favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Xuân 2026
Next

The Friar's Prologue

12/04/2026 08:39

Bậc khất sĩ hiền, bậc tu sĩ danh giá,

Luôn giữ vẻ hằm hằm tối tăm thay

Nhìn viên Đòi án, nhưng vì giữ lễ nghi

Chẳng thốt lời thô bỉ, chưa nhục mạ một khi.

Đoạn rồi ông nói cùng người vợ vùng Bath:

"Thưa Bà," ngài thưa, "Chúa ban phước trường sinh!

Bà kháp chạm tới, nguyện tôi đặng hanh thông,

Chuyện chốn hàn lâm, uẩn khúc thật vô cùng.

Bao lời bà giảng, tôi thấy thật tinh tường;

Nhưng Phu nhân hỡi, trên dặm dặm nẻo đường,

Ta đừng bàn chi, ngoài những chuyện vui chơi [1].”

Gác lại kinh thư [2], nhân danh Chúa nguyện cầu,

Cho buổi giảng kinh, đạo viện vốn cao sâu.

Nhưng nếu thuận lòng bầu bạn chốn này đây,

Tôi kể chuyện vui gã Đòi án nọ vầy.

Thề có Chúa, nghe tên hẳn biết ngay,

Chẳng lời tốt đẹp dành đòi án hạng này;

Cầu xin chớ có ai phật ý lời đây.

Đòi án là kẻ chạy [3] ngược rồi chạy xuôi,

Trát đòi dâm dục cầm rượt đuổi người đời [4],

Đáng đánh tơi bời ở tận cuối làng thôi.

Chủ quán bèn thưa: "Ôi ngài, hãy nhu hòa,

Đúng lễ nghi, xứng phẩm bậc tôn nghiêm;

Chốn đồng hành, xin gạt bỏ hờn [5] riêng,

Hãy kể chuyện, mặc kệ Viên đòi án."

"Không," Viên Đòi án rằng, "cứ để mặc hắn thôi,

Nói gì tùy thích; khi đến lượt phiên tôi,

Thề có Chúa, tôi trả đủ từng xu.

Tôi sẽ kể hắn nghe vinh quang dường thế,

Của hạng khất sĩ nịnh hót khắp mọi nơi,

Cùng bao nhiêu tội ác khác nữa trên đời,

Mà lúc này đây chưa cần nhắc lại ngay;

Chuyện nghề của hắn, tôi bày rõ phen này."

Chủ quán đáp: "Thôi, hãy im lặng ngay!"

Quay sang Thầy tu, ông cất giọng giãi bày:

"Kể tiếp đi ngài, bậc thầy kính mến ơi."

The Friar's Tale

Thuở xưa tại quê tôi, ngự trị một phương trời,

Ngài tổng phó tế, phẩm trật bậc cao ngôi,

Chấp pháp thẳng tay, quyết liệt chẳng nể nang,

Trừng trị lũ dâm ô, tà hạnh ngang tàng,

Chuyện thuật phù thủy, dắt mối chốn lầu xanh,

Tội phỉ báng người, gian dâm chẳng trọn lành,

Trộm của thánh đường, di chúc vốn mập mờ,

Khế ước gian manh, lễ thánh chẳng tôn thờ,

Vay nặng lãi cao, buôn thánh phẩm không ngờ.

Với phường tà hạnh [6], ngài gieo tai họa lớn,

Sa lưới rồi [7], chúng ca [8] giọng thảm sầu;

Kẻ nộp thuế vơi, nhục nhã trút lên đầu,

Nếu gã Cha sở [9], buông lời lời cáo giác.

Chẳng án phạt tiền [10], thoát tay ngài tàn ác.

Chút thuế mọn, chút lễ mọn [11] dâng lên,

Ngài khiến dân tình ai oán ca [12] rền;

Giám mục chưa kịp vung trượng bắt chiên,

Tên nằm trong sổ Ngài tổng phó tế.

Thế là ngài, với thẩm quyền trị vì,

Có quyền răn đe, xử phạt [13] tức thì.

Dưới trướng sẵn tay, viên đòi án vô lại,

Khắp đất Anh bang xảo quyệt thật khó qua;

Bủa lưới thám báo thâm hiểm chốn cùng hang,

Mách bảo cho hắn mối lợi kiếm bạc vàng.

Hắn sẵn tha cho phường tà hạnh đôi người,

Để chúng dẫn xác hai chục bốn mồi tươi.

Dẫu viên Đòi án, điên dại tựa thỏ hoang,

Tội ác quân tà [14], tôi chẳng ngại rêu rao;

Bởi ta nằm ngoài vòng chấn chỉnh của phường kia [15].

