1. Năm 1648 ở Goray
Vào năm 1648, viên Hetman Ukraine tàn nhẫn Bogdan Chmelnicki và các đội quân của ông ta vây hãm thành phố Zamosc, nhưng không chiếm được nó vì nó được phòng thủ rất vững chắc. Các nông dân nổi dậy, các haidamak, bèn đi cướp phá Tomaszów, Bilgoraj, Krasnik, Turbin, Frampol - và cả Goray, một thành phố nằm giữa những ngọn đồi, ở nơi tận cùng thế giới. Bọn họ tàn sát tất cả mọi người, lột da người sống, sát hại bọn trẻ con bé tí, hiếp phụ nữ rồi sau đó rạch bụng họ khâu mèo vào đó. Rất nhiều người Do Thái bỏ chạy đến Lublin, nhiều người phải xin được làm lễ báp-têm, những người khác thì bị bán đi như nô lệ. Goray, xưa kia lừng danh vì các nhà thông thái của nó và những người đức cao vọng trọng, kể từ nay hoàn toàn trống rỗng. Cỏ dại xâm chiếm quảng trường chợ nơi xưa kia nông dân từ mọi nơi tập hợp cho những phiên chợ. Nhà cầu nguyện và nhà học bị vấy bẩn bởi phân của lũ ngựa mà đám lính nhốt vào đó. Phần lớn các ngôi nhà đã bị hỏa hoạn tàn phá. Nhiều tuần sau cuộc cướp bóc thành phố, các xác chết vẫn nằm đó, bị bỏ mặc trên phố, và không còn lại ai để chôn chúng. Lũ chó hoang tranh giành nhau những cẳng tay cẳng chân gãy rời, kền kền và quạ rỉa thịt người. Một nhúm người sống sót vẫn ở đó lên đường đi phiêu lưu. Dường như Goray đã biến mất vĩnh viễn.
Mãi nhiều năm sau các cư dân đen đủi của nó mới bắt đầu quay về, chỉ vài thành viên của những gia đình xưa kia đông đúc. Những ai còn trẻ vào hồi xảy ra vụ thảm sát giờ tóc đã bạc và những ai từng nắm một vị trí cao trong cộng đồng thì ăn mặc rách rưới và chỉ có trên người cái bị của người ăn mày.
Một số người đã đi chệch khỏi con đường thẳng, những người khác thì đắm chìm vào nỗi sầu muộn. Nhưng luật của thế giới là, theo thời gian, mọi sự sẽ quay trở lại như trước. Các cửa hiệu lâu ngày bị đóng lại đằng sau những chớp cửa hoen gỉ lần lượt mở lại. Đống xương được đưa tới nghĩa địa bỏ không nơi người ta chôn chúng vào một cái hố chung. Người ta mở, thoạt tiên hết sức rụt rè, cửa chớp các sạp hàng ở chợ. Các thợ học việc trẻ tuổi sửa chữa những mái nhà hư hại, cũng như ống khói và sơn lại các bức tường bị máu và óc bắn lên. Với những cây sào dài, bọn nhóc con trai thu nhặt các thi hài dưới lòng những con sông kể từ nay khô cong. Dần dà, các thương gia lại thực hiện những chuyến đi từ làng này sang làng khác mua lúa mì, ngô, rau và lanh. Nông dân sống ở vùng lân cận suốt thời gian dài đã rất sợ phải đặt chân đến Goray, do lũ quỷ đã biến chỗ đó thành địa hạt của chúng. Và giờ họ quay lại đó để kiếm muối và nến, vải may váy và áo bờ lu cho phụ nữ, vải bạt làm caftan cho đàn ông, bình đất, cùng đủ loại vòng cổ và những thứ đồ vặt vãnh. Goray từng lúc nào cũng tách biệt hẳn với phần còn lại của thế giới. Khắp xung quanh, các ngọn đồi phủ những cánh rừng rậm trải rộng nhiều cây số. Mùa đông, gấu, chó sói và lợn rừng lảng vảng trên các con đường. Kể từ cuộc tàn sát lớn, số lượng thú hoang đã được nhân lên nhiều lần.
