favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

4. Goray cũ và Goray mới

Tháng Mười năm 1666. Mưa tuôn như thác lũ từ một tuần nay và đêm nào gió cũng thổi lồng lộn như thể bảy mụ phù thủy bị treo cổ. Cơn mưa trút nước làm ngập các hầm, giật cạo lớp vữa nhám khỏi tường, tắt lửa các bếp lò. Trong những cánh rừng, nhiều cây bị bật gốc nằm vắt ngang dòng sông chảy kề cận Goray và kể từ nay nó nhấn chìm các đồng cỏ. Vì các cánh của cối xay gió bị giật đứt, bột trở nên đắt đỏ. Những cư dân sung túc hiếm hoi, có được đồ dự trữ từ mùa hè, tự nhốt mình kín trong nhà. Họ e ngại phải thấy sự bần cùng của người nghèo và nghe thấy những lời ta thán nếu tới cầu nguyện cùng những người khác. Họ thiu thiu ngủ bên dưới các cái chăn lông của mình, nhấm nháp cháo yến mạch, hút thuốc lá và mơ về thời tốt đẹp xa xăm và các nhà quý tộc Ba Lan luôn luôn sẵn sàng tiêu tiền. Do sợ kẻ trộm buổi tối họ không thắp ngọn đèn nào và, trước báo động đầu tiên, họ đã sẵn sàng chôn tài sản cùng hàng hóa của mình rồi chạy trốn. Trên bếp lò nhà những người nghèo, cái nồi rỗng và lạnh. Các con đường trở nên nguy hiểm và chẳng cỗ xe kéo nào còn mạo hiểm vào thành phố. Ở những dịp hiếm hoi, người ta nom thấy đằng xa một nông dân tiến lại gần, vác một bao tải trên lưng. Lấm bùn lên tận đầu gối, người đó đi từ cửa hiệu này sang cửa hiệu khác, tự hỏi ở chỗ nào mình sẽ bán nắm lúa mạch đen của mình. Những phụ nữ đi bốt đàn ông, đầu trùm một cái khăn rách, trồi lên như lũ sâu từ lỗ của chúng đi tới gặp anh ta. Túm chặt lấy cánh tay anh ta, họ mặc cả suốt nhiều tiếng đồng hồ, cho tới lúc cái miệng móm của họ tím lại vì lạnh.

 

"Một năm tệ hại cho anh, thưa anh thân mến, bọn họ rủ rỉ, nửa bằng tiếng Yiddish, nửa bằng tiếng Ukraine. Các dịch bệnh của pharaon rơi xuống đầu anh!"

 

Tại Goray, người ta sợ. Một người đưa tin, lên đường về phía một ngôi làng xa xôi vào sau Hội Lều, đã không quay trở về và người ta kể rằng, chỉ vì ba mươi groschen, đám nông dân đã giết anh ta. Thật mầu nhiệm nếu một thanh niên đi từ trang trại này sang trại khác để mua lương thực thoát được khỏi cái chết. Anh ta qua đêm trong một vựa lúc cho đến khi tiếng động tạo ra bởi một chủ trang trại đang mài một cái rìu với ý định giết anh ta đánh thức anh ta dậy. Những người kém cường tráng hơn theo nhau chết. Mỗi lần nào người ta biết ai đó chết, Grunam, người chạy việc lễ, lại chạy khắp thành phố vào sáng sớm. Rất mau chóng, ông ta dùng vồ gỗ gõ hai cú lên mỗi chớp cửa, để báo là phải vứt ra ngoài nước còn lại trong những cái xô, nhằm đuổi các linh hồn xấu - chúng sẽ không còn có thể thấy phản chiếu của mình ở đó nữa - và chuẩn bị mọi việc cho một đám tang.