Chúng chẳng quyền gì quản hạt [16] đến thân ta

Trọn kiếp này đây, vĩnh viễn chẳng can dự.

“Thánh Phê-rô chứng! Lũ kỹ nữ lầu xanh [17],”

Viên đòi án rằng: “Cũng lọt khỏi quyền coi sóc đấy!”

“Im ngay! Tai ương nghịch cảnh ám thân ngươi!”

Chủ quán quát rằng: “Để ngài kể chuyện thôi.

Kể tiếp đi ngài, mặc kệ gã gào thét;

Chớ có nương lời, bậc thầy kính mến ơi.”

         Tên trộm gian manh, gã đòi án phường này,

Sẵn quân ma cô, luồn cúi ở trong tay,

Như chim cắt quý, sà xuống nhử mồi ngay;

Hắn nắm thâm cung, mọi bí mật trên đời,

Mối giao hảo cũ, nào mới mẻ chi người.

Lũ tay mắt ngầm [18] làm thám báo cho gã,

Lợi lộc béo bùi, gã nhét túi tham đã;

Chủ gã nào hay, gã xà xẻo bao nhiêu.

Chẳng cần trát lệnh, lừa kẻ u mê,

Dọa lời Chúa phạt hình tội ê chề;

Họ mừng dâng bạc, đổ đầy túi tham,

Mời tiệc rượu nồng, thỏa chí gian làm.

Như Judas xưa, giữ túi tiền con,

Chính quân trộm cắp, đạo đức chẳng còn;

Chủ gã thu về, chưa được nửa phần.

Hắn là, nếu tôi tặng hắn lời ca,

Tên trộm, đòi án, dắt mối gian tà.

Dưới trướng hắn, lũ kỹ nữ chực chờ,

Dù ngài Robert, ngài Huwe chẳng ngờ,

Hay Jakke, Rauf, hay bất luận là ai [19],

Hễ nằm cùng, chúng rỉ hết vào tai.

Gã cùng kỹ nữ, đôi bên một lòng,

Giả trát đòi gã múa bút thong dong,

Lôi cả đôi ra trước cửa tòa quan,

Lột sạch bạc chàng, tha kỹ nữ đoan trang.

Gã lại thỏ thẻ: "Vì nghĩa tình bạn thân,

Ta xóa tên nàng khỏi sổ đen ngàn cân;

Bạn chẳng cần lo, vụ án này chấm dứt,

Ta giúp bạn hiền, những khi đang khốn lực."

Mánh lừa lắt léo gã tường tận thay,

Kể suốt hai năm chẳng hết chuyện này.

Chẳng chó săn nào, tinh khôn bằng gã cả,

Biết hươu trúng thương, hay hươu lành thong thả;

Đánh hơi cực nhanh, lũ tà hạnh dâm ô,

Kẻ ngoại tình, phường tình tự xô bồ.

Bởi đó chính là hoa lợi béo bùi,

Nên gã dốc tâm [20] rình rập chẳng nguôi.

Sự tình nảy sinh vào một sớm mai,

Gã đòi án nọ rình mồi chẳng sai;

Cưỡi ngựa ép trát bà góa khọm già [21],

Bịa tội tống tiền, bản tính gian tà.

Chợt thấy đằng trước một người cưỡi rong,

Dáng vẻ rực rỡ bên bìa rừng thông [22];

Vai mang cung lớn tiễn sắc sáng ngời [23],

Áo choàng xanh lục [24] ngắn gọn thảnh thơi,

Mũ đen tua rủ che khuất mặt người [25].

“Chào ngài,” gã nói, “gặp được thật duyên may!”

“Chào đón bạn hiền,” người lạ mặt đáp ngay;

“Dưới bóng rừng xanh, ông cưỡi ngựa đi đâu?”

Yeoman hỏi: “Hành trình có xa sâu?”

Gã đòi án đáp: “Thưa ngài, chẳng xa đâu;

Quanh quẩn đây thôi dốc lòng bấy lâu;

Cưỡi ngựa thu về một khoản tiền thuê;

Vốn thuộc phần chủ, bổn phận [26] vẹn bề.”

“Ngài là quản gia?” - “Phải,” hắn gật đầu.

Vì nỗi nhơ [27], hổ thẹn tận thâm sâu;

Gã chẳng dám thưa mình viên đòi án,

Bởi cái danh kia bẩn tưởi chán ngán.

“Depardieux [28],” yeoman đáp, “anh em [29] yêu dấu,

Anh là quản gia tôi cũng thế thôi.

Đất này xa lạ tôi mới đến nơi;

Mong được cùng anh kết nghĩa giao bôi,

Thành bậc huynh đệ nếu ông chẳng chối.