Trong số những người cuối cùng quay trở về có ông rabbi già, Rabbi Benish Ashkenazi lừng danh, và Reb Eleazar Babad, trước kia từng là người giàu nhất thành phố và thủ lĩnh cộng đồng. Rabbi Benish đi cùng hơn nửa gia đình ông. Ngay lập tức ông dọn vào sống trong nhà cũ của mình, gần nhà cầu nguyện, và bắt đầu kiểm soát việc tuân thủ các luật về thực phẩm, kiểm tra xem phụ nữ có đi tắm theo nghi thức đúng ngày không, thanh niên có nghiên cứu Torah hay không. Ông đã để lại hai cô con gái cùng năm đứa cháu tại nghĩa địa Lublin. Mặc cho tất tật những năm lưu đày và bất hạnh đó, những thói quen của ông vẫn y nguyên. Ông dậy sớm, nghiên cứu Talmud cùng các lời bình luận liên quan đến nó dưới luồng sáng của một cây nến sáp, ngâm mình trong nước lạnh và đọc những lời cầu nguyện ở nhà thờ lúc mặt trời mọc. Rabbi Benish đã hơn sáu mươi tuổi nhưng da của ông vẫn nhẵn, ông không bị rụng mất mái tóc bạc, cũng như bất kỳ cái răng nào. Khi ông bước qua bậu cửa nhà cầu nguyện, lần đầu tiên sau một quãng thời gian dài đến thế, cao lớn, xương xẩu, bộ râu rậm và xoăn, caftan bằng xa tanh thõng xuống tận đất, cái mũ viền lông zibelin lật xuống gáy, tất tật những ai có mặt đều đứng dậy đọc lời chúc phúc cảm tạ Người khiến những kẻ chết hồi sinh. Bởi người ta từng bảo ông đã chết tại Lublin trong các cuộc thảm sát ngay trước Hội Lều hồi năm 1655. Những cái diềm áo của ông, giữa áo sơ mi và caftan, rơi xuống hai mắt cá chân ông. Ông mặc một cái quần ngắn màu trắng, đi bít tất trắng và giày đế thấp. Ông dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ tóm lấy hàng lông mày rậm che mất con mắt bên phải của mình, nâng nó lên để nhìn rõ hơn, đưa ánh mắt nhìn một vòng những bức tường sạm đen và tróc lở của nhà thờ, cũng như các ngăn giá không có sách, và lờn giọng tuyên bố: "Đủ rồi! Ý chí của Chúa chúng ta, cầu ân phước của Ngài, là chúng ta lại bắt đầu trở lại."
Rabbi Benish Ashkenazi đã thừa kế trách vụ của mình từ nhiều thế hệ rabbi. Ông là tác giả các bình luận cùng responsa, thành viên của Hội đồng Bốn Tỉnh và người ta xếp ông vào số những người xuất sắc nhất của thời ông. Xưa kia, nhiều phụ nữ bị bỏ rơi từng từ thật xa tới Goray, vốn dĩ vô cùng hẻo lánh, để ông cho phép họ tái giá, do, mặc cho khoa học và danh tiếng của mình, ông thuộc vào số những người diễn giải Luật hết sức độ lượng. Thường thì, các phái viên đến gặp ông, từ những cộng đồng nhiều tiếng tăm, nhằm thuyết phục ông chấp nhận các trách vụ rất nhiều thanh thế, nhưng họ luôn luôn phải thất vọng mà đi khỏi. Rabbi Benish mong muốn kết thúc những ngày của ông tại cái nơi ông đã được thừa kế quyền dẫn dắt của mình. Và thế là ông đã quay về nhà. Như có phép mầu, ngôi nhà của ông đã chỉ phải chịu ít tổn thất. Hai tủ sách bằng gỗ sồi, lại chất đầy sách và bản thảo viết tay, ở đúng chỗ của chúng trước kia, cũng như những cái ghế cũ phủ xa tanh vàng cùng cái đèn chùm bằng đồng treo trên trần. Trên căn áp mái các công trình thiêng chồng lên tới độ cao ít nhất hơn một mét. Thậm chí người ta còn thì thào với nhau rằng đâu đó trong nhà giấu một tượng đất sét, một golem, xưa kia nó từng giúp những người Do Thái của thành phố, vào thời xảy ra các vụ chém giết.
