cam thảo hay thứ nghệ tây rừng.
Quyển Almagest cùng đống sách lớn nhỏ,
Chiếc tinh bàn phục vụ cho thuật số,
Những quân toán bày ngay ngắn một bên,
Trên giá gỗ kê nơi đầu giường;
Cái tủ ép vải4 phủ vải đỏ sậm;
Phía trên cùng đặt chiếc đàn sắt xinh,
Gã tấu nhạc đêm thanh tao ở đó
Ngọt đến mức rung động cả gian phòng;
Gã hát khúc Thiên sứ truyền tin;
Đoạn rồi xướng bản Điệu nhà vua.
Phúc đức cho cổ họng reo vui ấy.
Cứ thế, gã môn đồ ngây ngất tiêu dao
Nhờ bằng hữu chu cấp cùng bổng riêng.
Lão thợ mộc vừa mới cưới vợ son,
Kẻ gã yêu hơn mạng sống mình;
Nàng đương độ mười tám xuân xanh.
Gã ghen tuông, giam lỏng nàng trong cũi,
Bởi nàng hoang dã mơn mởn còn gã lại già cỗi
Và tự nhủ mình sẽ bị cắm sừng.
Chẳng biết Cato5 bởi trí vốn thô lậu,
Rằng làm người nên cưới kẻ tương xứng.
Nên kết hôn theo đúng phẩm hàm,
Bởi trẻ và già vốn thường xung khắc.
Nhưng một khi đã sa vào cạm bẫy,
Nỗi sầu não như bao kẻ khác phải chịu.
Nàng vợ trẻ thật kiều diễm, và hơn thế
Thân hình mảnh dẻ, uyển chuyển như loài chồn.
Thắt đai lưng tơ, điểm xuyết những đường vân,
Tạp dề trắng tựa sữa non buổi sớm
Phủ trên hông xếp nếp thật khéo thay.
Áo lót trắng ngần, thêu hoa văn mặt trước
Lẫn mặt sau, quanh dải cổ thanh tân,
Bằng chỉ tơ đen tuyền cả bên trong lẫn ngoài.
Dải lụa thắt trên mũ trùm trắng muốt
Cùng một sắc đen như dải cổ áo kia;
Dải buộc tóc lụa bản to, vấn thật cao trên đỉnh.
Và hẳn rồi, một đôi mắt lẳng lơ;
Cùng mày ngài được tỉa tót thanh mảnh,
Cong vút và đen nhánh tựa mận rừng.
Nàng nom rạng rỡ, hân hoan hơn cả
Một cây lê đương độ trái đầu mùa,
Và mềm mại hơn cả lông cừu non.
Thắt lưng nàng lủng lẳng chiếc túi da,
Kết tua tơ và đính hạt đồng sáng bóng.
Khắp thế gian này dẫu có tìm xuôi ngược,
Chẳng kẻ thông thái nào có thể hình dung nổi
Đóa hoa mọn hay nàng thiếu nữ lộng lẫy thay.
Sắc da nàng còn sáng rực rỡ hơn
Đồng tiền mới đúc tại Tháp London.
Còn tiếng hát nàng, vang vọng ríu rít
Tựa chim én đậu trên nóc lẫm lúa vàng.
Nàng cũng biết tung tăng và đùa nghịch,
Như chú dê hay bê non quấn quýt mẹ.
Miệng nàng ngọt tựa mật pha bia hay rượu mật,
Như kho táo ủ trong cỏ khô hay thạch nam.
Nàng hay nũng nịu, tựa một con ngựa tơ,
Cao như cột buồm, dáng thẳng như mũi tên.
Một chiếc trâm cài nơi cổ áo trễ tràng,
Lớn tựa núm lồi giữa chiếc khiên đồng.
Đôi giày thắt dây cao tận ống chân thon.
Nàng là đóa anh thảo6, là nhành hoa mắt lợn7,
Để những bậc vương tôn được ôm ấp trên giường,
Hay cho gã Yeoman tử tế nào rước về làm vợ.
Này thưa ông, rồi sau đó, thưa ông, chuyện đã xảy ra thế này
Vào một ngày nọ, gã Nicholas Khéo kia
Đã tìm cách chọc ghẹo và vui đùa với nàng vợ trẻ,
Trong lúc lão chồng đang ở vùng Oseneye,
Bởi đám môn đồ vốn dĩ tinh quái và đầy mưu mẹo;
Và gã lén lút chộp lấy vùng kín8 của nàng,
Rồi nói: “Thật sự nếu tôi chẳng được thỏa lòng,
Vì mối tình vụng trộm với nàng, hỡi người tình, tôi sẽ chết mất.”
Gã giữ chặt lấy xương hông nàng thật đau,
Và nói: “Người tình ơi, hãy yêu tôi ngay bây giờ,
Bằng không tôi sẽ chết, nguyện Chúa chứng giám cho tôi!”
Nàng vùng vẫy như con ngựa tơ bị nhốt trong cũi đóng móng,
Và nàng quay ngoắt đầu đi thật nhanh,
Nàng nói: “Tôi không thèm hôn anh, thề có đức tin mình!
Làm gì thế, hãy bỏ ra!” nàng nói. “Bỏ ra, Nicholas,
Bằng không tôi sẽ hét “bớ người ta”' và “khốn khổ tôi chưa” cho xem!
Bỏ tay anh ra, nếu anh còn chút lịch thiệp!”
Thế rồi Nicholas bắt đầu van nài lòng xót thương,
Nói lời ngon ngọt và dồn dập tấn tới,
Cho đến cuối nàng cũng bằng lòng trao gửi tình,
Nàng thề thốt, nhân danh Thánh Thomas vùng Kent,
Rằng nàng sẽ phục tùng mọi mệnh lệnh của gã,
Hễ khi nào nàng tìm được lúc rảnh rang.
“Chồng em vốn tính ghen tuông quá đỗi,
Nên nếu anh không kiên nhẫn và kín kẽ,
Em biết chắc chỉ còn cái chết thôi,” nàng nói.
“Anh phải thật kín đáo trong chuyện này.”
“Phiền phu nhân hà tất phải lo lắng,” Nicholas đáp.