Vàng bạc trong rương tôi đầy một khối;

Nếu dịp ghé thăm vùng đất của tôi,

Mọi thứ thuộc anh, như sở nguyện rồi.”

“Đa tạ,” gã thốt, “chứng đức tin tôi!”

Tay trong tay nắm trao gửi lòng tin,

Thề làm huynh đệ [30] đến thác mới lìa.

Cùng nhau cười nói rong ruổi dặm xa.

Gã đòi án nọ, ba hoa chuyện nhảm [31],

Như chim đồ tể [32] kia nọc độc chứa chan;

Chẳng sót chuyện đời tọc mạch hỏi han:

“Này người anh em nhà anh phương nao?

Để mai tìm đến biết lối mà vào?”

Gã quản gia đáp giọng nhỏ êm tai [33],

“Người anh em, tận phương Bắc thẳm xa [34],” 

“Hy vọng một ngày, ta lại gặp tại nhà;”

“Trước lúc chia tay tôi chỉ lối [35] tường tận,”

“Để anh chẳng bao giờ lạc mất cửa nhà tôi.”

“Này huynh đệ,” gã khẩn nài tha thiết,

“Dặm đường xa xin chỉ giáo bí truyền;

Cùng quản gia, chung một hội thuyền quyên,

Bày mánh lới thực lòng [36] đừng giấu giếm:

Nghề chúng mình làm sao vơ vét đậm?

Mặc tội khiên, mặc lương tâm cắn rứt,

Nghĩa anh em hãy chỉ lối thực hư.”

         “Bằng lòng tin này, huynh đệ quý của tôi,”

“Chuyện thật tôi kể chẳng có chút đãi bôi:

Lương bổng của tôi bạc bẽo và eo hẹp ;

Chủ tôi khe khắt bóp chắt đủ trăm đường;

Chức phận gian nan nhọc nhằn tả khôn xiết,

Nên phải tống tiền mới sống được đề huề.

Quả thực, ai tự nguyện [37] cho tôi cũng lấy chẳng chê.

Dẫu mưu sâu hay bạo lực bạo tàn,

Năm nối năm, tôi kiếm đủ chi dùng;

Thật lòng mình, chẳng lời lẽ nào hơn.”

         “Thật tình,” gã đáp, “tôi cũng y hệt ngài,

Vớ được món nào, Chúa biết, chẳng hề chê,

Trừ phi nặng quá hay nóng bỏng tay thôi [38].

Những gì tống được lén lút chốn riêng tư,

Lương tâm tuyệt đối chẳng mảy may ưu phiền.

Chẳng nhờ trấn lột, tôi sống sao đây,

Mấy trò gian ấy xưng tội chẳng bày.

Lòng dạ, lương tâm, tôi đây trống rỗng,

Mấy lão cha đạo tôi nguyền rủa thẳng.

Gặp ngài thật quý, ơn Chúa, Thánh James [39]!

Nhưng anh em hỡi, tên ngài là chi?

Gã đòi án hỏi. Trong lúc đó thôi,

Gã quản gia nọ lại khẽ mỉm cười.

         “Anh em hỡi,” gã bảo, “muốn nghe chăng?

Ta là quỷ dữ; ngục hình là chốn ở,

Ta rong ruổi đây rình rập thu lời,

Xem kẻ nào có chịu dâng ta chi.

Lợi thu được chính là nguồn bổng lộc.

Hãy nhìn xem anh cũng chung ý định,

Cốt vơ vét anh chẳng nề chi cách;

Ta cũng vậy sẵn lòng ruổi ngựa ngay,

Tới tận cùng trần thế để săn mồi.”

         “A!” gã kêu lên, “Lạy Chúa tôi! Ngài nói sao?”

Tôi cứ ngỡ ngài đích thực một quản gia.

Ngài cũng mang lốt người hệt bản thân tôi;

Vậy dưới địa ngục lúc ngự đúng ngôi vị,

Ngài có hình thù cố định nào hay không?”

         “Chẳng có đâu [40],” gã đáp, “thật chẳng sai;

Ở dưới đó chúng ta không hình hài;

Nhưng hễ muốn ta khoác vào một lốt,

Hoặc vờ như có vóc dáng hẳn hoi;

Lúc giống người khi tựa khỉ [41] leo trèo,

Hoặc thiên thần ta ruổi ngựa dõi theo.

Chuyện như thế chẳng có gì kỳ lạ;

Gã ảo thuật quèn còn lừa được anh thay,

Ta đây, lạy Chúa, cao tay ấn hơn nhiều.”

