favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

5. Người đàn bà và phái viên của rabbi

Tin đồn theo đó Messiah sắp tới dần dà lan đến tận Goray, cái thành phố hẻo lánh giữa các ngọn đồi, nơi tận cùng thế giới ấy.

 

Một phụ nữ rất đáng kính, người, từ nhiều năm nay, đi tìm chồng mình - vừa đi vừa nhận của bố thí - kể rằng, tại tất tật các tỉnh của Ba Lan, người ta khẳng định rằng Lưu đày sắp kết thúc. Theo bà ta, cây cối bắt đầu ra những quả rất to ở Đất Thánh và trong nước mặn của Biển Chết, lũ cá mạ vàng đã đột nhiên xuất hiện. Khuôn mặt nhăn nhúm như một cái bắp cải, nhưng cặp mắt vàng và rực sáng, bà ta đi từ nhà này sang nhà khác. Các dải ruy băng xa tanh rủ xuống từ cái mũ cao của bà ta kêu sột soạt, khuyên tai dài của bà ta đung đưa và, từ cặp môi mỏng và mím chặt của bà ta, thoát ra những lời hứa về cứu rỗi cùng an ủi. Khắp nơi bà ta được ăn những thứ đồ dự trữ mà các bà nội trợ khôn ngoan đã chuẩn bị trong mùa hè. Bà ta hỉ cái mũi dài khoằm của mình và, bằng rơ ve hai ống tay áo lụa, chùi những giọt nước mắt chảy xuống dọc cặp má nhẽo nhợt để rồi lóe sáng lên giữa các hình thêu trên cái măng tô xa tanh thật rộng của bà ta. Người đàn bà ấy khiến người ta nghĩ tới những cái bánh mật ong và những ngày lễ, tới các thành phố Do Thái xa xôi và những tin tức tốt lành. Bà ta ba hoa về Đất Israel như thể bà ta từ đó đến, kể bằng cách nào mà ở đó đất, vốn trước đây khô khốc như da cũ, mỗi ngày lại mở rộng thêm ra. Các nhà thờ Islam thì biến mất, chui xuống dưới đất, đám Thổ bỏ chạy hoặc cải đạo trong khi vẫn còn kịp bởi về sau, lúc Messiah đã tới, hẳn không có bất kỳ sự cải đạo nào được chấp nhận nữa. Ngay cả ở Ba Lan, đám quý tộc cũng tỏ ra hào phóng với người Do Thái, mà bọn họ tặng cho ê hề quà cáp. Bọn họ đã được biết rằng trẻ con của Israel sẽ sớm được đưa lên phía trên tất tật các dân tộc. Hàng đoàn lũ phụ nữ đi theo bà ta khắp nơi, không ngớt hỏi bà ta, và bà ta đáp lại bằng các câu trong ngôn ngữ thiêng, như một người đàn ông. Những người giàu tặng bà ta các đồng tiền vàng, mà bà ta cẩn thận buộc vào trong một cái khăn, như thể bà ta đang nhận các món quà cho người nước ngoài.

 

Lúc Rabbi Benish nghe nói đến bà ta, ông sai một người đi mời bà ta đến gặp mình, nhưng đã quá muộn, bởi bà ta đã ở trên cái xe kéo của mình, sẵn sàng ra đi. Cư dân của Goray đã chồng chất chăn cùng rơm lên người bà ta và đưa cho bà ta những cái bình đựng nước ép sơ ri cùng bánh ngọt nhỏ shabbat. Cái mũi khoằm của bà ta giống sừng dê đỏ ửng lên vì lạnh và vì e sợ Chúa. Bà ta đáp lại viên chạy việc lễ: "Bảo rabbi là, nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ gặp nhau tại Đất của Israel... Tại cửa Đền Thánh."

 

Một người bán hàng rong có thói quen năm nào cũng ghé Goray, từ trước 1648 đã vậy, tung tin rằng ở Volhynia người Do Thái nhảy múa vì vui mừng ngoài phố. Họ không còn mua nhà nữa và không may những cái áo khoác nặng nữa bởi vì bên Đất Israel trời hẳn sẽ nóng. Các gia đình rời ngày cưới con cái họ để có thể dựng màn trướng đám cưới tại Jerusalem. Ở Narol, thanh niên bắt đầu nghiên cứu Talmud của Jerusalem thay vì Talmud của Babylon và, ở Masel-Bozhitz, một người giàu có đã cho người nghèo tất tật tài sản của ông ta.

