favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

3. Các tin đồn phi thường

Từ nhiều năm nay, những tin đồn phi thường đã lan truyền tại Ba Lan.

 

 

Vào thời Rabbi Benish còn sống ở Lublin, ông đã nghe được các tin tức đáng kinh ngạc. Tất tật người ta nhắc tới một phái viên rabbi từ Jerusalem đến, Baruch Gad, ông ta, khi băng ngang một sa mạc, đã tình cờ mà tới bờ bên kia sông Sambation. Từ đó ông ta mang về một bức thư viêt trên giấy da của Mười Bộ Lạc Mất Tích, được cho là do vua Do Thái Achitov, con trai Azariah, viết ra, theo đó Kết cục các Ngày đã ở gần - tức là Messiah đến. Các bản sao của bức thư đó nằm trong tay vài người Do Thái của Đất Israel, họ đi từ nước này sang nước khác để nhận tiền.

 

Những chuyên gia Kabbalah lớn nhất của Ba Lan và các nơi khác khám phá nhiều ám chỉ trong Zohar và những tập sách rất cổ xưa khác của Kabbalah, theo đó những ngày Lưu đày đã sắp hết. Các vụ tàn sát của Chmelnicki là những đau đớn để chào đời của Messiah. Theo một công thức bí mật, những đau đớn ấy sẽ bắt đầu trong năm 1648 và kéo dài cho đến hết năm, sau đó thì sẽ diễn ra cứu chuộc toàn thể và hoàn hảo.

 

Người ta thấp giọng bàn luận về tất tật những cái đó, các tin tức được truyền đi theo lối rỉ tai nhau, sao cho không làm hoảng loạn phụ nữ và những kẻ vô tri, mà đầu óc vốn bị hạn chế. Tuy nhiên, những người trong dân chúng có cách thức riêng của mình để dự báo sự cứu giúp chắc chắn sẽ được mang đến cho người Do Thái.

 

Tại gần như mọi thành phố, ai đó chạy khắp nơi đảm bảo rằng người Do Thái sẽ sớm được giải khỏi các tội lỗi của mình. Một số tuyên bố mình đã nghe thấy vang lên tiếng tù và dê đực lớn, thông báo Kết cục các Ngày. Những người khác giục giã người thân của họ quay về với Chúa, để người nào cũng báo cáo cho mình và những người khác. Rốt cuộc lại có những người nhảy múa vì mừng vui ngoài phố và đánh trống ầm ĩ.

 

Các phụ nữ rất đơn giản có những giấc mơ phi thường: các họ hàng đã chết hé lộ cho họ những điều tuyệt diệu sẽ sớm diễn ra. Dẫu là mộng hay thực tại, thì người ta cũng nom thấy, cưỡi trên lưng một con lừa, cái kẻ nghèo khổ kia, kẻ sắp trở thành Messiah. Họ nghe thấy tiếng gọi của nhà tiên tri Elijah: "Cứu chuộc đến trên mặt đất!" Một đám mây lớn từ trên trời hạ xuống và tất tật người Do Thái, cùng vợ con, lên đó để bay tới Jerusalem, đi trước là những nhà thờ cùng nhà học của họ. Một cô hầu ở Bechev kể rằng, trong khi ngủ, cô ta đã nhìn thấy một tòa nhà bừng sáng, nó vươn lên tận đến trời, sáng như mặt trời. Khắp xung quanh, người Do Thái mặc đồ lụa và độ mũ viền lông của những người rất sùng đạo quỳ gối hát các thánh vịnh ngợi ca của shabbat. Ông chủ cô ta, một người có học, ngay lập tức hiểu rằng cô ta được coi xứng đáng được trông thấy Ngôi Đền trên trời nơi các Levite đang nhộn nhịp. Ông ta đi một vòng các cộng đồng cùng cô ta, để cô ta có thể miêu tả thị kiến của mình cho tất tật cùng nghe. Các thầy bói bên Ki-tô hé lộ rằng, hơn một lần, họ đã quan sát thấy trên trời, về phía Đông, một ngôi sao nhỏ vật lộn chống lại tất tật những ngôi sao khác, với kích cỡ không ngừng tăng thêm cho đến khi ngang bằng mặt trăng. Điều này được xem như một dấu hiệu cho thấy quốc gia nhỏ bé nhất và hèn mọn nhất sẽ chiến thắng tất tật các dân tộc trên trái đất và ngự trị họ. Các linh mục cũng khẳng định là mình đã thấy trên trời trận đánh Armageddon, với thắng lợi của Israel.