         “Tại sao,” gã hỏi, “ngài cứ đổi dạng thay hình,”

“Lúc đi lúc cưỡi, chẳng giữ một bóng hình?”

         “Bởi chúng ta,” hắn đáp, “biến hóa đủ kiểu cách,”

“Sao cho tóm gọn con mồi một cách nhanh nhất.”

         “Nhưng điều gì khiến ngài phải nhọc công đến thế?”

         “Lắm lý do [42] thay, viên đòi án thân yêu,”

Quỷ đáp lời, “nhưng mọi việc đều có kỳ;

Ngày thì ngắn, giờ vàng [43] đã trôi đi,

Mà ta đây chưa thu hoạch được gì.

Ta dồn ý định vào việc kiếm lời,

Chẳng màng phô diễn trí tuệ sâu xa;

Bởi anh bạn hỡi đầu óc quá đơn sơ,

Ta có giảng giải anh cũng chẳng hiểu thấu.

Nhưng đã lỡ hỏi: sao chúng ta nhọc nhằn—

Vì đôi khi, ta là công cụ của Ngài,

Làm phương tiện thực thi mọi lệnh truyền;

Khi Ngài muốn trút xuống các tạo vật,

Bằng muôn phương cách, muôn vạn hình hài.

Chẳng có Ngài ta tuyệt không quyền phép,

Nếu Ngài muốn ngăn cản bước đường ta.

Lắm lúc khẩn nài ta mới được ban,

Chỉ hành xác thân linh hồn chẳng dám phạm;

Cứ nhìn gương Job, chịu muôn nỗi khổ nạn.

Cũng có khi ta nắm trọn cả hai —

Cả xác lẫn hồn, đày đọa chẳng sai.

Lại có khi ta được phép rình rập,

Khiến hồn bất an, thân xác vẫn yên lành,

Và sau cùng mọi sự lại hóa hay.

Khi kẻ ấy vững vàng trước cám dỗ,

Đó chính là căn nguyên sự cứu rỗi;

Dẫu đó chẳng phải ý nguyện của ta,

Rằng hắn được cứu; ta chỉ muốn tóm đi.

Lắm khi ta cũng làm kẻ tôi đòi,

Hầu hạ thánh nhân như Dunstan thuở nọ,

Cả các tông đồ ta cũng phục dịch luôn.”

         “Nhưng hãy nói thật,” gã đòi án hỏi,

“Các ngài luôn tạo xác mới cho mình,

Từ các nguyên tố?” Quỷ đáp: “Chẳng phải.”

Lúc ta giả dạng, khi ta nhập vào,

Những xác người chết, theo muôn phương cách,

Và nói năng lưu loát, khéo léo, bùi tai,

Hệt như Samuel nói với Phitonissa.

(Dẫu thế gian bảo chẳng phải Samuel;

Ta mặc xác thần học các anh bàn.)

Nhưng nghe đây, ta cảnh báo anh chẳng đùa:

Anh cứ khăng khăng muốn biết hình hài ta;

Thì mai này người anh em thân mến,

Anh sẽ tới nơi chẳng cần ta dạy bảo,

Bởi chính anh bằng kinh nghiệm bản thân,

Sẽ ngồi ghế cao mà giảng về chân lý,

Còn hay hơn Virgil lúc sinh thời,

Hay Dante nữa. Giờ thúc ngựa đi thôi,

Ta sẽ kết thân, kề cận bên anh mãi,

Đến lúc nào anh ruồng rẫy mới thôi.”

         Chẳng đời nào,” gã đáp, “chuyện đó đâu xảy ra!

Ta là quản gia tiếng tăm ta lừng lẫy;

Lời thề danh dự ta giữ trọn phen này.

Dẫu ngài có là chính quỷ dữ Satan,

Thì lời thề với anh em ta vẫn cứ vuông tròn,

Như ta đã thề và đôi bên đã hứa,

Rằng sẽ là anh em chí cốt trong vụ này;

Và cả hai ta, cùng đi vơ vét lợi lộc [44] thôi.

Phần của ngài cứ lấy gì họ cho,

Ta cũng vậy; thế là cả hai ta cùng sống.

Nhỡ mai này kẻ ít người nhiều hơn,

Hãy cứ thành thật chia đều cho anh em.”

         “Ta chấp thuận,” Quỷ đáp, “lấy đức tin thề;”

Xong lời ấy cả hai cùng thúc ngựa.

Vừa chạm ngõ phía bìa làng thị trấn,

Nơi gã đòi án định ghé vào tống tiền,

Họ thấy một cỗ xe đầy ắp cỏ khô,

Gã phu xe đang đánh ngựa trên đường.