 

Một nhà khổ hạnh, vốn không ăn thịt, không uống rượu, ngủ trên một cái ghế băng rất cứng, kể rằng một nhà tiên tri tên là Reb Nehemiah Cohen đã xuất hiện tại Tiểu Ba Lan. Ông vận một cái áo sơ mi bằng vải lông cứng không áo lót và, những khi ông tiên tri, ngã lăn ra vục đầu xuống đất, hét lên những tiếng nghe hơn nhiều so với tiếng hét con người. Reb Nehemiah thông báo rằng người Do Thái, từ tất tật mọi nơi trên trái đất, sẽ tập hợp lại và người chết sẽ đi ra từ mộ của họ. Những rabbi xuất chúng hơn cả tin vào ông và bày tỏ với ông sự coi trọng của họ.

 

Nhưng người đẩy sự hỗn loạn lên tới cực điểm tại Goray là một phái viên của rabbi, người người Do Thái Yemen.

 

Đang là chính giữa mùa đông, vẫn còn sớm, một buổi chiều tối tháng Giêng. Cả ngày, gió đã thổi mạnh, dồn tuyết thành các đống trước những ngôi nhà - một thứ tuyết xanh, bở, nó làm cho không khí trông như bột, giống bụi trên cánh đồng. Lũ quạ nhảy loi choi trên những cái cẳng ngắn, dùng mỏ khoằm mổ vào xác một con mèo chết vì lạnh, kêu quàng quạc và bay thật thấp cho đỡ mỏi cánh. Chỉ còn lại vài ô kính nguyên vẹn nơi các cửa sổ và sương giá vẽ lên đó những mô típ phức tạp, trông như những cái cây bị bão giật đổ, thân vỡ toang. Các mái nhà có vẻ nghiêng xuống đất. Từ mọi ống khói bốc lên một làn khói mảnh màu trắng sữa, như để khoan thẳng lên trời. Những ngôi sao của Chúa run rẩy nhè nhẹ, sáng hơn và to hơn thường lệ. Chúng nhấp nháy, màu lục và xanh, trong bầu khí quyển. Vây quanh là một hào quang ba vòng phản chiếu tất tật các màu của cầu vồng, một trăng vàng, trông như một con mắt, ngắm nhìn những người Do Thái đang vội vã đi tới buổi cầu nguyện chiều. Đột nhiên, trên quảng trường chợ, vang lên tiếng tinh tang thoảng qua của một cái chuông nhỏ và một xe kéo hiện ra. Một người đàn ông với bộ râu phủ tuyết và tóc mai dài từ đó bước xuống. Anh ta mang một turban đỏ và mặc áo khoác lông lộn ngược, thành thử lớp lót chường ra bên ngoài. Vừa ném ra xung quanh những ánh mắt bỏng cháy từ cặp mắt đen của mình, anh ta vừa hỏi:

 

"Nhà học ở đâu?"

 

Người mới đến ấy bước vào chốn thánh giữa những lời cầu nguyện chiều và tối. Việc anh ta đi vào gây xao động mạnh. Anh ta đứng lại bất động trên bậu cửa và cởi đôi bốt bằng phớt để chỉ còn đi bít tất. Sau đó, anh ta cởi áo khoác và để lộ một cái áo dài kẻ sọc trông giống một cái khăn cầu nguyện, được một xanh tuya thêu buộc chặt vào eo lưng. Sau khi đã rửa tay chân rất lâu, anh ta đọc một lời chúc phúc trong một thứ ngôn ngữ dường như là tiếng Aramaic. Rồi anh ta tiến lên bằng bước chân đầy tự tin, quay về phía bức tường phía Đông và kêu lên, giọng run rẩy: "Hỡi những người Do Thái! Tôi tới mang cho các bạn những tin tức tốt lành! Từ Jerusalem, thành phố thánh của chúng ta!"

 

Tin đồn về việc anh ta đến lan rộng ngay tức khắc trong thành phố và đám đông chạy bổ tới nhà học. Phụ nữ trộn lẫn vào với đàn ông, bọn trẻ con trai và gái cùng nhau trèo lên bàn và ghế băng. Ai cũng há hốc miệng và cố gắng lắng nghe. Người lạ bèn khởi sự nói, giọng rưng rưng, như thể anh ta sắp khóc đến nơi.

 

"Hỡi những người Do Thái, anh ta nói, tôi từ Đất thánh của chúng ta tới đây. Tôi là một người Sephardi thuần chủng, được những người anh em của tôi sai đến các đất nước của lưu đày để thông báo với các bạn rằng Con Cá To lảng vảng dưới nước sông Nile đã chết, do tay Sabbatai Zevi, Messiah của chúng ta và đức vua thánh của chúng ta... Phẩm chất nhà vua của ông sẽ sớm được hé lộ và ông sẽ lấy vương miện từ trên đầu sultan... Những người Do Thái ở trên bờ bên kia của sông Sambation đang chuẩn bị cho trận đánh Armageddon... Con sư tử sống trên cao kia sắp từ trên trời xuống, ngậm trong miệng một con bọ cạp bảy đầu. Những lỗ mũi phì ra lửa, nó sẽ chở Messiah đến Jerusalem. Các bạn hãy tập hợp sức lực lại, hỡi những người Do Thái! Chuẩn bị sẵn sàng đi! Sung sướng thay kẻ nào sẽ thấy điều đó!"