“Kẻ học trò hẳn đã uổng phí công đèn sách,
Nếu chẳng thể dùng trí mọn mà xoay chuyển tâm trí lão thợ mộc.”
Và thế là họ thuận lòng và thề thốt,
Sẽ đợi một thời cơ, như tôi kể trước đây.
Khi Nicholas đã xong xuôi mọi nhẽ,
Và vỗ vào mông nàng một phát rõ kêu,
Gã hôn nàng ngọt xớt rồi vớ lấy đàn sắt,
Gảy dồn dập, tấu lên khúc nhạc mừng.
Thế rồi chuyện xảy ra là, tại nhà thờ giáo khu,
Để thực thi phận sự của Chúa Kitô,
Nàng vợ đảm đi lễ một ngày hội.
Trán nàng sáng ngời như ánh ban mai,
Được rửa sạch tinh tươm sau khi xong công việc.
Bấy giờ ở nhà thờ có gã thư lại,
Tên gọi của gã là Absolon.
Tóc gã xoăn tít, óng ả như dát vàng,
Và xòe ra như một cái quạt rộng;
Đường ngôi rẽ giữa thẳng tắp mượt mà.
Mặt gã đỏ hồng, mắt xám như mắt ngỗng.
Giày gã chạm trổ hình ô cửa nhà thờ Saint Paul,
Đôi tất đỏ thanh tao gã xỏ chân.
Gã ăn vận gọn gàng và tươm tất
Trong chiếc áo choàng màu xanh nhạt;
Hàng dây thắt được đan dày và khéo.
Khoác bên ngoài áo lễ trắng tinh
Như những đóa hoa nở rộ trên cành.
Gã là chàng vui nhộn, nguyện Chúa phù hộ.
Gã thạo cả trích máu, cắt tóc lẫn cạo râu,
Lại biết soạn văn tự đất đai, giấy biên nhận.
Gã có đến hai mươi điệu nhảy nhót tung tẩy
Theo đúng lối trường Oxford bấy giờ,
Đôi chân gã cứ đá qua đá lại,
Gảy những khúc ca trên chiếc đàn nhị nhỏ;
Đôi khi cất giọng nam cao vút;
Và cũng thạo gảy đàn giterne.
Trong khắp vùng chẳng quán bia hay tửu quán
Gã chưa từng ghé để chung vui,
Nơi nào có cô hầu bàn lẳng lơ.
Nhưng thực tình mà nói, gã quả là kỹ tính
Khi trung tiện, và lời lẽ rặt kiểu cách.
Gã Absolon này vốn tính lẳng lơ và bóng bẩy,
Cứ ngày lễ xách bình hương đi quanh quẩn,
Hăng hái xông trầm cho các bà vợ trong giáo khu;
Gã quăng về phía họ biết bao ánh nhìn tình tứ,
Nhưng đặc biệt nhắm vào vợ lão thợ mộc.
Ngắm nhìn nàng, gã thấy đời vui thú,
Nàng tươm tất, ngọt ngào và khêu gợi.
Tôi dám chắc rằng, nếu nàng là con chuột,
Còn gã là mèo, gã sẽ vồ lấy ngay tức khắc.
Gã thư lại giáo khu, gã Absolon lẳng lơ này,
Lòng tương tư ngập tràn nỗi khát khao
Đến mức gã chẳng thèm nhận lễ vật của bà vợ nào;
Gã bảo vì phép lịch thiệp, gã chẳng dám nhận chi.
Mặt trăng khi đêm xuống tỏa sáng ngời ngời,
Và gã Absolon vác lấy cây đàn guitar;
Vì tình nương, gã quyết thức trắng đêm.
Gã bước đi, lơ đãng và si tình,
Cho tới khi đến tận nhà lão thợ mộc,
Chỉ một lát sau khi tiếng gà vừa gáy,
Và đứng nép bên ô cửa sổ cánh mở
Nằm ngay trên vách tường nhà lão thợ mộc.
Gã cất giọng hát, thanh tao và nhỏ nhẹ:
“Ôi phu nhân kính mến, nếu người bằng lòng,
Cầu xin người hãy rủ lòng thương lấy tôi,”
Tiếng hát ấy thật hòa quyện với tiếng đàn.
Lão thợ mộc chợt tỉnh và nghe thấy tiếng hát,
Và cất tiếng hỏi vợ mình ngay tắp lự:
“Cái gì thế! Alison! Nàng không nghe thấy Absolon,
Đang nghêu ngao dưới chân tường phòng ngủ sao?”
Nàng đáp lời chồng mình ngay tức khắc:
“Vâng, có Chúa chứng giám, John, em nghe rõ từng lời.”
Chuyện cứ thế tiếp diễn; còn mong đợi đẹp hơn thế nữa?
Ngày qua ngày, chàng Absolon bảnh bao ấy
Cứ mải miết tán tỉnh nàng đến thân xác rã rời.
Gã thức trắng cả đêm lẫn ngày;
Chải chuốt mái tóc bồng bềnh, ăn diện thật tinh tươm;
Gã nhờ vả đủ cách từ người quen đến môi giới đặng lấy lòng nàng,
Và thề thốt rằng sẽ làm kẻ hầu hạ nàng;
Gã hát ca, luyến láy như chim sơn ca;
Gã gửi tặng nàng rượu vang ngọt, rượu mật ong cùng bia thảo mộc,
Cùng bánh quế nóng hổi vừa ra lò;
Và, vì nàng là gái thành thị, gã còn dâng cả tiền;
Bởi có người bị khuất phục bởi giàu sang,
Có người bởi sự cưỡng ép, lại có người bởi lòng tử tế.
Đôi khi để khoe tài nghệ cùng sự linh hoạt của mình,
Gã còn đóng vai Vua Herod trên sân khấu kịch cao vút.
Nhưng trong trường hợp này, mọi nỗ lực có ích gì?
Nàng đã si mê chàng Nicholas Khéo kia rồi,
Đến nỗi Absolon chỉ còn nước thổi kèn không khí9;
Bao nhiêu công chỉ đổi lại khinh miệt.
Và thế là nàng biến Absolon thành con khỉ của mình,
Biến mọi sự chân thành thành trò cười.
Thật đúng như câu tục ngữ này, chẳng sai,
Người ta vẫn thường nói: “Kẻ láu cá ở gần
Luôn khiến người yêu ở xa bị ghẻ lạnh.”