Đường lầy lội cỗ xe sa vũng lún,

Gã phu xe quất roi gào như rồ:

“Này Brok! Này Scot! Sao lại đứng im?”

“Quỷ bắt xác bay đi, cả xương thịt,

Như cái thuở chúng mày mới lọt lòng,

Ta chịu khổ với chúng mày quá đủ!

Quỷ lấy hết đi, cả ngựa, xe và cỏ!”

         Gã Đòi án bảo: “Sắp có cuộc vui vầy,”

Lại gần bên Quỷ, rón rén bước chân thay,

Hắn ghé tai Quỷ, thầm thì đầy kín kẽ:

“Nghe này anh bạn, đức tin hãy lắng nghe!

Ngài có nghe thấy gã phu xe vừa nói?

Hãy lấy đi ngay hắn dâng không cần hỏi,

Cả cỏ cả xe, cùng ba ngựa thồ luôn.”

         “Không,” Quỷ đáp, “Chúa biết, chẳng chút đâu!

Hắn chẳng có ý, tin ta một lời cầu.”

Cứ tự đi hỏi nếu anh không tin ta;

Hoặc chờ một lát sự thật sẽ hiện ra.”

         Gã phu vỗ nhẹ mông ngựa ta,

Chúng rướn mình rồi gập người kéo.

“Cố lên! Cầu Chúa ban phúc thay,

Cùng mọi tạo vật lớn nhỏ đây!

Kéo giỏi lắm rồi ngựa xám ơi,

Thánh Loy che chở Chúa thương ngươi!

Nhờ Chúa, xe thoát vũng lầy rồi!”

         Quỷ bảo: “Thấy chưa, anh bạn của ta ơi?

Anh nhìn cho rõ, anh em thiết tha này,

Miệng gã thốt vậy, lòng lại nghĩ khác nẻo.

Thôi ta tiếp tục, lên đường chuyến đi xa,

Thuế [45] xe ngựa ấy chẳng được lợi cho ta.”

         Khi họ vừa mới đi khỏi thị thành,

Gã lại thầm thì bên người anh em:

“Anh này, nơi đây có mụ già lụ khụ,

Thà lìa cái cổ, chẳng rời đồng xu.

Một xu tiền mọn cũng chẳng chịu chi!

Ta đòi mười hai, dù mụ có điên si,

Hoặc ta triệu mụ đến tòa chúng ta.

Dẫu Chúa biết mụ chẳng tội lỗi gì.

Vì anh chưa rành lối sống vùng này,

Hãy nhìn gương ta mà học lấy cho hay.”

         Gã Đòi án đập cửa nhà bà góa,

“Ra đây ngay, mụ già khú, già khọm [46]!

Ta đồ rằng mụ giấu giếm thầy tu,

Đang lén lút cùng mụ ở trong nhà.”

         “Ai đập cửa thế?” bà thưa: “Chúa ban ơn!

“Nguyện Chúa cứu độ, nhã ý ngài muốn chi?”  

Gã bảo: “Ta đây giữ trát hầu tòa,

Án phạt khai trừ [47] liệu liệu lấy thân già;

Sáng mai quỳ trước gối ngài Tổng quản,

Trả lời trước tòa về việc mụ phạm gian [48].”

Bà thưa: “Lạy Chúa, Vua của các vị Vua,

Xin hãy giúp con, khi sức con đã thua.

Tôi đã ốm đau ròng rã bấy lâu nay,

Chẳng thể đi xa cưỡi ngựa hay bộ cày.

Đau nhói mạn sườn như sắp chết đến nơi,

Xin trát tội danh thưa ngài Đòi án ơi?

Để người đại diện thay tôi đến trả lời,

Về những tội gì người ta buộc lên tôi.”

Gã bảo: “Thôi, xem nào, nộp ngay nhanh tay

Mười hai xu đây, tội xóa sạch [49] ngay.

Lợi lộc bao nhiêu ta hưởng đâu nào,

Chủ lấy hết cả ta được đồng nao?

Thôi mau lên đi cho ta còn dấn bước,

Mười hai xu mau, ta không chờ lâu được.”

“Mười hai xu!” bà kêu: “Lạy Mẹ Maria,

Xin độ trì con thoát tội chia lìa.

Dẫu cả thế gian con có trong tay,

Mười hai xu mọn chẳng lấy đâu đây.

Ngài biết con nghèo tuổi tác lại cao,

Xin rủ lòng thương kẻ khổ thế nào.”

Gã đáp: “Thế thì, Quỷ hốt xác ta đi,

Nếu ta tha mụ, dù mụ chết chẳng còn gì!”