 

Sau đó trong nhà học ngự trị một sự im lặng lớn tới nỗi người ta nghe thấy tiếng vo ve của một con ruồi đơn độc va mình vào một ô cửa kính. Đám phụ nữ vặn vẹo tay và, nhìn vào những nhăn nhó trên mặt họ, người ta không biết bọn họ sắp cười hay sắp khóc. Người ta nom thấy như một biển các khuôn mặt cứng lại. Rồi một luồng run rẩy dường băng ngang những người ở đó, như vào giây phút vang lên tiếng tù và sừng dê đực, vào Rosh Hashana. Người lạ mặt nhìn ra xung quanh:

 

"Những điều phi thường và các phép mầu đang diễn ra tại Jerusalem... Ở Miron, một cột lửa đã dựng lên từ đất lên đến tận trên trời... Tên đầy đủ của Chúa và tên đầy đủ của Sabbatai Zevi được viết trong đó bằng những chữ màu đen... Những phụ nữ biết đọc tương lai trong các giọt dầu đã nhìn thấy vương miện của vua David trên đầu Sabbatai Zevi... Nhiều kẻ không tin chối bỏ ngài và từ chối lùi lại đến chính ngưỡng của Gehenna... Bất hạnh thay cho bọn họ! Bọn họ sẽ bị trôi đi và mất hút vào vòng tròn cuối cùng của Sheol..."

 

"Những người Do Thái, hãy thực hiện cứu rỗi của mình! Hỡi những người Do Thái!" đột nhiên ai đó kêu to như thể đang bị bóp cổ.

 

Đám đông rùng mình. Đấy là giọng Mordecai Joseph thọt chân, một chuyên gia Kabbalah với bộ râu hung đỏ dày và hàng lông mày rậm rì, một người hay cáu kỉnh và dễ nổi giận thích phàn nàn. Những khi cầu nguyện, ông ta nện đầu vào tường. Vào Những Ngày Kinh Sợ, ông ta nằm trên đất vào lúc Cầu nguyện Khổ hình, như người ta vẫn hay làm xưa kia, và rên rỉ thật to. Ông ta thốt ra các bài điếu văn và, hôm trước Yom Kippur, ông ta quật roi lên những người đàn ông ở lối vào nhà thờ. Những khi nào thực sự lên cơn, ông ta không chỉ đánh đám trẻ mà cả những người già, thành thử chẳng ai dám trái ý ông ta. Ông ta rất đô con, mặt mũi xấu xí, tóc mai hung đỏ lộn xộn cùng cặp mắt màu lục. Và thế là, thở hào hển, ông ta muốn, mặc cho sự tàn phế của mình, trèo lên một cái bàn. Những người ở gần ông ta nhất phải đẩy để ông ta leo lên được. Caftan lem bẩn và cởi khuy, hai bên tóc mai thì tung tóe, ông ta vừa giộng cái nạng xuống vừa kêu to:

 

"Hỡi những người Do Thái! các người vẫn cứ im lặng sao? Cứu chuộc đang tới! Cứu rỗi đã tới cho thế giới."

 

Ông ta dùng bàn tay trái tự đập lên trán và cùng lúc khởi sự nhảy múa, vẫn giậm xuống bàn cái chân bị tật không mấy chắc chắn của mình và bắt đầu bị ngạt thở, ông ta không ngừng lặp lại cùng cái câu mà chẳng ai hiểu nổi.

 

Người lạ mặt ngoảnh lại và nhìn ông ta chăm chăm bằng cặp mắt sáng rực của mình. Hai vạt caftan của Mordecai Joseph phật phật, áo gi-lê thì phồng to lên. Ông ta ném ra đằng sau cái mũ chỏm nhàu nhĩ, đột nhiên giơ hai tay lên, những ngón tay run lẩy bẩy. Các phụ nữ hét to. Từ mọi phía, những bàn tay chìa ra để đỡ lấy ông ta. Nhưng đột nhiên, Mordecai Joseph nện cả người xuống sàn nhà. Nhà học dường chao đảo với đám đông và những bức tường toát mồ hôi. Ai đó hú lên: "Cứu với! Ông ấy ngất rồi!"

Thêm vào giỏ hàng thành công