 

Rabbi Benish cố công ở gần người nghèo trong những giờ khắc thê lương. Ông cho ban bố một đạo lệnh theo đó người giàu phải cho đi một phần mười bánh mì của họ, bột yến mạch của họ, đậu vàng và đậu lăng của họ, dầu lanh và củi đốt của họ. Thứ Ba, hai cư dân tận tụy vì người khác đi vòng quanh thành phố với một cái bao tải nhằm thu nhận đồ quyên góp nhưng, do giá cả lên quá, người ta trở nên hà tiện và giấu đồ dự trữ của mình đi. Lẽ ra không thiếu thịt vì bê chẳng đắt mấy. Nhưng người giết thú vật theo nghi thức già đã bị giết và không có người nào mới đến sống tại Goray. Nếu muốn giết một con thú, cần phải dẫn nó đi cách đó nhiều dặm.

 

Không còn nhận ra nổi thành phố Do Thái Goray cũ kỹ nữa. Xưa kia, mọi sự diễn ra theo các quy tắc. Những ông chủ làm việc bên cạnh các thợ học việc của họ, thương gia thì buôn bán, bố mẹ vợ cung cấp chỗ ở và đồ ăn cho những đứa con rể nghiên cứu các văn bản thiêng, bọn con trai bé thì đến trường và các cô giáo đến dạy cho bọn con gái nhỏ tại nhà chúng. Reb Eleazar Babad và bảy bậc lão thành của thành phố trông coi sát soi mọi điều diễn ra. Những ai phạm tội thì bị đưa ra trước công lý. Những ai không tuân theo các quyết định của tòa bị quất roi hoặc đóng gông ở lối vào nhà thờ. Thứ Năm và thứ Sáu, người nghèo đi từ nhà này sang nhà khác kiếm đồ ăn cho shabbat và các bà nội trợ tốt bụng để dành cho họ bánh mì trắng cùng thịt, cá và hoa quả.

 

Nếu một người nghèo có một đứa con gái trên mười lăm tuổi còn chưa lấy chồng, cộng động cố công tạo dựng cho nó một món đồ cô dâu và kết hợp nó với một cậu con trai mồ côi hay một người đàn ông góa vợ còn trẻ. Tiền trao cho người chồng sau đó đủ giúp họ sống vài tháng. Sau rồi, người đàn ông tìm được việc làm ở đây ở kia. Bằng không, anh ta băng ngang vùng, mang theo một giấy chứng nhận của cộng đồng cho biết anh ta nghèo. Lẽ dĩ nhiên, đủ mọi loại bất hạnh có thể xảy ra. Đôi khi một người chồng và một người vợ cãi cọ và, để có thể ly dị, họ phải đi đến tận Yanov, bởi dòng sông chảy ngang qua Goray mang hai cái tên và chẳng ai biết phải dùng tên nào để định vị thành phố trong đơn xin, như sự tôn trọng nghiêm ngặt Luật muốn vậy - "Thành phố Goray, nằm trên bờ dòng sông tên thế này thế này..." Cũng xảy tới chuyện một người đàn ông bỏ đi, bỏ mặc vợ anh ta, hoặc giả anh ta tự trầm mình dưới nước sâu nơi xác anh ta sẽ không bao giờ được tìm thấy. Ở trường hợp này, người phụ nữ bất hạnh không thể tái giá.

 

Hằng năm, trước lễ Vượt qua, Goray biết đến một sự náo động to lớn về lúa mì dùng cho lễ mà cộng đồng nhượng quyền cho một thân hào, sau đó, bất di bất dịch, bị buộc tội trộn trấu vào bột trước khi đem bán. Theo quy tắc chung, người ta nguyền rủa ông ta, dự báo ông ta còn sống được không đầy một năm. Dẫu chuyện có là thế nào, năm tiếp theo, người ta luôn luôn tìm được ai đó khác để thu lợi nhuận từ thứ lúa mì đó. Vào ngày lễ Simha Torah, người ta cãi cọ tại nhà cầu nguyện của các thợ may nhằm quyết định xem ai sẽ có vinh dự được là người đầu tiên mang các cuộn Torah quanh bục. Sau đó, các thành viên của Hội đoàn mai táng say sưa trong bữa ăn và làm vỡ những cái đĩa. Nhiều lần trong năm bùng ra các bệnh dịch và Mendel, phu đào huyệt, giàu thêm lên vài gulden. Nhưng xét cho cùng, thế giới vận hành như vậy đấy. Người Do Thái ở Goray sống trong cảnh yên bình với các Ki-tô hữu của những ngôi làng. Tại thành phố, chỉ có vài gentile, một sabbath gentile để làm các công việc không thể thiếu nhưng bị cấm đối với người Do Thái trong shabbat, một cậu bồi nhà tắm và vài người khác sống, trên những phố hơi xa, trong các ngôi nhà vây quanh là hàng giậu cao bằng gỗ nhằm che giấu hiện diện của họ.

