8. Rechele ở Lublin
Rechele được mười hai tuổi thì bà già chết, sau khi bị ngạt thở ba hôm, nằm trên một băng ghế dùng thay giường trong tiền phòng. Một cái khăn màu đỏ buộc quanh đầu, khuôn mặt bà đơ ra như mặt của một xác chết, cằm dựng lên và cặp mắt co giật mà người ta chỉ nhìn thấy mỗi lòng trắng. Chuyện xảy ra trong dịp Lễ Ăn năn, giữa Rosh Hashanna và Yom Kippur. Người ta nghe thấy tiếng lũ gà quàng quạc trong túp lều dùng làm lò mổ ở cuối sân, trộn lẫn với tiếng chí chóe của các bà nội trợ cùng người hầu của họ. Hiếm khi nào người ta tới xem người hấp hối ra sao, bởi tất cả mọi người đều rất bận. Reb Zeydel Ber, con rể bà, thỉnh thoảng hiện ra, người lấm máu, râu dựng đứng, mắt đỏ ngầu bên dưới hàng lông mày chổi sể. Kéo một cái lông khỏi áo bờ lu của mình, ông gí nó vào mũi bà già sắp chết để kiểm tra bà còn thở hay chăng. Ông liếc nhìn, vẻ hết sức sành sỏi, rồi thở dài: "Thế đấy, chuyện này mãi mà không chịu kết thúc!"
Zeydel Ber cư xử như mọi năm vào trước ngày thiêng nhất, bận rộn giết gia cầm cho hiến sinh giải tội giữa các phụ nữ đầy sốt ruột và chuyện gẫu xiên xẹo. Rechele thì làm cháy các món mà cô nấu cho ông vì quá mệt. Cô giữ một ngọn đèn sáng suốt đêm vì sợ và nằm co quắp trên một băng ghế đến tận tảng sáng, quấn mình trong một cái khăn san. Đằng sau bếp lò, con dế nỉ non lớn tiếng hơn bao giờ hết. Thỉnh thoảng, ông bác Zeydel hét lên trong giấc ngủ, như thể ông đang tranh cãi với ai đó. Rechele biết rõ là xung quanh cô có đủ mọi loại điều xấu xa. Những cái chổi cùng giẻ rách khởi sự động đậy. Những cái bóng lớn trải rộng trên các bức tường, như trồi lên từ một thế giới khác. Chốc chốc bà già lại nhăn môi trên lại trong một dạng nụ cười gây khiếp hãi. Bà thò bàn tay như sáp của mình từ dưới cái chăn phủ người bà ra và siết chặt các ngón lại như thể vừa túm được cái gì. Bà chết vào lúc rạng đông, hôm trước Yom Kippur. Ngay lập tức, các phụ nữ thuộc Hội đoàn mai táng đến, mang những cái tạp dề rất to. Họ đun thật nhiều nước cho nghi thức thanh tẩy và căn phòng đầy hơi nước đọng, giẻ ướt cùng rơm. Một trong số họ lấy từ một cái tủ một tấm khăn liệm được bà già khâu từ trước với những mẩu quần áo cũ. Một người khác mang đến một cái cáng đen mà người ta đặt thẳng xuống đất. Rechele được gửi sang một người bà con xa của Reb Zeydel Ber. Chính ông là người đọc kaddish, tại đám tang diễn ra cùng ngày. Sau đó, ông cho người đi tìm Rechele về. Lúc cô về tới nơi, đất đã được lấp và phủ cát lên.
Ba ngọn nến đang cháy, để tưởng nhớ linh hồn bà già. Ông cậu mặc một cái sơ mi trắng, đi tất vải thô và đội một dạng mũ tế màu trắng thêu vào các diềm mạ vàng. Với bộ râu đen dài vẫn còn ẩm ướt của mình, và được lần này tóc mai chải rất kỹ, trông ông giống một trong các Bậc thầy được ngưỡng vọng mà Rechele từng đọc các công trạng trong những quyển sách nhỏ bằng tiếng Yiddish của mình. Ông đặt hai tay lên đầu cô và ngâm, giọng u ám: "Cầu Đức Chúa làm cho cháu trở nên giống với Sarah, Rebecca, Rachel và Leah... Cầu cho cháu được phù hộ và giữ được tinh thần thuần khiết, ôi con của ta, và hãy trông coi nhà chúng ta... nhân danh Đấng Trên Cao..." Rechele mở miệng để trả lời nhưng, cùng lúc đó, Reb Zeydel Ber lao về phía cửa và chạy ra ngoài, thiếu điều thì làm tắt mấy ngọn nến khi đi ngang qua. Thế là cô chỉ còn một mình và nhìn quanh như thể không còn nhận ra gì hết nữa. Qua cửa sổ nhỏ trên cao, có thể nom thấy một mảnh bầu trời đỏ máu và nghe được ở bên ngoài tiếng người ta thở dài thườn thượt. Các phố hẹp của Lublin, được chiếu sáng bởi những thứ lửa cuối cùng của mặt trời tà, đầy ắp những người đàn ông vận áo dài trắng cho Yom Kippur, chúng khiến họ thật giống những xác chết mang trên mình vải liệm. Các phụ nữ mặc váy, cũng trắng, với đuôi váy và khăn lụa, điểm trang bằng những vòng cổ nặng, vòng đeo tay, ghim cài và khuyên tai dài, chúng run rẩy như bị đóng giá. Những ai mới trở nên góa bụa, hay vừa mất một đứa con, giơ tay chạy đây chạy đó như bị điên, và không ngừng nhắc đi nhắc lại cùng một câu bằng giọng khản đặc. Những người hàng xóm, hết sức sẵn lòng chí chóe trong phần còn lại của năm, hôn nhau và ôm chặt lấy nhau như thể chẳng gì còn có thể phân tách họ được nữa.
