2. Rabbi Benish và gia đình ông
Ở Lublin, Rabbi Benish từng lúc nào cũng bận rộn. Những sự kiện hồi năm 1648 và 1649 đã khiến cho hàng nghìn phụ nữ trở nên cả không chồng lẫn không góa, bởi vì người ta không biết chồng của họ có còn sống hay chăng. Rất thường xuyên, tòa án rabbi phải đi lệch khỏi quy định nghiêm ngặt của Luật và giải phóng cho một trong số họ khỏi các dây buộc của hôn nhân. Tại tiền phòng của nhà cộng đồng nơi Rabbi Benish ngự, cùng các rabbi xuất chúng khác, lúc nào cũng có một đoàn lũ các phụ nữ bất hạnh đầm đìa nước mắt kia. Một số đi lang thang từ thành phố này sang thành phố khác, săm soi những quyển sổ các Hội đoàn mai táng, để tìm tên người chồng mất tích. Những người khác, vì bị buộc phải giải thoát cho em chồng họ khỏi bổn phận lấy họ làm vợ, đầy cay đắng phàn nàn về khoản tiền bị đòi nhằm giành được thỏa thuận. Thường thì, một trong những phụ nữ ấy, lúc đã tái giá, thấy người chồng đầu tiên quay về: anh ta đã thoát được khỏi cảnh nô lệ ở chỗ người Tartar, hoặc cộng đồng Do Thái tại Stamboul đã trả tiền chuộc họ. Quanh tòa nhà nơi Hội đồng Bốn Tỉnh họp, đám mối lái tất bật, tạo ra các cặp vợ chồng tương lai và moi từ họ những khoản trả trước cho việc mình làm. Đám ăn mày kéo tay áo những người bộ hành. Những kẻ điên dở và điên thật cười, hét, hát. Lũ trẻ con không còn cả bố lẫn mẹ, bị bỏ mặc và bẩn thỉu, hỗn láo đòi vài đồng xu lẻ. Ngày nào, các phái viên cũng từ những cộng đồng Do Thái khác nhau đến và kể các đau đớn gây ra bởi những toán quân của Chmelnicki và lính Thụy Điển. Hơn một lần, Rabbi Benish cầu xin Chúa cho ông được rời khỏi thế giới này. Ông không còn sức mà lắng nghe những câu chuyện đáng kinh khiếp đó nữa.
Nhưng tại Goray, mọi sự đều yên tĩnh. Không có cả các xung đột tư pháp lẫn các xin xỏ liên quan tới Luật. Chắc chắn, thành phố chỉ dâng tặng những phương tiện khiêm nhường cho tồn tại, nhưng cũng chính vì thế mà rabbi có thời gian cho mình. Thêm nữa phòng ngủ của ông phân tách với phần còn lại của ngôi nhà bởi một hành lang rộng và sự im lặng ngự trị ở đó. Một con ruồi đơn độc vo ve và đập mình vào cửa kính. Một con chuột nhắt gại sàn nhà. Con dế, đằng sau bếp lò, cất lên tiếng nỉ non đơn điệu của nó trong vòng vài phút, rồi nó lắng nghe vọng âm của cái đó thật lâu, trước khi lại bắt đầu, như nhằm diễn tả một nỗi buồn khổ không thể nào quên. Trần nhà ám khói đen kịt. Và trên những bức tường bị sự ẩm ướt gặm nhấm, xuất hiện vào ban đêm các vệt mốc trắng và lục, như thể trồi lên từ một thế giới khác. Trên bàn để những tờ giấy không kẻ dòng cùng những cái bút lông ngỗng. Rabbi Benish ngồi đó suốt nhiều tiếng đồng hồ, đắm mình vào trong các ý nghĩ của ông, vầng trán rộng nhăn hẳn vào. Thỉnh thoảng, ông ném một ánh mắt đầy chú tâm về phía những tấm ri đô màu vàng nhạt của cửa sổ. Kể từ nay hơn phân nửa dân cư thành phố đã quay lại và tìm được chỗ để ở, vì vậy mà người ta hiếm khi nghe thấy tiếng người nói bên ngoài và bọn trẻ con chẳng mấy chơi đùa ngoài phố. Hẳn có thể nói rằng những người Do Thái đã quay về Goray ở lại nhà họ, tai dỏng lên rình đợi, phòng trường hợp kẻ thù quay lại gây hấn với họ tiếp.