“Chao ôi!” bà than, “Chúa biết tôi vô tội.”

Gã bảo: “Nộp đây! Thề Thánh Anne nhân từ,

Ta xách cái chảo mới của mụ như,

Một khoản nợ cũ mụ còn nợ ta.

Thuở mụ cắm sừng chồng mụ trước xa,

Ta nộp phạt thay để mụ thoát họa.”

“Ngươi nói dối!” bà kêu, “Nhân linh hồn ta,

Từ thuở làm dâu cho tới khi ở góa,

Chưa bao giờ bị triệu đến tòa ngươi;

Thân này ta giữ trọn vẹn cả đời!

Cho con Quỷ đen xù và thô nhám,

Cả xác ngươi cùng cái chảo này bám!”

         Và khi con Quỷ nghe lời rủa xả,

Thấy bà quỳ gối liền thưa rằng gã:

“Này Mabely, hỡi bà mẹ yêu dấu,

Lời bà vừa thốt, thật tâm hay giấu?”

“Để Quỷ bắt đi,” bà thưa, “trước khi tận,

Cả chảo này luôn trừ phi hắn hối hận!”

“Đĩ già!” gã đáp, “đừng có nằm mơ,

Ý ta chẳng muốn hối cải chuyện bao giờ,

Dù lấy của mụ bao nhiêu thứ đi nữa,

Ước lột sạch cả áo quần mụ cho vừa!”

“Này anh em,” Quỷ bảo, “chớ giận làm chi;

Xác ngươi và chảo, thuộc ta cai trị.

Ngươi theo ta xuống địa ngục đêm nay,

Để thấu bí mật nơi chốn hỏa đài,

Hơn cả bậc Thầy Thần học lừng danh.”

Dứt lời ác Quỷ vồ lấy gã nhanh;

Hồn xác theo Quỷ, gã phải dấn thân,

Nơi lũ Đòi án hưởng phần di sản.

Nguyện Chúa Đấng tạo nhân hình rạng rạng,

Dẫn dắt chúng con cứu chuộc muôn loài,

Cho lũ Đòi án hối cải từ nay!

Thưa chư vị tôi đã kể tường tận,

Nếu gã Đòi án đây chẳng khiến tôi nản lòng,

Theo lời Chúa, Thánh Paul, cùng Thánh John,

Và bao bậc Thầy lỗi lạc của Thánh đường,

Về những hình hài khiến lòng dạ kinh hoàng,

Mà chẳng lưỡi trần nào tả xiết cho xong,

Dẫu kể ngàn năm, năm tháng cứ trôi dòng,

Cực hình hỏa ngục vẫn mãi mãi mênh mông.

Để giữ mình khỏi chốn đầy nguyền rủa,

Hãy tỉnh thức cầu ơn thiêng gõ cửa,

Thoát Satan kẻ cám dỗ tinh ranh.

Lời hãy ghi! Cảnh giác vụ này nhanh:

“Sư tử kia luôn rình rập chờ thời,

Để hại kẻ lành khi sơ hở tới nơi.”

Luôn luyện lòng ta sẵn sàng đối mặt,

Lũ quỷ toan cầm tù và xiềng chặt.

Cám dỗ chẳng bao giờ quá sức người,

Có Chúa Kitô - Hiệp sĩ đời đời.

Cầu cho Đòi án hối cải lỗi lầm,

Trước khi Quỷ dữ lôi xuống vực thẳm!

 

Thanh Nghi dịch

 

Chú thích:

[1] Game ở đây vừa mang nghĩa chuyện giải trí, vừa mang nghĩa cuộc đấu trí và hạ nhục viên Đòi án.

[2] auctoritees: Thầy tu khuyên Wife of Bath hãy để các văn bản thần học cho các giáo sĩ. Đây là một sự mỉa mai kép: Ông ta vừa muốn tỏ ra mình là bậc thầy về những thứ đó, vừa muốn hương đám đông tập trung vào màn hạ nhục Viên đòi án sắp tới.

[3]  rennere: Trong xã hội Trung cổ, địa vị được xác định bằng sự tĩnh tại. Các quý tộc hay giáo sĩ cao cấp thường ngồi một chỗ để người khác đến bái kiến. Việc gọi Viên đòi án là rennere là một sự hạ thấp địa vị nặng nề.

[4] Đây là cú đòn đánh vào sự bẩn thỉu của nghề nghiệp. Viên đòi án chuyên đi rình mò những chuyện phòng the, những vụ ngoại tình để đưa trát tòa. Thầy tu cố tình nhấn mạnh vào từ “dâm dục” để gán cho Viên đòi án cái mác là kẻ chuyên chung đụng với những thứ nhơ nhớp nhất của xã hội.