Cho dù Absolon có phát điên hay giận dữ,
Bởi vì gã ở quá xa tầm mắt nàng,
Nên gã Nicholas ngay cạnh đã che khuất hết hào quang.
Giờ thì hãy thể hiện cho tốt, Nicholas khéo léo ơi,
Vì Absolon chỉ còn biết kêu gào và hát khúc “ôi chao.”
Chuyện xảy ra vào một ngày Thứ Bảy nọ,
Lão thợ mộc có việc phải đi đến Osenay;
Và Nicholas Khéo cùng nàng Alison
Đã thuận lòng theo một kế mọn bày sẵn,
Rằng Nicholas sẽ bày ra một mưu kế
Để xỏ mũi gã chồng khờ khạo lại hay ghen;
Và hễ cuộc chơi này diễn ra suôn sẻ,
Nàng sẽ nằm gọn trong tay hắn suốt đêm dài,
Vì đó là dục vọng của hắn lẫn của nàng.
Ngay lập tức, không cần nói thêm lời,
Nicholas chẳng chậm trễ một giây,
Mà lẳng lặng mang vào phòng mình
Cả đồ ăn thức uống đủ dùng một hai ngày,
Và dặn nàng phải nói với chồng rằng,
Nếu lão có hỏi thăm Nicholas,
Nàng hãy bảo không biết hắn ở đâu;
Suốt ngày hôm đó nàng không nhìn thấy hắn;
Đồ rằng hẳn hắn đã đổ bệnh,
Vì dù con hầu có gọi khản cả giọng,
Hắn cũng chẳng thưa một lời dù chuyện gì xảy ra.
Chuyện cứ thế trôi qua suốt cả ngày Thứ Bảy,
Nicholas cứ nằm lì chẳng ra ngoài,
Ăn rồi lại ngủ, hay làm điều hắn thích,
Cho đến tận Chủ Nhật, khi mặt trời đã khuất.
Lão thợ mộc khốn khổ lấy làm kinh ngạc lắm
Về Nicholas, chẳng biết chuyện gì đang xảy đến với hắn,
Và thốt lên: “Thề có Thánh Thomas, tôi sợ quá đi mất,
Có chuyện chẳng lành xảy tới với Nicholas rồi.
Cầu Chúa đừng để hắn đột tử bất thình lình!
Thế gian này thực sự quá vô thường.
Hôm nay ta vừa thấy một xác được đưa vào nhà thờ
Mà mới Thứ Hai vừa rồi đây thôi, vẫn còn thấy hắn đang làm việc.
“Lên gác ngay,” lão bảo tên đầy tớ tức thì,
“Gọi cửa đi, hoặc lấy đá mà đập.
Xem tình hình ra sao, rồi về đây báo rõ.”
Tên đầy tớ hùng hổ bước lên gác,
Và khi đứng trước cửa buồng Nicholas,
Hắn gào thét và đấm cửa như một kẻ lên cơn:
“Này, chuyện gì thế! Thầy Nicholas, thầy làm cái gì vậy?
Sao có thể ngủ vùi suốt cả ngày dài được như thế?”
Nhưng tất cả đều vô ích; chẳng có lấy một lời đáp.
Hắn tìm thấy một cái lỗ, nằm sát dưới ván cửa,
Nơi con mèo vẫn thường chui qua,
Và qua cái lỗ đó, hắn chúc mắt nhìn sâu vào bên trong,
Cuối cùng hắn cũng nhìn thấy Nicholas.
Cứ ngồi đó, miệng há hốc, mắt nhìn thẳng lên trên,
Như thể đang dán mắt vào vầng trăng mới.
Tên đầy tớ liền chạy xuống, báo ngay với ông nhà
Về tình trạng kỳ quái hắn vừa thấy.
Lão thợ mộc bắt đầu làm dấu thánh trấn an,
Và kêu lên: “Cứu giúp chúng con với, Thánh Frideswide!
Người ta nào biết trước được chuyện gì sẽ xảy đến với mình.
Anh chàng này khốn đốn rồi, cũng tại ba cái trò chiêm tinh,
Mà rơi vào cơn điên hay một kiểu co giật gì đó.
Ta đã luôn nghĩ thể nào cũng có chuyện!
Người trần mắt thịt không nên tò mò bí mật Thiên Chúa.
Phải, phúc thay cho những kẻ ít học ngây ngô,
Chẳng biết gì ngoài đức tin thuần khiết!
Một gã học giả khác cũng từng khốn khổ vì thiên văn;
Hắn mải bước đi trên đồng ruộng để soi mói,
Tìm xem những vì sao báo hiệu điều gì sắp tới,
Cho đến khi rơi tõm xuống hố phân bón;
Hắn chẳng thấy được điều đó! Nhưng mà, thề có Thánh Thomas,
Ta thấy tội nghiệp cho anh chàng Nicholas khéo léo này quá.
Ta phải mắng cho hắn một trận vì cái tội mải mê học hành,
Nếu ta làm được, nhân danh Chúa Giê-su, vua của thiên đình!
Lấy cho ta cái gậy để ta bẩy cánh cửa lên,
Trong khi ngươi, Robin, nhấc bổng nó từ phía trên.
Ta đoán hắn sẽ phải dứt khỏi việc học thôi.”
Và thế là lão tiến thẳng đến cửa buồng.
Tên đầy tớ lực lưỡng rất hợp với việc này,
Hắn giật phăng cái móc cửa chỉ trong một nháy;
Cánh cửa đổ rầm xuống sàn nhà tức khắc.
Nicholas vẫn ngồi đó, lặng thinh như tượng đá,
Mắt vẫn trừng trừng vào không trung.
Lão thợ mộc tưởng hắn rơi vào cảnh tuyệt vọng cùng đường,
Liền túm mạnh lấy vai hắn mà xốc tới,
Lão lắc hắn thật mạnh và kêu gào dữ dội:
“Này! Nicholay! Gì thế hả! Nhìn xuống đây xem nào!
Tỉnh lại đi, hãy nghĩ đến nỗi khổ hình của Chúa!
Ta làm phép cứu ngươi khỏi yêu tinh và lũ quỷ tà.”