 

Trước các ngày lễ Ki-tô, khi các gentile đi ngang qua Goray với số lượng lớn, trên đường tiến về phía đền thờ nào đó, các cậu thanh niên xăng xái bán cho họ những thùng nước đường của mình. Các phiên chợ của Goray lừng danh trong toàn vùng. Các chủ trang trại cưỡi ngựa tới đó từ những ngôi làng kề cận. Người ta nghe thấy tiếng ngựa hí, bò rống, dê be be. Đám lái buôn ngựa - những người Do Thái nhiều ảnh hưởng vận áo veste nặng và đội bo nê da cừu, hè cũng như đông - nhảy lên để chế ngự lũ ngựa giống háu đá. Bọn họ cũng chửi bới thô thiển như bất kỳ nông dân nào. Các ông hàng thịt tay lấm máu, một con dao thật sắc giắt ở thắt lưng, tóm lấy sừng những con bò nào không còn sức cày bừa nữa. Vào thời đó, các cốp lái buôn ngũ cốc lúc nào cũng đầy và những con chuột béo bụng trắng tổ chức tiệc tùng tại đó. Tại các quán rượu, người ta đổ rượu vào những xô nước lớn. Suốt thời gian diễn ra hội chợ, lũ con của Ham vui đùa theo cách riêng của mình. Họ nhảy với vợ mình, nện chân xuống đất và huýt sáo hoặc hát các bài thô lậu. Đám phụ nữ hét to, đánh hông. Đàn ông thì thách thức nhau, giương nắm đấm to tướng của bọn họ lên. Và còn có những hàng hóa nào mà người Do Thái còn không bán! Khăn san và khăn mỏng in hoa, bánh ngọt nhân trứng và bánh mì trắng xoắn, giày trẻ con và bốt dùng để lội nước, hương liệu cùng hồ đào, ách sắt và đinh, những món quà đám cưới mạ vàng và váy may, xập xèng cho những người canh đêm và mặt nạ cho đêm Giáng sinh. Quả đúng là nhiều lần Rabbi Benish từng cấm người Do Thái buôn bán các hình ảnh Ki-tô. Tuy nhiên họ tiếp tục bán sách kinh với bìa tô màu và rất nhiều minh họa, nến tròn và thậm chí cả các hình ảnh vẽ những vị thánh, một vầng hào quang quanh đầu. Trong một góc, vài Ki-tô hữu hiếm hoi của Goray tập hợp lại để bán xúc xích khô đỏ sẫm cùng mỡ lợn. Một lần, một thanh niên với các cung cách vờ vịt đi qua trước mặt họ, tay cố tình bịt mũi thật lộ liễu và cất giọng rất khó chịu: "Đám goyim này chắc chắn là ăn ngon lắm... Ngửi thấy rõ từ cách ít nhất một dặm!"

 

Buổi tối, những người nông dân nào còn tỉnh cưỡi ngựa lên đường về nhà. Những kẻ say xỉn thì bị ném ra khỏi các quán, vào đống bùn, và vợ họ, dầy giận dữ, phải kéo tai họ lôi xềnh xệch về. Quảng trường hội chợ phủ đầy cứt ngựa và bốc mùi thum thủm. Trong các ngôi nhà Do Thái người ta thắp những ngọn dầu, nến được đốt, và người ta châm lửa. Các phụ nữ, đeo tạp dề có những cái túi rất to, nhổ nước bọt vào bàn tay mình nhằm gạt con mắt xấu xa đi và bừng sốt tính những đồng xu nhỏ bằng đồng mà họ cho vào những cái hũ. Về phần các tổ ấm nơi không có tiền, người ta tuyên rằng rốt cuộc một cú may mắn sẽ đến thôi.