[5] Ở thời của Chaucer, debaat không chỉ là thảo luận mà còn chỉ sự xung đột, tranh chấp làm phá vỡ sự thống nhất của nhóm hành hương.

[6] Tội dâm ô thời đó vừa dễ bị phát hiện nhờ tin đồn, vừa cực kỳ nhục nhã. Ngài tổng phó tế hiểu rằng nỗi sợ mất danh dự sẽ khiến moi được tiền rất nhanh.

[7] Hent: Gợi hình ảnh một cuộc đi săn. Giáo dân không phải là con chiên cần cứu rỗi, mà là con mồi cần bị bắt.

[8] Vừa là tiếng kêu vì đau đớn khi bị tra tấn, vừa là tiếng khai ra những kẻ đồng lõa hoặc nhận tội để tòa án có thêm đối tượng cần xử lý.

[9] Cha sở là người nắm rõ bí mật của từng nhà, chỉ cần một lời của Cha sở đến tai Ngài tổng phó tế, bộ máy tống tiền sẽ vận hành.

[10] pecunyal peyne: Pecunyal (tiền) bắt nguồn từ tiếng Latin pecunia, được Chaucer ghép với peyn (nỗi đau) tạo ra khái niệm đau khổ vì tiền.

[11] Chaucer lặp lại từ smal nhằm nhấn mạnh sự tận thu, vét cạn của ngài tổng phó tế.

[12] Chaucer tiếp tục dùng từ sing cho thấy tiếng ca của dân chúng không phải là lời ngợi ca Thiên Chúa mà là tiếng kêu khóc khi bị ép nộp những đồng xu cuối cùng.

[13] correccioun: Trong giáo luật Trung cổ, đây là một hành động mang tính bác ái. Mục tiêu của nó là chấn chỉnh linh hồn tội nhân, giúp họ nhận ra sai lầm để sám hối và quay lại với con đường sáng của Chúa.

[14] Harlotrye: Thời Chaucer từ này dùng để chỉ chung các hành vi gian xảo, lừa đảo, vô lại.

[15] Các Thầy tu dòng hành khất chỉ chịu sự quản lý của Giáo hoàng và bề trên dòng tu của họ. Họ đứng ngoài hệ thống tòa án của các Giám mục và Tổng phó tế.

[16] jurisdiccioun: Thầy tu dùng thuật ngữ luật học này để tạo vẻ trí thức và uy quyền hơn hẳn viên đòi án thất học.

[17] styves: Chỉ các nhà tắm công cộng nhưng thực chất là các nhà thổ. Khu vực Southwark ở London thời đó (nơi đoàn hành hương khởi hành) rất nổi tiếng với những nhà tắm như vậy.

[18] approwours: Trong luật Trung cổ, apprower là kẻ chuyên đi khai thác lợi nhuận từ đất đai hoặc các nguồn thu cho chủ. Thầy tu dùng từ này để mỉa mai rằng viên đòi án đã biến việc đi bắt tội nhân thành một ngành công nghiệp khai khoáng.

[19] Mạng lưới của gã không chừa một ai. Từ bậc chức sắc cao quý đến nông dân nghèo khổ, hễ ai sa chân vào bẫy tình của lũ kỹ nữ dưới trướng gã thì đều trở thành nạn nhân.

[20] entente:  Trong thần học trung  cổ, entente có nghĩa là “chủ tâm” - kim chỉ nam đạo đức định hình bản tính của một linh hồn. Đối với một giáo chức thời bấy giờ, entente lẽ ra phải là sự hướng thượng tuyệt đối về phía Thiên Chúa và lòng khao khát cứu rỗi chúng sinh.

[21] An old wydwe, a ribibe: Ribibe là một loại đàn dây cổ, nhỏ và nhọn. Chaucer dùng nó để chỉ những bà già nhăn nheo, gầy guộc và có giọng lanh lảnh, chói tai như tiếng đàn cũ.

[22] Trong văn học Trung cổ, rừng là một điểm trung gian nơi ranh giới giữa thế giới thực và thế giới siêu nhiên bị xóa nhòa. Đây là nơi những điều kỳ quái bắt đầu xảy ra, nơi luật pháp con người không còn hiệu lực.

[23] Ở đoạn trước, Viên đòi án được ví như “chó săn” thì ở đoạn này người lạ mặt xuất hiện với đầy đủ trang bị của một thợ săn thực thụ.

[24] Trong dân gian Trung cổ, màu xanh lục là màu của Yêu tinh hoặc Quỷ dữ khi chúng đội lốt người để đi vào thế giới này.