Nói rồi lão đọc ngay bài chú đuổi ma
Khắp bốn góc nhà, không sót một nơi,
Và cả trên ngưỡng cửa ở phía bên ngoài:
“Lạy Chúa Giê-su và Thánh Benedict,
Phù hộ cho ngôi nhà này khỏi mọi loài quỷ dữ,
Chống lại tà ma bóng đêm, kinh Lạy Cha linh thiêng!
Ngài đi đâu rồi, hỡi chị của Thánh Peter10?”
Và cuối cùng, gã Nicholas Khéo ấy,
Bắt đầu thở dài thườn thượt, rồi than rằng: “Ôi chao!
Chẳng lẽ thế gian này sắp tan biến ngay bây giờ sao?”
Lão thợ mộc đáp: “Anh nói cái gì cơ?
Cái gì! Hãy nghĩ đến Chúa đi, như hạng người lao động bọn ta vẫn làm.”
Nicholas trả lời: “Đi lấy cho tôi chút đồ uống đã,
Rồi sau đó tôi sẽ nói riêng với ông
Về một chuyện hệ trọng liên quan đến cả tôi và ông.
Tôi chắc chắn sẽ không hé răng với bất kỳ ai khác.”
Lão thợ mộc đi xuống, rồi quay trở lại ngay,
Mang theo một bình lớn bia nồng loại mạnh;
Sau khi mỗi người đã uống cạn phần mình,
Nicholas liền đóng sập cửa buồng lại,
Và bảo lão thợ mộc ngồi xuống cạnh bên.
Gã nói: “John, ông chủ của tôi, người anh em thân mến,
Ông phải lấy danh dự mà thề với tôi ngay tại đây
Rằng sẽ không hé lộ lời cho ai,
Bởi đây là thiên cơ của Chúa mà tôi sắp nói,
Và nếu tiết lộ cho người trần, ông sẽ bị hủy diệt;
Hình phạt mà ông phải gánh chịu cho việc đó chính là:
Nếu ông phản bội tôi, ông sẽ bị hóa điên.”
“Không, cầu Chúa đừng để vậy, nhân danh dòng máu thánh!”
Lão khờ khạo ấy đáp, “Tôi không phải kẻ lẻo mép,
Và dù tôi tự nói ra, tôi cũng chẳng thích ba hoa.
Cứ nói những gì anh muốn, tôi sẽ chẳng bao giờ hé môi
Với con cái lẫn vợ mình, thề có Đấng đã đánh chiếm địa ngục!”
“Này John,” Nicholas nói, “tôi sẽ không nói dối;
Tôi đã tìm thấy trong thuật chiêm tinh của mình,
Khi tôi quan sát vầng trăng sáng ngời,
Rằng Thứ Hai tới, vào lúc nửa đêm,
Sẽ có một trận mưa trút xuống, dữ dội và cuồng loạn,
Đến mức trận lụt của Noah xưa kia cũng chẳng bằng một nửa.
Thế gian này,” gã nói, “trong chưa đầy một tiếng đồng hồ
Sẽ bị nhấn chìm hoàn toàn bởi trận mưa kinh hoàng ấy.
Nhân loại cứ thế sẽ chết chìm,và mất mạng.”
Lão thợ mộc đáp lời: “Than ôi, vợ tôi!
Nàng phải chết chìm sao? Chao ôi, Alison của tôi!”
Vì quá đau buồn mà lão gần như quỵ xuống,
Rồi thốt lên: “Chẳng lẽ không cách nào cứu vãn được sao?”
“Ồ, có chứ, thề có Chúa,” Nicholas ranh mãnh trả lời,
“Nếu ông chịu hành động theo tri thức và lời khuyên của tôi.
Ông không được làm theo ý riêng mình;
Vì Vua Solomon đã nói rất đúng:
“Cứ làm theo lời khuyên, ngươi sẽ không phải hối tiếc.”
Và nếu ông chịu nghe theo lời khuyên đúng đắn,
Tôi cam đoan chẳng cần đến cột buồm hay cánh buồm,
Tôi vẫn sẽ cứu được nàng, được ông và chính tôi.
Ông chưa từng nghe chuyện Noah được cứu thế nào sao,
Khi Đức Chúa đã cảnh báo ông ta
Rằng cả thế gian bị hủy diệt bởi nước lũ?”
“Có chứ,” lão thợ mộc đáp, “tôi biết từ lâu rồi.”
“Ông cũng hay rồi chứ,” Nicholas tiếp,
“Về nỗi khổ của Noah và những người đồng hành,
Trước khi ông ta lôi được bà vợ mình lên tàu?
Tôi dám cá rằng, vào lúc bấy giờ,
Ông ta thà hy sinh đàn cừu đen quý giá
Để bà vợ có hẳn con tàu riêng cho rồi.
Vậy nên, ông biết điều gì tốt nhất để làm bây giờ không?
Việc này cực kỳ khẩn cấp, mà với những chuyện gấp gáp thế này
Không nên thuyết giáo hay chần chừ lâu la.”
“Bây giờ hãy mau tìm trong gia trang này này
Một cái máng nhào, hoặc thùng gỗ lớn,
Mỗi người một chiếc, hãy chọn loại thật to,
Để có thể nổi lềnh bềnh như trên một con thuyền,
Lại tích trữ vào đó đủ phần lương nhu,
Dùng trong một ngày - còn lại thảy kệ!
Nước sẽ rút và tan biến chẳng còn gì
Vào khoảng chín giờ sáng ngày hôm sau.
Gã hầu Robin không được phép biết,
Kể cả con hầu Gille cũng chẳng thể cứu được;
Chớ hỏi vì sao, bởi dù ông gặng hỏi,
Tôi cũng chẳng thể tiết lộ thiên cơ của Chúa.
Bấy nhiêu đã là đủ phước, trừ phi ông muốn hóa điên,
Khi được hưởng ân điển lớn lao như Noah ngày trước.
Vợ ông, chắc chắn tôi sẽ cứu được nàng, đừng nghi ngờ.
Giờ đi ngay đi, khẩn trương hành sự!”
“Nhưng khi ông đã sắm đủ cho vợ, cho ông và cho tôi,
Cả thảy ba chiếc máng nhào bột đó,
Thì hãy treo chúng thật cao sát mái nhà,
Cốt để thế gian chẳng thể dòm ngó sự chuẩn bị của chúng ta.