 

Những điều không thể hiểu nổi xảy ra khắp nơi. Đám ma cà bông, đi lang thang từ thành phố này sang thành phố khác và từ vùng này sang vùng khác, kể rằng một trận mưa đá đã ập xuống vùng Bohemia. Trong một cơn mưa rào dữ dội tại Thổ Nhĩ Kỳ, một con rắn khổng lồ đã hiện ra, nuốt chửng nhiều thành phố và giết nhiều kẻ thù của người Do Thái. Tại Shebreshin, một người chuyên xách nước nghe được một giọng nói trên trời và, tại Pulav, một con cá đã hét lên "Nghe đây, ô Israel" trong khi người ta đánh vảy nó chuẩn bị cho bữa tối sabbath. Ai đó khẳng định mình đã nghe thấy một giọng nói gào to từ núi Horeb: "Quay về với ta đi, ôi những đứa con lạc đường." Một kẻ phạm nhiều tội cũng tri nhận được lời gọi từ trời cao này ba lần liền. Hắn đã bỏ vợ con, buộc một mảnh vải thô quanh hông và lên đường đi lưu đày. Ở mỗi thành phố mà hắn băng ngang, hắn đều nằm trên bậu cửa nhà học và tật tật những ai bước vào đó hay từ đó đi ra đều phải giẫm lên người hắn và nhổ vào mặt hắn, trong khi hắn nức nở thú nhận tất tật những trò bất lương của mình. Người ta nhấn rất mạnh sự thể vào cái thời đáng hoảng sợ ấy nơi người Do Thái bị chém giết và bị đuổi đi khỏi nhà mình ở khắp nơi, số lượng Ki-tô hữu cải sang Do Thái giáo tăng lên. Rất thường xuyên những người này bí mật tự cắt bao quy đầu và tự áp đặt lên mình các dạy dỗ thánh, mặc cho sự trừng phạt nghiêm khắc mà họ phải gánh. Toàn bộ những cái đó tạo dựng cũng ngần ấy các dấu hiệu không thể phản bác cho thấy kết cục của đêm dài đen tối của nô lệ đã rất gần và thời gian của giải thoát sắp tới.

 

