13
13.
Đã hơn nửa đêm. Trong màn đêm sáng sủa bao bọc lấy Goray, một thứ gió dữ dội lồng lộn quét đi tuyết giống bột và vun chúng thành các đống nhỏ. Mặt đất đóng giá trơ trụi. Những cái cây lay giá trên các cành gãy xuống. Rêu đột nhiên xuất hiện trên cao các mái nhà, chúng, ngay giữa mùa đông, dâng tặng cảnh tượng những viên ngói thối rữa và chằng níu tạm bợ của mình. Quạ tỉnh dậy, kêu toáng lên nhức óc, như đột nhiên rơi vào một nỗi buồn khổ to lớn. Những bông tuyết xoay tròn trên trời, giống lũ ngỗng trời. Giữa các đám mây nặng nề, u tối và rách rưới, một vầng trăng không mặt lướt trên trời. Hẳn có thể nghĩ rằng thành phố đang trải qua một chuyển hóa hẳn sẽ xong xuôi trước khi sao Mai mọc.
Đêm hôm ấy, Rabbi Benish ngủ muộn hơn thường lệ trên băng ghế kê trong phòng làm việc của ông. Vận quần màu trắng, cái khăn cầu nguyện khoác trên vai, ông dựa lưng vào ba cái gối nhồi lông, một cái chăn đắp lên người.
Nhưng ông không thực sự ngủ được. Những tiếng rít cùng những tiếng kêu vẳng đến từ lò sưởi và thỉnh thoảng, trong không khí bí rì của căn phòng, người ta tri nhận được như tiếng thở dài của một linh hồn chịu nạn. Các giá sách, trên đó chồng chất những quyển sách thánh rất cổ mà người ta không còn sử dụng được nữa, khởi sự run lên và nghe được các tiếng đập âm âm từ trên cao, như thể người ta đang dịch chuyển những thứ đồ nặng. Dẫu bếp lò đang đốt và cửa sổ thì bị bị chặt im ỉm bằng rơm cuộn, không khí băng giá vẫn thẩm thấu vào, làm đóng băng tứ chi già nua của Rabbi Benish.
Ông tìm cách tập trung vào việc nghiên cứu Torah, theo thói quen của ông những khi nào không thực sự ngủ được. Nhưng tối hôm đó, các ý nghĩ xô đẩy nhau quá nhanh trong đầu óc ông và rối tinh vào với nhau. Ông cố công nhắm mắt - chỉ để cảm thấy mí mắt ngay lập tức tự dựng đứng lên. Trong cơn nửa thức nửa ngủ, ông tri nhận được tiếng ồn của một cuộc tranh luận gay gắt gồm nhiều giọng. Đấy là cuộc cãi cọ vĩnh cửu về Sabbatai Zevi cùng Kết cục các Ngày, thứ không ngừng ám lấy ông. Đột nhiên ông nhảy dựng dậy, mạnh tới nỗi cái ghế băng rung chuyển. Các giọng nói đã im và, thay vào đó, ông nghe thấy tiếng gõ vào chớp cửa. Ông lúc lắc người, ngồi dậy và, run lên vì sợ, hỏi:
"Ai đấy?
- Tôi đây, thưa rabbi, xin thứ lỗi cho tôi.
- Anh là ai?
- Grunam."
Rabbi Benish dự cảm là mình sắp biết các tin tức tồi tệ và nổi da gà. Sau một thoáng im lặng, ông đáp: "Đợt tí, tôi ra ngay!"
Ông trườn xuống khỏi giường, dò dẫm tìm đôi giày păng túp trong bóng tối và mặc cái caftan vào. Rồi ông ra mở cửa. Trong nỗi bấn loạn của mình, ông va đầu vào khung cửa, mạnh đến nỗi ngay tức khắc một khối u mọc lên trên trán ông. Quờ quạng, hai bàn tay run lẩy bẩy, ông gỡ dây xích, kéo then và xoay chìa khóa hai vòng trong ổ. Grunam bước vội vào phòng, khiến không khí lạnh bên ngoài đi vào theo và thở hổn hển như bị đuổi theo.
"Rabbi, ông ta nói, giọng đứt quãng, xin thứ lỗi nghìn lần! Có một đám đông đàn ông và phụ nữ ở nhà Reb Eleazar Babad! Họ đã tập hợp lại ở trên tầng. Đàn ông nhảy múa với phụ nữ! Phạm thánh!"