Hành sự xong xuôi như lời tôi căn dặn,
Lại khéo đặt vào trong đủ lượng lương nhu,
Chuẩn bị thêm một chiếc rìu để chặt đứt dây thừng,
Đợi lúc nước dâng cao, ta cùng nhau khởi hành.
Đục một lỗ hổng trên đầu hồi cao vút,
Hướng về phía vườn, ngay phía trên chuồng ngựa,
Để có thể tự do xuôi dòng,
Khi trận mưa lớn đã tạnh hẳn.
Lúc ấy ông sẽ dập dềnh vui sướng, tôi đoan chắc,
Tựa hồ vịt trắng tung tăng bơi sau bóng vịt bầu.
Rồi tôi sẽ cất tiếng gọi: ‘Này, Alison! Này, John!
Vui lên đi, nước lũ sắp rút rồi.’
Và ông sẽ đáp lại: “Chào thầy Nicholas!
Chào buổi sáng, tôi thấy thầy rồi, trời đã rạng.”
Rồi chúng ta sẽ làm chủ cả thế gian suốt đời,
Giống hệt như ông Noah và vợ ông buổi xưa kia.”
“Nhưng tôi phải lưu ý ông thật kỹ một điều:
Hãy hết sức cẩn trọng vào chính cái đêm đó,
Khi tất cả chúng ta đã bước lên “thuyền” của mình,
Tuyệt đối không một ai được hé môi một lời,
Đừng gọi nhau, cũng đừng kêu gào, phải chú tâm cầu nguyện;
Bởi đó chính là ý chỉ linh thiêng của Thiên Chúa.”
“Ông và vợ phải treo máng cách xa nhau,
Cốt giữa hai người không nảy sinh tội,
Chẳng những hành động mà ngay cả cái nhìn cũng không được.
Lời răn bảo đã xong. Đi đi, cầu Chúa phù hộ cho ông thành công!
Đêm mai, khi mọi người đã ngủ say,
Chúng ta sẽ cùng chui vào những chiếc máng nhào bột này,
Rồi ngồi yên đó mà chờ đợi ân điển của Thiên Chúa.
Cứ thế mà làm; tôi không còn thời gian
Để đứng đây thuyết giảng dài dòng thêm nữa.
Người ta vẫn bảo: “Giao việc cho kẻ khôn thì chẳng phải nói nhiều.”
Ông vốn đã tinh tường, đâu cần dạy bảo chi thêm.
Hãy đi cứu lấy mạng sống của chúng ta, tôi khẩn nài ông đấy.”
Lão thợ mộc khờ khạo lầm lũi bước đi.
Không ngớt than thân trách phận: “Ôi trời ơi, khốn khổ cho tôi quá!”
Rồi lão đem thiên cơ ấy kể lại cho vợ,
Nhưng nàng vốn đã tường tận, thậm chí hơn cả lão,
Rằng mưu đồ xảo quyệt này thực chất có ý gì.
Song vẫn giả vờ như sắp chết vì kinh hãi,
Nàng than vãn: “Trời ơi! Mau chuẩn bị ngay thôi,
Hãy giúp tất cả thoát nạn, kẻo sẽ phải bỏ mạng mất!
Em là vợ hiền, chung thủy sắt son của anh;
Đi đi mình, hãy cứu lấy mạng chúng ta!”
Chao ôi, cái thứ gọi là tình cảm mới ghê gớm làm sao!
Người ta có thể chết vì trí tưởng tượng của mình,
Bởi những hình ảnh ám ảnh có thể hằn sâu đến thế.
Lão thợ mộc khờ khạo bắt đầu run cầm cập;
Lão cứ ngỡ như mình đang thấy tận mắt
Trận lũ của Noah cuồn cuộn dâng lên như biển
Để nhấn chìm Alison, cô vợ ngọt ngào của lão.
Lão khóc lóc, rên rỉ, mặt mày thảm hại;
Lão thở dài thườn thượt đầy đau khổ;
Lão đi kiếm một cái máng nhào bột,
Rồi thêm cái thùng cùng vại lớn,
Lén lút đưa chúng về nhà mình,
Rồi âm thầm treo tất cả lên xà nhà.
Tự tay lão đóng ba chiếc thang gỗ,
Để leo theo các bậc đến tận nơi
Những cái thùng treo lơ lửng trên xà nhà.
Lão chất đầy lương thực vào thùng cùng máng,
Nào bánh mì, phô mai và một bình bia ngon,
Chỉ vừa đủ dùng cho đúng một ngày.
Nhưng trước khi chuẩn bị xong xuôi mọi thứ,
Lão đã đuổi tên đầy tớ và cả con bé hầu đi,
Bảo chúng là có việc gấp phải lên London.
Và đến tối Thứ Hai, khi trời bắt đầu sầm,
Lão đóng chặt cửa nhà, chẳng thắp lấy ngọn nến,
Rồi sắp xếp mọi thứ đâu vào đấy.
Chẳng mấy chốc, cả ba người cùng leo lên thùng;
Họ ngồi im phăng phắc trong khoảng vài ba phút.
“Nào, hãy đọc Kinh Lạy Cha rồi im lặng!” Nicholas lên tiếng,
“Suỵt!" John đáp, và Alison cũng khẽ: “Suỵt!”
Lão thợ mộc bắt đầu lầm rầm thành kính,
Lão ngồi im phắc, mồm luôn cầu nguyện,
Cố lắng tai nghe tiếng mưa trút.
Một cơn ngủ say như chết, vì bao việc nhọc nhằn,
Đã ập đến lão thợ mộc, tôi đoán đúng là như thế,
Vào khoảng giờ giới nghiêm, hoặc muộn hơn một chút;
Vì tâm hồn quá đỗi ưu phiền mà lão rên rỉ,
Rồi lão ngáy khò khò vì cái đầu nằm sai tư thế.
Nicholas rón rén bước xuống thang,
Và Alison cũng nhanh chóng lẻn xuống thật khẽ;
Chẳng nói thêm lời nào, họ tiến thẳng đến giường,
Chính là cái giường mà lão thợ mộc vẫn thường nằm.