Những bà mẹ trẻ kiêu hãnh bước đi, một tay nâng đuôi váy, tay kia thì cầm một quyển sách cầu nguyện gáy mạ vàng. Họ cười, khóc, nhảy lên ôm cổ nhau. Bốn cô thiếu nữ khiêng một bà già nhà giàu bị liệt trên một cái ghế đệm bông bằng nhung đỏ. Cái váy thêu vàng của bà già ánh ỏi lên trong những luồng sáng cuối cùng của ngày, cũng như cái mũ rất cao của bà, đính các viên ngọc trai và đá quý, mà những dải ruy băng bay phấp phới trong gió. Một ông già mù, với bộ râu trắng tơi tả, dựa vào hai cái nạng và chìa một bàn tay xanh bợt ra, tìm cách tóm lấy một người đi ngang nhằm ban phước cho người đó. Dọc các phố dẫn đến nhà thờ, có những cái bàn thấp trên đó người ta đã đặt các hòm từ thiện. Ngồi trên những cái ghế thấp, những người tàn tật, điếc, câm đếm các đồng xu đồng hay bạc với đó những người đi ngang tìm cách chuộc lại các tội lỗi của họ vào ngày thánh ấy. Yerucham, kẻ sám hối của Lublin, đứng đợi ở cửa nhà thờ, như ông ta vẫn làm mọi năm, chân trần, quần áo xộc xệch. Vừa vặn vẹo hai bàn tay ông ta vừa khóc cho những tội lỗi của mình:
"Hỡi những người Do Thái, xin hãy thương xót! Do Th-a-ái! Xót thương! Thương cảm!" Nhưng đằng sau những bức tường dày của ngôi nhà mình ở cuối một ngõ cụt, Rechele chỉ nghe thấy các vọng âm từ những gì đang diễn ra bên ngoài. Đó là lần đầu tiên cô chỉ có một mình vào trước ngày Yom Kippur. Những năm trước, người bà hay mời những cô bé gái khác tới và lũ trẻ con qua buổi tối tết tóc cho nhau và hạ giọng chuyện gẫu, ngồi sát vào với nhau quanh bàn. Đêm ngay trước Yom Kippur luôn luôn có một cái gì đó đáng kinh hãi. Thường xuyên, vào khoảnh khắc đó, các lãnh chúa Ba Lan chợt xuất hiện tại những tổ ấm Do Thái và bắt cóc các cô thiếu nữ không có ai bảo vệ. Đôi khi, những cây nến cong lại và bọn trẻ con, ở nhà một mình, phải chạy ra ngoài tìm một Ki-tô hữu nhờ họ dựng chúng lên lại cho. Rất hay xảy ra các vụ hỏa hoạn, làm chết bọn trẻ con sơ sinh. Tất cả mọi người đều còn nhớ thảm họa tại nhà thờ lớn khi ai đó hét lên bảo cả thành phố đang cháy. Trong cơn hoảng loạn tiếp theo sau, đàn ông và phụ nữ đã giẫm đạp, nghiền nát nhau. Ngoài ra, người ta biết rõ rằng đêm hôm ấy, đêm thánh nhất trong số tất tật các đêm, lúc người ta hát Kol Nidre, không khí sẽ đầy ngập những con ma không tìm được sự nghỉ ngơi ở thế giới bên kia. Rechele và những đứa bạn gái của mình từng có lần tận mắt trông thấy, một trong các con ma đó đi qua rất gần ngọn nến, rồi biến mất vào lò sưởi. Lửa của mấy ngọn nến đã bốc khói và khục khặc thật lâu đêm hôm đó.