Rabbi Benish biết giáo dân của mình. Dẫu thường trực chìm sâu vào các nghiền ngẫm sâu sắc, ông tỏ ra chú tâm vào mỗi người và gọi cả các phụ nữ bằng tên riêng của họ. Khi ông quay về Goray, đó là mùa hè, mùa tích cực hơn cả. Các cư dân thành phố mang từ rừng về những thân cây, cưa nghiến lạo xạo, búa giáng xuống và lũ trẻ con chạy khắp nơi. Các cô thiếu nữ từ những cánh rừng quay về xách theo những cái xô đựng đầy việt quất và dâu dại, những khúc cành nặng và các giỏ đựng nấm. Lãnh chúa Goray cho phép cư dân thành phố đánh cá trong ao của ông ta và gia đình nào cũng phơi khô các thứ quả nhằm lưu giữ chúng cho phần còn lại của năm. Vào lúc hoàng hôn, khi Rabbi Benish đi bộ đến nhà thờ, không khí thơm mùi sữa mới và mùi khói, và mọi sự dường đã quay trở về giống trước. Vào những khoảnh khắc ấy, ông ngẩng đầu nhìn lên trời và cảm tạ Chúa đã cứu những gì còn lại từ đàn chiên của ông và không để cho nó bị hư vô hóa đi hoàn toàn, như chuyện xảy đến với các cộng đồng khác.
Nhưng giờ đây, sau Hội Lều, đầu mùa lạnh, các thiệt hại mà Goray hứng chịu trở nên rõ hơn. Đối với phần lớn, những cửa sổ không kính phải được dùng ván bịt lại, hoặc nhét giẻ mà bịt kín. Bọn trẻ con không có quần áo ấm, thành thử chúng ở lại nhà chứ không đi học. Nơi những vũng nước mưa, các ngôi nhà phản chiếu, với những bức tường và mái vá víu chằng chịt. Mùa gặt rất hẻo và chút ít lúa mì thu hái được không thể được nghiền thành bột vì người xay bột thuộc vào số những người đã chết. Guồng của cối xay bị gãy, cối đất thì bị phá hủy. Để có chút ít bánh mì, phải dùng tay giã hạt, trong những cái cối gỗ sồi và nướng thứ bột nặng nề trực tiếp trong lửa. Và nhiều gia đình thậm chí không biết tới vị của thứ bánh bần cùng đó.
Để khiến mọi điều còn tệ hại hơn, các thành viên trong gia đình Rabbi Benish lao thân vào một cuộc cãi cọ bất tận đã dai dẳng từ suốt nhiều năm, từ trước 1648 lâu.
Người con trai cả, Ozer, là một kẻ vô tích sự, một tên lười đã không chịu học hành. Ở tuổi gần năm mươi, ông ta vẫn ngồi ở bàn bố mình cùng vợ con ông ta. Ông ta cao lớn, còng lưng, có những cử chỉ cục cằn và trưng bày một tính cách xấu. Cái mũ nhung nhàu nhĩ của ông ta lúc nào cũng đội lệch, áo sơ mi thì phanh ngực, caftan cài khuy chểnh mảng và phủ đầy vết bẩn. Ông ta có cái mũi khoằm như mỏ chim, hai con mắt to vằn máu cùng bộ râu rối mù màu rơm. Trước các sự kiện năm 1648, Ozer có thể ở lại quán rượu suốt nhiều ngày để đánh cờ hay chơi gieo xúc xắc và nhấm nháp những thứ ngồi lê đôi mách cùng nói xấu thuộc đủ mọi loại. Ông ta không bao giờ nghĩ đến vợ hay đám con của mình, không bao giờ có bất kỳ tham vọng nghiêm túc nào và luôn luôn cầm một mẩu phấn ở tay nhằm ghi lại các con số trên mỗi cánh cửa tủ và mỗi cái bàn mà ông ta tìm được trên đường của mình. Ông ta vẫn ngu độn như trước kia. Rabbi không yêu quý ông ta và hiếm khi nói chuyện với ông ta. Ozer thường xuyên vào bếp cùng các phụ nữ và sưởi ấm ở đó cạnh bếp lò, vừa sưởi vừa lén nhìn vào những cái nồi, cho tới lúc mẹ ông ta vung chổi vụt đuổi ông ta đi, hét to: "Mày không xấu hổ à! Một người ở tuổi của mày! Đây đúng là một xì căng đan!"