Ở đó bắt đầu cuộc vui và những khúc hoan lạc;
Và thế là Alison cùng Nicholas nằm bên nhau,
Mê mải trong cuộc vui cùng khoái trá,
Cho đến khi tiếng chuông đọc kinh sớm bắt đầu vang lên,
Và các tu sĩ trong nhà nguyện cất tiếng ca.
Gã thư lại giáo xứ ấy, gã Absolon si tình,
Lúc nào cũng ủ rũ, sầu khổ vì yêu đương,
Vào hôm Thứ Hai gã đang ở vùng Oseneye,
Cùng đám bạn hữu vui chơi giải khuây.
Tiện thể gã lân la hỏi chuyện vị tu sĩ trong vùng,
Hỏi dò kín kẽ về lão thợ mộc John;
Vị tu sĩ kéo gã ra một góc ngoài nhà thờ,
Rồi nói: “Tôi cũng chẳng rõ; không thấy lão làm việc quanh đây
Từ hôm Thứ Bảy tới giờ; tôi đồ rằng lão đã đi xa
Để đi lấy gỗ theo lệnh cha bề trên;
Vì lão vẫn thường hay đi lấy gỗ như thế
Và ở lại trang trại một hay hai ngày;
Hoặc giả là lão đang ở nhà thôi, chắc chắn rồi.
Còn đích xác ở đâu thì tôi không chắc.”
Gã Absolon cảm thấy phớn phở lạ thường,
Gã thầm nghĩ: “Phen này nhất định phải thức trắng đêm,
Vì chắc chắn là từ lúc hừng đông tới giờ,
Ta chẳng thấy lão thợ mộc lảng vảng quanh cửa nhà lấy một lần.”
“Thề có trời đất, ngay lúc gà vừa gáy sáng,
Ta sẽ lén đến gõ cửa sổ nhà nàng,
Cái cửa sổ nằm thấp ngay sát tường phòng ngủ.
Ta sẽ trút hết với Alison
Nỗi tương tư này, chẳng thể lỡ cơ hội,
Rằng ít nhất ta phải được hôn nàng một lần.
Thề có đức tin, ta nhất định được an ủi chút lòng.
Cả ngày nay cái miệng ta cứ ngứa ngáy lạ lùng;
Hẳn là điềm báo sắp được hôn nàng.
Suốt đêm qua ta còn mơ thấy mình dự tiệc linh đình.
Thế nên giờ ta cần chợp mắt một hai tiếng hẵng,
Rồi cả đêm ta sẽ thức trắng vui vầy cùng tình nương.”
Vừa nghe tiếng gà gáy lần đầu, tức thì
Gã si tình lịch lãm Absolon liền bật dậy,
Điểm trang lộng lẫy, trau chuốt từng li.
Trước tiên gã nhai thảo quả với cam thảo,
Để hơi thở ngọt ngào rồi chải chuốt mái tóc.
Gã còn ngậm thêm lá tình quân11 dưới lưỡi,
Vì tin rằng làm vậy sẽ chiếm được cảm tình.
Gã lân la đến nhà lão thợ mộc,
Rồi đứng lặng dưới ô cửa sổ nhỏ
Ô cửa thấp tè, chỉ cao ngang ngực gã
Gã khẽ hắng giọng một tiếng thật êm:
“Nàng đang làm gì đó, hỡi tổ ong mật, Alison ngọt ngào?
Hỡi con chim xinh đẹp, hỡi nhành quế thơm tho của ta?
Hãy thức dậy đi, người yêu hỡi, và nói với ta vài lời!
Nàng chẳng mảy may đoái hoài đến nỗi khổ của ta,
Rằng vì yêu nàng mà ta đổ mồ hôi hột bất cứ nơi đâu.
Chẳng trách sao ta hầm hập và vã mồ hôi như tắm;
Ta thương nhớ nàng như con chiên non khát bầu vú mẹ.
Thật đấy, người yêu ơi, ta tương tư nàng da diết
Nỗi sầu muộn của ta thủy chung tựa chim gầm ghì.
Ta chẳng ăn uống được, chỉ nhấm nháp như thiếu nữ.”
“Cút khỏi cửa sổ ngay, đồ ngốc!” nàng quát;
“Thề có Chúa, chẳng có chuyện “đến đây hôn em” đâu nhé.
Ta yêu người khác rồi - không yêu mới là lạ -
Và người đó tốt hơn ngươi gấp vạn lần, thề có Chúa, Absolon ạ!
Biến đi cho khuất mắt, không ta ném đá cho bây giờ,
Để yên cho ta ngủ, mặc xác cái đồ nhà ngươi!”
“Than ôi!” Absolon than vãn, “thật khốn khổ cho tôi,
Cớ sao tình chân thành lại gặp cảnh trớ trêu!
Vậy thì hãy hôn ta một cái, nếu chẳng thể làm gì hơn,
Nhân danh tình yêu của Chúa, và vì chút tình nghĩa với ta.”
“Thế nếu được vậy, ngươi có chịu xéo đi ngay không?” nàng hỏi.
“Có chứ, chắc chắn rồi, người yêu hỡi,” Absolon đáp lời.
“Vậy thì chuẩn bị đi,” nàng nói, “ta tới đây.”
Rồi nàng khẽ nói thầm với Nicholas:
“Suỵt nào, anh sẽ được một trận cười thỏa thuê.”
Thế rồi Absolon quỳ mọp cả hai đầu gối,
Gã tự đắc: “Ta đúng là bậc quân tử vẹn toàn;
Vì sau chuyện này ta hy vọng sẽ còn nhiều thứ hay ho.
Người yêu hỡi, ban ơn đi; chim nhỏ ơi, hãy rủ lòng thương!”
Nàng vội vã mở toang cánh cửa sổ,
Rồi giục: “Mau lên, làm cho xong rồi biến đi,
Kẻo hàng xóm nhìn thấy ngươi bây giờ!”
Absolon lấy tay chùi miệng thật khô ráo.
Đêm tối như hũ nút, đen như nhựa đường và than,
Qua ô cửa sổ, nàng chìa bàn tọa ra ngoài,
Và Absolon, chẳng may rủi thế nào,
Đặt môi hôn đúng vào bàn tọa trần
Một cách đầy say mê, trước khi gã kịp nhận ra.