Và thế là Rechele chỉ có một mình ở nhà, vào đêm trước Yom Kippur, chỉ vài tiếng sau khi một cái xác được đem đi.
Cô những muốn chạy ra ngoài kêu cứu, nhưng lại sợ phải đi ra ngõ cụt rất tối. Cô há miệng để hú lên, nhưng không âm thanh nào chui được ra từ họng cô. Đầy kinh sợ, cô vật mình lên băng ghế, co quắp lại, nhắm mắt và trốn vào dưới cái chăn. Trồi lên từ chẳng rõ là đâu, một tiếng rên rỉ dài vẳng đến cô. Nó dường đi lên từ bên dưới nền nhà đất nện và Rechele nghĩ mình nhận ra Kol Nidre. Lúc đó cô có cảm giác những người chết đang hát và cô biết rõ rằng bất kỳ ai nghe thấy Kol Nidre của người chết đều sẽ chết trong năm ấy.
Cô thiếp đi và, trong những giấc mơ của mình, người bà tiến lại gần cô, quần áo bị xé rách, ngây độn và bơ phờ. Cái khăn trên đầu bà đẫm máu. "Rechele! Rechele!" bà vừa kêu lên vừa dùng một nắm rơm cọ vào mặt cô bé.
Rechele run rẩy khắp tứ chi. Cô tỉnh dậy, người sũng mồ hôi. Hai tai cô ong ong và cô có cảm giác vừa lĩnh một nhát dao vào ngực. Cô muốn hét, nhưng không sao hét nổi. Dần dà, nỗi kinh hoàng của cô dịu bớt. Cô nghe thấy những tiếng bước chân trong nhà, những tiếng người nói. Đám nồi trên cái lò và trên các giá động đậy và có vẻ lơ lửng trong không trung. Hộp đựng nến thì xoay và nhảy một điệu giga nho nhỏ. Một luồng sáng đỏ chói trải rộng trên những bức tường. Mọi sự lay động, bừng lên, kêu lạo xạo, như thể cả ngôi nhà đang nằm trong lửa...
Rất muộn, đêm hôm đó, khi Reb Zeydel Ber về nhà, ông thấy Rechele đang nằm, hai đầu gối co lên tận tới ngực, cặp mắt thất thần, hàm nghiến chặt. Ông hú lên và người ta chạy đến. Người ta dùng sức cạy miệng đứa bé ra và đổ giấm vào họng cô. Một phụ nữ quen với loại hoàn cảnh này lấy móng tay cào mặt cô và giật đứt nhiều túm tóc của cô. Rốt cuộc, Rechele rên rỉ nhưng, kể từ tối hôm ấy, cô không bao giờ còn giống trước kia nữa.
Thoạt tiên, thậm chí cô còn không nói được nữa. Không lâu sau đó, cô phục hồi được lời lẽ, nhưng mắc nhiều bệnh khác nhau. Reb Zeydel Ber muốn lấy cô, vì cô đẹp và con nhà danh giá và ông chăm sóc cô như thể cô là con gái ruột của ông. Ông thuê một bà hầu để trông coi cô và viện tới đủ mọi loại phương thuốc cùng trò phù thuật. Ông cho gọi một phụ nữ để dùng bùa chú của mình đuổi hồn ma ác đi. Một phụ nữ khác dùng nước đái rửa người cho cô bé. Thêm một người cho đỉa hút máu cô. Nhưng Rechele vẫn bất động trên giường. Nhằm làm cô quên đi nỗi đau đớn của mình, Reb Zeydel mang đến cho cô những quyển sách và thậm chí đi tận đến chỗ dạy cho cô về Torah. Đôi khi, ông bác sĩ Ba Lan đến chích huyết cho cô cùng cô đọc một cuốn sách bằng tiếng Latin. Rốt cuộc, cô khá lên một chút và dậy được, nhưng chân trái của cô bị liệt và cô trở nên thọt chân. Rồi Reb Zeydel Ber chết và Rechele lên đường về nhà bố cô, Reb Eleazar Babad, người, trong quãng thời gian ấy, đã mất vợ và con trai.
Kể từ đó, Rechele trở thành một người cô lẻ. Cô không ngừng phải chịu các căn bệnh bí hiểm. Một số người bảo đấy là ốm yếu, những người khác lại nói cô bị rơi vào tay lũ quỷ. Tại Goray, Reb Eleazar để cô một mình hoàn toàn, hiếm khi quay về gặp cô giữa các chuyến đi về các làng của ông. Những khi người ta nói với ông về đứa con gái mồ côi khốn khổ ấy, ông cúi đầu xuống và đáp, vẻ bối rối: "Ừ thì, chuyện cứ vậy đấy! Sự thông thái, trí năng và các lời khuyên chẳng thể làm gì chống lại ý chí của Đức Chúa!"