Reb Eleazar Babad, về phần mình, quay lại Goray cùng một người duy nhất trong số các con gái ông. Cô con cả, đã lấy chồng, bị đám Cô dắc hiếp trước khi dùng một cây giáo đâm xiên qua. Vợ ông đã chết trong một dịch bệnh. Con trai duy nhất của ông thì mất tích và không ai biết chuyện gì xảy đến với anh. Vì tầng trệt nhà của ông đã bị phá tan hoang, ông sống trên tầng, trong một gác xép. Trước đây, ông nổi danh vì sự giàu có. Ông mặc những thứ đồ lụa, kể cả trong tuần. Tập quán muốn người ta dẫn các cô dâu trẻ tới nhà ông, nơi các nhạc công đám cưới chơi nhạc vinh danh ông. Tại nhà thờ, quản ca đợi ông thì mới đọc Mười Tám Phước Lành và, buổi tối shabbat, các thành viên gia đình ông cùng khách khứa ăn tối ở bàn của ông bằng đồ ăn bạc. Rất nhiều lần, lãnh chúa Goray đi xe ngựa đến nhà ông để cầm cố các món trang sức của vợ ông ta lấy những đồng ducat vàng.
Nhưng giờ đây khó mà nhận ra nổi Reb Eleazar. Thân hình dài thượt gầy gò của ông còng xuống như một cây nến, bộ râu nhọn của ông bạc ánh tro và khuôn mặt hốc hác thì có màu đỏ gạch. Cặp mắt ông, ngay liền sát cái mũi xương xẩu và bong tróc, dường mở thật to và thường trực tìm một cái gì đó dưới đất. Ông đi lang thang, vận một cái măng tô tả tơi, đội một cái bo nê da cừu cũ, một sợi dây buộc quanh lưng, hai bàn chân buộc chi chít giẻ, như một kẻ ăn xin. Ông không bao giờ tới cầu nguyện ở nhà thờ và chăm cho cho nhà ông, ông quét tước, nấu ăn cho ông và con gái ông, đi chợ, bỏ vài đồng nhỏ mua đồ ăn cho họ ở chỗ những bà bán hàng ngồi bên cạnh cỗ xe độc mã của họ. Mỗi lần người ta hỏi ông có khỏe không hoặc chuyện gì đã xảy đến với ông trong quãng thời gian ông vắng mặt, ông lại run lên, như trước sự gợi về một cái gì đó đáng khiếp hãi, và co quắp hết người lại, ánh mắt mất hút đi không đậu lại trên người đối thoại, trước khi đáp: "Nói những cái đó thì được gì đây? Có tích sự gì đâu?"
Một số người bảo rằng ông đang ăn năn cho những tội lỗi của mình. Teme Rachel, một phụ nữ rất mộ đạo, nói thêm là một lần, lúc tối muộn, bà đã đi ngang qua bên dưới cửa sổ của ông và nhìn thấy ông đang đi đi lại lại, nói to bằng giọng rất buồn. Những người khác thì thào rằng ông mất trí rồi, rằng ông không cởi quần áo trước khi đi ngủ và ban đêm thì đặt một con dao dài dưới gối, như một phụ nữ sinh nở, nhằm đuổi quỷ ra xa.
Con gái ông, Rechele, mười bảy tuổi, thọt chân bên trái và hiếm khi nào ra ngoài. Cô thích trốn mình trong phòng ngủ hơn. Cao lớn, nước da màu lục nhạt, thế nhưng cô đẹp, với mái tóc đen dài xuống đến eo lưng. Không lâu sau khi Reb Eleazar trở về, người ta đã thử tìm cho cô một người chồng, bởi thật tệ khi một cô gái ở tuổi của cô ở lại nhà mà không có chồng. Nhưng bố cô không đáp lại những lời đề nghị của các mối lái, ông không ừ cũng chẳng không và họ phát mệt với việc nói với ông mà không được hồi đáp. Ngoài ra, hành xử của Rechele rất lạ thường ngay từ đầu. Những lúc có sấm, cô hú hét và chui xuống dưới gầm giường trốn. Với các phụ nữ trẻ tuổi và thiếu nữ tới thăm cô, cô không nói gì, khiến họ phát bực vì sự thờ ơ của cô. Từ sáng sớm cho đến đêm buông, cô cứ ngồi đó, một mình, mà đọc những cuốn sách bằng tiếng Hebrew được mang về từ xa hoặc đan bít tất. Đôi khi, cô ngồi gần cửa sổ tết tóc. Cặp mắt to màu đen rực sáng của cô chăm chăm nhìn về chân trời, quá các mái nhà. Mặc cho cái tật của mình, Rechele đánh thức các suy nghĩ tội lỗi nơi đàn ông. Nhắc đến cô, đám đàn bà lắc đầu thì thào: "Con bé mồ côi bị bỏ rơi khốn khổ... Một đứa trẻ mong manh như vậy. Và buồn như vậy..."