Giật mình lùi lại, ngỡ chuyện chẳng lành,
Vì gã thừa biết đàn bà chẳng thể có râu.
Thế mà gã lại cảm thấy một thứ gì đó thô ráp đầy lông lá,
Gã thốt lên: “Gớm ghiếc! Trời đất ơi! Ta vừa làm cái quái gì thế này?”
“Ha ha!” Nàng cười vang rồi sập mạnh cửa mành,
Absolon lầm lũi bước đi, lòng ê chề.
“Râu ư! Râu à!” Nicholas Khéo cười reo,
“Thề có thân xác Chúa, quả mỹ mãn thay.”
Absolon khốn khổ nghe chẳng sót một lời,
Vì quá đỗi oán hận, gã cắn chặt đôi môi,
Rồi tự nhủ thầm: “Ta nhất định bắt ngươi phải trả giá!”
Kìa ai đang chà, đang xát đôi môi,
Nào bụi đất, nào cát, nào rơm, nào vải, cả những mảnh gỗ vụn,
Chẳng phải Absolon đó sao, kẻ vẫn không ngớt than vãn: “Ôi trời!”
“Ta nguyện giao linh hồn này cho quỷ Satan,
Chứ chẳng thiết gì cái thị trấn này,” gã nghiến răng,
“Nếu không rửa được mối nhục này cho cam.
Than ôi,” gã than, “khốn thay, sao ta chẳng ngoảnh mặt đi!”
Ngọn lửa tình nồng cháy nay đã nguội lạnh và vụt tắt;
Bởi từ giây phút gã hôn nhầm vào nơi ấy,
Chuyện yêu đương chẳng đáng ngọn cỏ hoang,
Chứng si tình nay đã được chữa khỏi.
Gã liên hồi nguyền rủa thói trăng hoa,
Và khóc nức nở như đứa trẻ bị đánh đòn.
Lầm lũi bước đi, gã băng qua con phố,
Tìm đến bác thợ rèn mà người ta gọi là lão Gerveys,
Người đang bận rộn rèn những bộ đồ cày trong lò;
Mải mê mài sắc lưỡi cày và những mũi dao.
Absolon khẽ khàng gõ cửa,
Và gọi: “Mở cửa đi, Gerveys, mau lên!”
“Kìa, ai đó?” “Ta đây, Absolon đây.”
“Ô, Absolon! Thề có thánh giá linh thiêng,
Sao công tử lại dậy sớm thế này? Ơ kìa, lạy Chúa!
Có chuyện gì làm phiền ngài vậy? Chắc hẳn là cô nàng xinh tươi nào đó, Chúa chứng giám cho,
Đã khiến ngài phải tất tả ngược xuôi như thế này.
Nhân danh Thánh Note, ngài quá hiểu ý tôi mà.”
Absolon chẳng thiết lấy một đồng,
Mặc lão trêu đùa, chẳng đáp lấy một câu;
Bởi gã còn bao việc lớn đang âu lo,
Vượt xa tầm hiểu biết của Gerveys; gã bèn nói: “Này bạn quý,
Cái mũi dao cày đang đỏ rực trong lò kia,
Hãy cho ta mượn; ta đang có việc cần kíp,
Rồi ta sẽ mang trả lại ngay.”
Gerveys đáp: “Dẫu đó là vàng ròng,
Hay một túi đầy tiền bạc đếm chẳng xong,
Ta cũng sẵn lòng trao, lấy danh dự thợ rèn làm bảo chứng.
Ơ kìa, thề có kẻ thù của Chúa! Ngài định làm gì với thứ đó đây?”
Absolon đáp: “Chuyện đó cứ để mặc sau này.
Đến ngày mai, ta sẽ kể ngọn ngành cho hay.”
Gã liền nắm lấy chuôi thép lạnh của mũi dao cày đỏ rực,
Rồi khẽ bước đi khỏi cửa lò,
Tiến thẳng về phía bức tường nhà lão thợ mộc.
Gã lại hắng giọng, rồi đưa tay gõ cửa,
Ngay tại ô cửa sổ nọ, y hệt như lúc trước đã từng.
Alison cất tiếng hỏi: “Kẻ nào ngoài đó,
Gõ cửa dồn dập vậy? Ta đoan chắc lũ trộm đạo mà thôi!”
Gã đáp: “Ôi chẳng phải đâu, Chúa chứng giám cho, hỡi người thương mến,
Ta là Absolon của nàng đây, hỡi người tình nhỏ.
Ta có mang theo một chiếc nhẫn vàng để tặng nàng đây.
Vật này do mẫu thân ta để lại, nguyện cầu Chúa phù hộ cho ta;
Nhẫn quý vô ngần, lại được chạm trổ tinh vi.
Ta sẽ dâng tặng nàng, chỉ xin một nụ hôn thôi.”
Nicholas bấy giờ vừa chồm dậy định đi tiểu,
Bỗng nảy ra ý bồi thêm cho trò đùa phần đặc sắc;
Gã muốn Absolon phải hôn bàn tọa của mình trước khi gã chạy thoát.
Gã vội vã đẩy toang cửa sổ,
Rồi lén lút đưa bàn tọa của mình ra ngoài,
Chìa cả mông cho đến tận xương háng;
Và bấy giờ, gã thư lại Absolon liền cất tiếng:
“Lên tiếng đi chim nhỏ, ta chẳng biết nàng ở phương nào.”
Nicholas tức thì phóng một luồng uế khí,
Vang dội tựa tiếng sấm sét nổ ngang tai,
Luồng chấn động ấy khiến Absolon suýt mù quáng;
Song gã đã lăm lăm thanh sắt đỏ trong tay,
Nhắm thẳng giữa bàn tọa Nicholas mà giáng đòn.
Một mảng da rộng bằng bàn tay tức thì bong tróc,
Mũi dao cày nóng đỏ đã thiêu cháy cả bàn tọa,
Đau đớn thấu xương gan, như chết đi sống lại.
Gã gào thét điên cuồng trong cơn thống khổ tột cùng:
“Cứu với! Nước! Nước đâu! Cứu ta với, nhân danh trái tim Chúa!”