 

Người Do Thái ở Goray có các nhu cầu lớn. Họ phải có gì đó để nuôi sống những đứa con rể của mình, có thể tặng các món quà cho những chàng thanh niên mới lấy vợ, chẳng hạn caftan lụa và mũ viền lông cho bọn trẻ con trai, váy xa tanh và áo veste nhung cho bọn con gái. Vào lúc có những lễ lớn, họ muốn quả thanh yên cho Hội Lều, bánh mì không lên men cho lễ Vượt qua và dầu ô liu cho Hannoukah. Hãy thêm tiền vào đó, để có thể cho các lãnh chúa Ba Lan bạt mạng vay hoặc khiến im mồm những kẻ vu khống họ. Hơn một lần, người ta phải gửi một phái viên đến Lublin. Và không được quên các nhu cầu của cộng đồng: thành phố Goray nuôi một rabbi và trợ lý của ông, những người chuyên chạy việc lễ cùng các thầy giáo, một người chuyên giết thú vật theo nghi thức cùng mười sinh viên nghèo, cộng thêm các nhân viên phục vụ tắm rửa, một cho đàn ông và một cho phụ nữ, ngoài những người ăn xin và người ốm. Và đã bao nhiêu lần, cái thành phố bé tí tẹo mất hút ở tận cùng thế giới này đã chẳng phải gửi tiền cho các cộng đồng khác trở thành nạn nhân của cướp bóc hoặc bị cháy rụi!

 

Vào thời ấy, Rabbi Benish ngự trị tại Goray, như một ông vua. Người ta tới tìm trợ lý của ông những lúc chỉ có các câu hỏi đơn giản để đặt và chỉ quấy quả ông ở trường hợp có những khó khăn đúng nghĩa hoặc có kiện tụng. Khi ấy ông xắn tay áo lên và nói ra ý kiến của mình trong sự tôn trọng Luật nghiêm ngặt nhất, không thiên vị một ai. Hơn một lần, vào buổi tối shabbat, Grunam, người chạy việc lễ, phải đến gõ vào các chớp cửa để báo nước tắm không đủ sạch và đàn ông không được lại gần phụ nữ đã tới đó hôm ấy. Thường xuyên, ông nhận thấy mình đã tuyên một con vật là kosher trong khi nó không như vậy. Phân nửa các bà nội trợ phải ngay lập tức đập những cái nồi đất của họ, đun nóng nồi kim loại và vứt xúp cùng thịt đi. Người ta sống ổn thỏa, vào thời ấy, và đạo Do Thái rất được coi trọng.

 

Nhưng kể từ nay Goray biết đến những ngày tồi tệ. Các cư dân tốt nhất của nó đã chết. Những người còn lại thì phần lớn trẻ tuổi. Dẫu vùng đang yên ổn, nỗi e sợ các thử thách mới không rời khỏi những người Do Thái. Điều tồi tệ hơn cả, ấy là vào một thời nơi sự hiệp đồng hẳn là điều cần thiết nhất thì người ta lại đi con đường riêng của mình và chẳng hề lý gì tới việc chịu trách nhiệm cho cộng đồng. Thỉnh thoảng, Rabbi Benish tổ chức một cuộc họp, nhưng ông thấy các giáo dân của mình ngáp hoặc ngủ gật. Họ đồng ý với mọi điều, nhưng không muốn bắt tay làm gì, và ông chẳng có ai để nói chuyện. Khi nghĩ đến mấy đứa con trai của ông, thì đấy là để ghét chúng hơn bao giờ hết. Ozer, cái kẻ ngu đần ấy, ở trong bếp suốt nhiều ngày dài, ngẫn và phủ đầy người những cái lông, để chơi trò sói bắt dê với đám con của mình hoặc cãi cọ với mẹ ông ta vì bà không nấu cho ông ta những món mà ông ta thích. Levi và vợ anh ta, như hai con nhện to tướng đang dệt một tấm mạng bất hạnh, sống tách biệt khỏi những người khác trong phòng ngủ với các ri đô kéo kín của họ, cửa khóa.

Thêm vào giỏ hàng thành công