Levi, con trai út của rabbi, hơn ba mươi tuổi một chút, rất khác. Thấp lùn, nước da sẫm như một người Bô-hê-miêng, lúc nào cũng chỉn chu hết mức, anh ta tỏ ra cao ngạo và cao quý. Bộ râu cắt tròn của anh ta được chải cẩn thận, cũng như tóc mai nhiều lọn xoăn. Anh ta đã mang từ Lublin về nhiều quần áo đẹp và dạo chơi tại thành phố Goray nghèo khổ trong cái pe nhoa lụa nhiều hình hoa và đi păng túp trang trí đỏm dáng, đội một cái mũ nhung mới toanh. Anh ta bước đi chậm rãi, không mấy giao du với các thành viên gia đình mình và chỉ hiếm khi mới vào phòng làm việc của bố anh ta. Mẹ anh ta cho người mang đồ bánh kẹo vào phòng cho anh ta, tọng cho anh ta ăn và chiều chuộng anh ta đến mức gây ra lòng ghen tuông của Ozer cùng mấy đứa con ông ta. Ngoài đó ra, vợ anh ta, Nechele, là con gái một lái buôn giàu có đã bị sát hại ở Narol trong cuộc cướp phá thành phố đó. Cô ta đã được những người họ hàng dư dả tại Lublin nuôi. Cô ta cư xử như trong quá khứ, nán lại trên giường tới rất muộn trong buổi chiều, đợi mẹ chồng sai cô hầu vào với cô ta, mang theo một bình sữa. Thậm chí cô ta coi sự hiếm muộn của mình là một đức hạnh. Trong tuần, cô ta đội một cái bo nê lụa và mang khuyên tai vàng. Những ngón tay thanh mảnh của cô ta đeo đầy nhẫn. Gầy gò, ngực phẳng, dáng điệu của một nữ quý tộc, cô ta có hai má đỏ bệnh hoạn cùng cặp mắt sâu hoắm vì khóc nhiều. Cô ta không ngừng than thở vì rơi vào một gia đình thô lậu như thế này. Cặp môi mỏng của cô ta không ngừng lầm bầm một điều gì đó và mũi cô ta thì nhăn lại như thể những mùi tệ hại của Goray khiến cô ta không chịu được. Cô ta đã trang trí phòng ngủ của mình thật lộng lẫy. Trên những bức tường đính các tấm thảm khác nhau vẽ hình hiến sinh Isaac, Moses đưa các Bảng Luật, Aaaron Đại Giáo sĩ với tấm che ngực và áo khoác. Cái giường lỏng chỏng những gối dựa nhỏ. Một tấm ri đô thêu dày giăng trước cửa sổ giữ căn phòng trong cảnh tranh tối tranh sáng. Hết sức bà lớn, vận áo bờ lu lụa, một cái phất trần cầm ở tay, cô ta săn đuổi bụi và mạng nhện, vừa làm vậy vừa buồn bã thở dài nhìn chồng, điều này châm nỗi bất hòa giữa họ lên.
Về phần mình, vợ và mấy đứa con của Ozer, ăn mặc những thứ quần áo thô thiển, sống trong cảnh chật hẹp và dùng bữa trong bếp cùng cô hầu. Ngoài ra nhà Rabbi Benish còn có nhiều đứa con mồ côi của một trong số các con gái ông, chết tại Lublin trong một dịch tả, và của một cô con gái khác đã ly dị. Tất tật tiến hành một cuộc chiến tranh đầy xảo trá nhằm vào Levi và vợ anh ta, và cũng thể hiện sự hằn học của mình đối với vợ của rabbi, bị ngờ là chiều chuộng anh ta quá mức. Họ đụng độ lẫn nhau, nói xấu sau lưng mỗi người và tất tật, những địch thủ tồi tệ hơn cả là Nechele và mẹ chồng cô ta, Nechele và vợ anh chồng cô ta, hai anh em trai, lũ trẻ mồ côi và bà chúng. Về Nechele, người ta kể cô ta đã bỏ bùa chồng mình để anh ta tiếp tục yêu cô ta và đi theo cô ta trên con đường các sai lầm. Vợ của Ozer thề rằng cô ta đi hái một số thứ cỏ mỗi khi sắp shabbat. Thậm chí có người từng trông thấy cô ta đi đến chỗ Kunnigunde, mụ phù thủy sống bên ngoài thành phố, gần nghĩa địa Ki-tô.
Xưa kia, Rabbi Benish từng tìm cách đưa sự bình yên về nhà mình. Ông e sợ tội bất hòa, biết rằng thể loại vi phạm này là nguyên nhân cho mỗi trừng phạt giáng xuống một ngôi nhà. Nhưng kể từ nay, ông không còn đủ sức cho việc đó nữa, ở tuổi của ông. Các năm đã được tính cho ông và có biết bao nhiêu điều phải đặt lại vào trật tự, bao nhiêu công việc phải kết thúc. Ngoài ra, những chém giết tàn nhẫn hồi 1648 và 1649 làm sống động lại nơi ông các nghịch lý cũ liên quan đến niềm tin, tiền định và tự do lựa chọn, cũng như những đau đớn của Những người Công Chính. Rabbi Benish tự nhốt mình vào phòng ngủ và không còn tới chỗ vợ ông trên giường bà vào tối thứ Sáu nữa. Ở những dịp hiếm hoi nơi một thành viên gia đình đến gặp ông và bắt đầu nói xấu hoặc báo cáo, ông đứng dậy, vươn hết chiều cao của mình, bộ râu run lên như một thứ sống động và một bàn tay nện xuống cái bàn gỗ sồi, rồi tay kia chỉ ra cửa, ông kêu lên: "Ra ngoài! Tôi đã nghe đủ lắm rồi! Dịch hạch cho cả những người này lẫn những người kia!"