Nhưng thường xuyên hơn cả, người ta nhắc đến một con người lớn lao và thánh thiêng tên là Sabbatai Zevi, người ta bảo ông ta là người mà Israel đợi từ mười bảy thế kỷ và sắp lộ mình ra. Một số người khẳng định mình thấy ở ông ta Messiah đầu tiên, con trai của Joseph, người, như những cuốn sách thiêng chỉ ra, sẽ bị giết ở tư cách người tiền triệu cho Messiah đích thực. Những người khác ủng hộ ý kiến theo đó con trai của Joseph đã tới hiện thân ở Reb Abraham Zalman, chết như người tuẫn đạo tại Tishevitz vì sự thánh hóa tên của Chúa, vậy thì Sabbatai Zevi hẳn sẽ là Messiah đích thực, con trai của David. Nhiều tin đồn liên quan tới ông ta được lan truyền. Người ta bảo ông ta sống ở một cung điện tại Jerusalem, hoặc giả ông ta trốn trong một hang sâu cùng các môn đệ của mình. Người ta cũng khẳng định ngày nào ông ta cũng cưỡi ngựa, với yên cương bằng lụa, và năm mươi tín sứ đi trước ông ta. Cũng như ông ta nhịn ăn từ shabbat này sang shabbat khác và tra tấn cơ thể mình bằng các đòn vọt cứng rắn nhất. Phái viên nào cũng mang một cái tin lịch sử. Một người Pháp đến tận Lublin thề rằng Sabbatai Zevi cao bằng một cây bách, mang trên người vàng, bạc và đá quý, người ta không thể nhìn thẳng vào mặt ông ta do quá chói. Một chuyên gia Talmud người gốc một vùng rất xa hé lộ rằng ông ta đã tiến hành một cuộc tranh cãi với các rabbi và bị những người đó khai trừ vì báng bổ. Người ta cũng kể nhiều điều về Sarah, một thiếu nữ gốc Ba Lan, người, sau khi thoát được khỏi đám Cô dắc, đã tiên tri là mình được dành sẵn để trở thành vợ của Messiah, trước khi quả thật lấy Sabbatai Zevi. Trong khi một số người bảo cô trinh trắng và mộ đạo, những người khác lại thì thào rằng đấy là một con điếm.

 

Rabbi Benish biết những tin đồn và lời ngồi lê đôi mách đó, nhưng ông bám chặt lấy câu của Amos: " Chính vì thế con người thận trọng giữ im lặng vào một khoảnh khắc như vậy." Thế cho nên ông giữ im lặng. Hồi còn ở Lublin, ông đã tỏ ra mình không nghe thấy gì. Ông biết rằng, từ nhiều năm, người Do Thái ở Ba Lan đã dấn mình vào một con đường xấu xa. Họ quá bận tâm đến những điều lẽ ra vẫn phải bị giấu đi và uống quá ít từ nước trong các dạy dỗ thiêng. Họ khinh bỉ việc nghiên cứu Thánh Kinh và tiếng Hebrew, họ gần như chẳng còn đọc các nhà bình luận cổ xưa mấy nữa. Đám trẻ, bị rối trí bởi các trò xảo của pilpul, tìm cách giải quyết cả nghìn câu hỏi bằng chỉ một lời đáp và coi thường truyền thống, bảo đấy là "trò con nít". Đám nhóc con trai chưa đầy hai mươi tuổi, hẵng còn không có khả năng hiểu được chúng, đắm chìm vào những cuốn sách thần bí như Kho báu cuộc đời, Thiên thần RazielZohar, cũng như các diễn giải những bí tích Cỗ xe Trời trong Sách Ezekiel. Lũ đàn ông bỏ rơi gia đình bọn họ và lên đường đi phiêu lưu, nhằm dùng sự lưu đày thanh tẩy tâm hồn mình.

 

Lũ nhãi nhép mười ba tuổi tắm mình trong băng giá. Có quá nhiều nhà khổ hạnh trong số người Do Thái tại Ba Lan, quá nhiều kẻ sống tách biệt, quá nhiều bọn sản xuất bùa yêu, quá nhiều kẻ tạo phép mầu.

 