[25] Tương phản với vẻ rực rỡ ở phía trên, để lộ điểm bất thường của nhân vật.

[26] Duetee: Gã dùng ngôn ngữ của luật pháp để che đậy hành vi phi pháp.

[27] Filthe: dùng để chỉ rác thải, phân động vật hoặc những thứ thối rữa trên đường phố. Lời miêu tả này làm ta nhớ tới trong The General Prologue, Chaucer mô tả Viên đòi án có khuôn mặt đỏ gay, đầy mụn nhọt và lở loét mà ai cũng muốn tránh xa.

[28] Tiếng Pháp cổ có nghĩa là "Nhân danh Chúa".

[29] Trong xã hội Trung cổ, “huynh đệ” không chỉ là tình nghĩa mà là một cam kết pháp lý và tâm linh.

[30] Sworne bretheren: có nghĩa là họ sẽ chia sẻ mọi lợi nhuận, rủi ro và bảo vệ nhau đến cùng.

[31] Jangles: Trong tiếng Anh trung đại, từ này gợi lên âm thanh hỗn tạp, chói tai của những chiếc chuông bị rung lắc vô tội vạ.

[32] waryangles: chim đồ tể nổi tiếng với tập tính săn mồi tàn nhẫn: chúng treo xác con mồi lên các gai nhọn của bụi cây để ăn dần. Chaucer ví lời nói của viên đòi án như “nọc độc” của loài chim này vì mỗi lời gã nói ra đều có mục đích treo nạn nhân của mình lên những chiếc gai của luật pháp và tống tiền.

[33] Trong văn học trung cổ, Quỷ dữ thường được mô tả là kẻ có giọng nói êm ái, quyến rũ.

[34] Trong biểu tượng học Trung cổ và Kinh Thánh (như sách Isaiah 14:13), phương Bắc là nơi của bóng tối, cái lạnh và là đại bản doanh của Lucifer.

[35] Chaucer dùng từ wisse có nghĩa là dạy dỗ hoặc chỉ dẫn.

[36] Feithfully thường dùng cho những điều thánh thiện nhưng gã đòi án lại yêu cầu Quỷ phải thành thật dạy gã cách lừa lọc.

[37] wol: có nghĩa là ý chí tự nguyện. Quỷ dữ không thể cưỡng đoạt linh hồn. Hắn chỉ có thể nhận lấy cái mà con người muốn đưa cho hắn.

[38] Too heavy or too hot là một cách nói cực kỳ hình tượng về lòng tham vô độ.

[39] Thánh James là vị thánh của những người đi hành hương tìm sự hối lỗi. Việc gã thề bằng tên vị thánh này ngay sau khi từ chối xưng tội là một sự báng bổ đỉnh cao.

[40] Quỷ không có hình hài cố định vì trong thần học Trung cổ, cái Ác được coi là privatio boni (sự thiếu vắng cái Thiện).

[41] Trong văn hóa Trung cổ, Quỷ được gọi là Simia Dei (Con khỉ của Chúa). Con khỉ bắt chước con người một cách lố bịch, cũng như Quỷ bắt chước công việc của Chúa.

[42] Trong tiếng Anh trung đại, Cause vừa có nghĩa là "nguyên nhân", vừa có nghĩa là "vụ kiện". Quỷ đang ám chỉ rằng mỗi linh hồn xuống địa ngục là một vụ kiện riêng biệt mà hắn phải theo đuổi.

[43] Giờ kinh sáng (khoảng 6h-9h sáng).

[44] Purchas: Đây là từ lóng của giới quan chức và kẻ trộm thời Chaucer để chỉ những thứ "kiếm chác" được bên ngoài lương bổng chính thức.

[45] Trong luật phong kiến, cariage là một loại nghĩa vụ hoặc thuế mà nông dân phải nộp bằng việc dùng xe ngựa vận chuyển hàng hóa cho lãnh chúa.

[46] Virytrate là một thuật ngữ hiếm gặp trong tiếng Anh Trung cổ, thường được hiểu là sự kết hợp giữa gốc từ vireit (vặn vẹo/nhăn nheo) và trot (mụ già) để tạo ra hình ảnh một người phụ nữ già nua, xấu xí như phù thủy.

[47] Cursyng: Trong ngữ cảnh này có nghĩa là án Khai trừ khỏi giáo hội. Đây là hình phạt tâm linh cao nhất, biến một người thành kẻ bị ruồng bỏ vĩnh viễn.

[48] Certeyn thynges: có nghĩa là “một số việc”.

[49] Acquite: có nghĩa là “giải tội”. Gã dùng một từ thiêng liêng để chỉ một hành động phi pháp.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công