Lão thợ mộc bừng tỉnh giữa giấc nồng,
Nghe tiếng hét “Nước! Nước!” tựa kẻ điên,
Lão kinh hãi: “Than ôi, nạn lụt của Noah đến rồi!”
Chẳng kịp thốt thêm lời, lão bật dậy ngay tức khắc,
Vung rìu sắc, chặt dây thừng làm hai,
Thế là tất cả rơi thẳng xuống; lão chẳng màng dừng lại,
Chẳng thiết bánh mì hay rượu bia, cho đến khi chạm mặt sàn đá,
Nằm sõng soài trên đất, bất tỉnh chẳng biết gì.
Alison cùng Nicholas tức tốc dựng dậy,
Gào thét: “Bớ người ta! Cứu với!” vang động cả phố phường.
Hàng xóm láng giềng, từ kẻ hèn đến người quyền quý,
Kẻ chạy, người xô, trố mắt nhìn gã đàn ông nọ,
Kẻ vẫn đang ngất lịm, mặt cắt không giọt máu,
Cú ngã chí mạng khiến lão gãy lìa cánh tay.
Nhưng lão buộc phải đứng dậy mà đối mặt với tai vạ của mình;
Vì hễ lão mở miệng, liền bị át đi không thương tiếc
Bởi gã Nicholas tinh quái và nàng Alison.
Chúng rêu rao với thiên hạ rằng đầu óc lão đã phát rồ;
Rằng lão quá khiếp hãi trước nạn lụt lội của Nowel
Đến mức u mê, vì ảo tưởng hão huyền của bản thân
Mà đi sắm tận ba cái bồn nhào bột,
Rồi đem treo chúng lơ lửng trên nóc nhà;
Rằng lão đã khẩn khoản nài van họ, nhân danh lòng kính Chúa,
Cùng leo lên mái nhà để bầu bạn cho vui.
Người người đều cười thói hão huyền ấy;
Họ ngước nhìn lên mái nhà, trố mắt ngạc nhiên,
Rồi biến đau khổ của lão thành trò đùa rẻ mạt.
Dẫu cho lão thợ mộc có ra sức phân trần,
Thì cũng bằng thừa; chẳng ai thèm nghe lời lão nói.
Bằng những lời thề thốt đanh thép, chúng đã vùi dập lão,
Khiến cả thị trấn đinh ninh rằng lão đã phát điên;
Bởi đám môn sinh đồng lòng bao che cho nhau.
Chúng bảo rằng: “Lão này điên rồi, người anh em ạ”;
Và thế là ai nấy cười vang trước cảnh hỗn loạn ấy.
Âu cũng là cái kết: vợ lão thợ mộc đã bị chiếm đoạt,
Mặc cho lão dày công canh giữ và ghen tuông hết mực,
Còn Absolon thì đã hôn nhầm con mắt phía dưới của nàng,
Và Nicholas lại bị một phen bỏng cháy bàn tọa.
Truyện đến đây là hết, nguyện Chúa phù hộ cho cả đoàn chúng ta!
Thanh Nghi dịch
Chú thích:
1. Nhân vật Pilate trong văn cảnh này không chỉ trỏ đến nhân vật lịch sử mà còn gợi nhắc trực tiếp đến lối diễn xuất đặc thù trong các vở Kịch tôn giáo (Mystery Plays) thế kỷ 14. Trên sân khấu dân gian đương thời, Pilate thường được khắc họa như một bạo chúa hống hách với “giọng nói cực đại”, thô lỗ và đầy vẻ đe dọa nhằm lấn át đám đông.
2. Tên riêng của nhân vật Quản sự.
3. Trong giáo dục Trung cổ, Thất nghệ (Seven Liberal Arts) là khung chương trình học thuật kinh điển tại các đại học như Oxford.
4. Tủ gỗ đặc trưng thời Trung cổ, trang bị cơ cấu trục vít để ép phẳng các tấm vải linen hoặc len thay cho bàn là. Trong văn cảnh này, tủ của Nicholas được phủ một tấm vải len đỏ quý giá (faldyng reed), minh chứng cho sự trau chuốt và tiện nghi trong đời sống.
5. Dionysius Cato, tác giả ẩn danh của cuốn sách giáo khoa kinh điển: Disticha Catonis. Vào thời của Chaucer, Disticha Catonis là cuốn sách giáo khoa chuẩn mực dùng để dạy tiếng Latin cho trẻ em. Nó là tập hợp các câu thơ đôi bằng tiếng Latin, đưa ra những lời khuyên đạo đức và thực tế về cuộc sống.
6. Prymerole là loài hoa thanh cao, thường gắn liền với sự tinh khiết và mùa xuân của giới quý tộc.Việc đặt hai loài hoa này cạnh nhau cho thấy vẻ đẹp của nàng là sự pha trộn giữa quyến rũ và thô trần của bản năng.
7. Vào thế kỷ 14, piggesnye là một từ lóng dùng để gọi người yêu một cách thân mật. Trong quan niệm thẩm mỹ bình dân thời đó, đôi mắt lợn được coi là nhỏ, tròn, lấp lánh và đầy sức sống.
8. Ở dòng 3275, tác giả sử dụng từ này như một tính từ để mô tả sự thông thái và tinh quái đặc trưng của giới học giả Oxford: As clerkes ben ful subtile and ful queynte; (Bởi đám môn đồ vốn dĩ tinh quái và đầy mưu mẹo). Tuy nhiên đến dòng 3276, queynte được dùng với chức năng danh từ để chỉ bộ phận nhạy cảm của phụ nữ. Đây chính là tiền thân của từ cunt trong tiếng Anh hiện tại.
9. Trong tiếng Anh trung cổ, đây là một thành ngữ dùng để chỉ việc làm một điều gì đó hoàn toàn vô ích, phí công vô kể, hoặc bị bỏ rơi, bị từ chối thẳng thừng.
10. Vào thời Trung cổ, những người ít học như lão thợ mộc thường không nắm rõ thần học hay kinh văn. Họ thường học thuộc lòng các bài kinh hoặc bùa chú qua truyền miệng, dẫn đến việc các nhân vật tôn giáo bị gán thêm những mối quan hệ gia đình không có thật.
11. Loài cây này thường có bốn chiếc lá mọc đối xứng, trông rất giống một nút thắt dây thừng.