Vốn dĩ chính ông nghiên cứu triết học và biết rất rõ Hướng dẫn những kẻ Lạc đường, CuzariCác nghĩa vụ của Trái tim, cũng như Principia, Rabbi Benish than thở về những cuốn sách dòng Kabbalah của Rabbi Isaac Louria. Theo ông, chúng mâu thuẫn và xấu xa. Trước năm 1648, khi vẫn sống ở Goray, ông đã không nhắm được mắt và lo sao để thảm họa ấy, như ông đánh giá trong thâm tâm, không được phổ biến. Ông đã bí mật đi đến nhà học tìm những quyển sách to tướng bìa gỗ kia, để mang về giấu chúng tại nhà ông. Chính ông dạy dỗ đám con trai lớn hơn, để chắc chắn mình được hiểu đúng. Và ông không cho phép họ lao thân vào pilpul. Ông ra lệnh cho họ đọc các Nhà Tiên tri cùng Lời Thiêng cho tới khi nào thuộc lòng. Ông cũng dạy cho họ ngữ pháp Hebrew, dẫu ở Ba Lan người ta gần như coi đó như mọt sự chối đạo. Nếu một rabbi trẻ hơn cả gan làm vậy, hẳn người ta đã đuổi kẻ đó khỏi thành phố. Nhưng Rabbi Benish Ashkenazi rất được kính trọng. Các thân hào của Goray - tất tật đều là những người dư dả thích lương tri cùng sự chừng mực trong tất tật mọi điều - ủng hộ ông trong cuộc tranh đấu chống đám cuồng đạo của ông. Nếu một cậu thiếu niên tự cô lập để hiến mình cho việc nghiên cứu các bí tích lớn, thì người ta sẽ vụt roi cậu ta hoặc cấm cậu ta đến nhà thờ, cho tới chừng nào cậu ta đi bít tất đến trình diện trước giáo đoàn, hứa sẽ không còn tách biệt khỏi những người khác nữa. Nếu có dịp, các môn đồ của Kabbalah, có khả năng làm rượu vang vọt ra từ một bức tường, chữa khỏi cho các bệnh nhân hay thậm chí làm hồi sinh những người chết, lại đến Goray. Nhưng Rabbi Benish không cho phép họ ở lại lâu. Những ai từ chối đi khỏi sẽ bị buộc phải làm thế. Có một lượng phản đối nhất định, khi ấy những kẻ thù của Rabbi Benish bảo rằng ông không tin vào Kabbalah. Một lần, những kẻ xa lạ gửi một bức thư đầy các vu khống về ông. Nhưng ông rất vững vàng trong các cách thức của mình, khẳng định: "Chừng nào tôi còn sống, sẽ không có trò sùng bái thần tượng tại Goray!"

 

Đối với ông, những bất hạnh khủng khiếp hơn cả hồi 1648 và 1649 là một sự trừng phạt giáng xuống người Do Thái tại Ba Lan vì họ đã không kính trọng Luật. Ông tuyệt đối tin rằng một khi các cuộc chém giết đã kết thúc, họ sẽ quay về với niềm tin của ông cha họ. Nhưng giờ đây, khi những tai ương đó đã thuộc về quá khứ và các hy vọng của ông không được hiện thực hóa, rabbi già thu mình lại và không nói gì nữa. Bởi ông nghĩ mình hiểu rằng thiên hựu thần thánh có những dự đồ khác. Và vì không biết ý chí của trời cao là gì, ông hài lòng với việc vâng theo đầy hèn mọn. Ngày nào cũng mang lại lô tin tức riêng của nó, lúc nào cũng bất ngờ, chẳng bao giờ giống nhau, thường mâu thuẫn với tin tức của hôm trước. Càng ngày người Do Thái càng bị phân chia thành các giáo phái nhiều hơn. Ngay những rabbi nổi tiếng hơn cả cũng không sao mà hiểu nhau cho nổi. Và cái thời đầy những thảm họa cùng tấn kịch đó chẳng mấy sẵn sàng cho các rao giảng trước một đám đông.

 

Và thế là Rabbi Benish rời Lublin để quay về thành phố hẻo lánh giữa các ngọn đồi của ông, đã đổ nát một nửa và bị cắt đứt khỏi thế giới. Ở đó, ông già tự nhốt mình lại như vào bên trong một con thuyền, để chịu đựng trong nỗi cô đơn những năm tệ hại ấy. Chỉ vào những dịp rất hiếm, ông mới bước qua bậu cửa nhà mình. Ông nhìn xung quanh và hỏi một người phu khuân vác đi ngang hay một thằng học trò: "Chuyện này sẽ kết thúc thế nào đây?" "Vậy thì Chúa muốn gì?"

Thêm vào giỏ hàng thành công