Rabbi Benish không tin vào tai mình. Như vậy tức là mọi chuyện đã đi xa tới vậy tại Goray? Không đợi và vẫn im lặng, ông bắt đầu mặc quần áo. Ông tìm được trong bóng tối cái quần, cái thắt lưng rộng bản của mình và khoác áo măng tô lông lên. Nhiều lần, ông xô đổ mấy cái ghế, va vào gờ bàn, tự làm mình bị thương. Hai chân ông từ chối mang người ông. Một luồng run rẩy băng giá chạy dọc lưng ông. Lần đầu tiên kể từ nhiều năm, ông lên một cơn ho dữ dội. Cặp mắt của lão già Grunam sáng lên như mắt mèo. "Rabbi, xin tha lỗi cho tôi, ông ta nhắc lại.
- Đến đây, Rabbi Benish gần như hú lên. Nhanh!" Hai đầu gối run lập cập, ông kéo cổ áo lên. Ông đã trông chờ bên ngoài trời đen kịt, nhưng té ra lại sáng sủa như vào lúc hoàng hôn. Gió lạnh túm lấy ông, làm ông không thở nổi. Những mũi kim của tuyết hoặc mưa nhỏ xíu - không thể biết rõ là cái nào - châm vào mặt ông. Trán cùng các mí mắt của ông sưng phồng. Ông nhìn ra xung quanh, không nhận ra nổi thành phố của ông. Ông muốn cầm lấy tay Grunam vì sợ trượt chân ngã. Nhưng, đột nhiên, một đợt gió mạnh ào vào ông, làm ông thối lui vài bước, rồi trôi xuống dọc theo phố dốc. Mũ của ông bay cao lên không trung, như một con chim đen, trước khi rơi xuống đất trở lại và điên cuồng lăn thẳng về phía cái giếng. Rabbi Benish dùng cả hai tay tóm chặt mũ chỏm, rồi mặt đất hụt đi bên dưới ông. "Grunam!" ông hú lên bằng giọng nói không còn là giọng của ông nữa.
Về sau, ông không có khả năng nói chuyện gì đã xảy ra. Grunam đã lao đi đuổi theo cái mũ viền lông zibelin, tìm cách dùng thân mình chặn nó lại, nhưng ông ta bị ngã, nhỏm dậy, lại ngã tiếp. Ông ta lăn xuống đến hết dốc và, đột nhiên, ông ta biến mất hoàn toàn, như thể bị nuốt chửng. Rabbi Benish, kinh hãi, nhìn ra sau lưng, hiểu rằng Linh hồn Xấu đã ra và định quay về nhà. Nhưng mắt ông bị quáng, có lẽ do cát. Cái mũ chỏm rơi xuống, mấy vạt caftan của ông tung lên, kéo ông về phía sau. Đầu óc ông quay cuồng, ông bị ngạt thở. Đột nhiên cơn bão nâng bổng ông lên, đưa ông đi xa một chút, cách nào đó trên những cái cánh, rồi ông rơi trở lại xuống đất, nặng nề đến độ ông nghe thấy xương của mình gãy. Trong vết tích tối hậu ý thức của mình, ông còn nghĩ được: "Kết cục".
Toàn bộ những cái đó chỉ kéo dài vài giây. Grunam vội vã tới cùng cái mũ, nhưng không tìm được rabbi. Ông ta tự nhủ chắc ông về nhà rồi và đến đập vào chớp cửa gọi ông, nhưng ông ai đáp lại. Thế là, e sợ điều tệ hại nhất, ông khởi sự dùng hết sức hét tướng lên: "Bớ người ta, đến đây cứu rabbi! Cứu với!"
Người đầu tiên đáp lại là vợ của Rabbi Benish, rồi mấy cô con dâu và lũ cháu của ông, choàng tỉnh dậy. Tất tật lao ra ngoài, ăn mặc sơ sài, và khuấy động thành phố lên bằng những tiếng hú hét kinh sợ của họ.
Thoạt tiên, không ai yêu chuyện gì đã có thể xảy ra. Nỗi kinh hoàng ngăn cản Grunam nói. Ông ta chỉ hoa chân múa tay và nháy mắt như một người câm. Các cánh cửa mở ra ở mọi phía. Nhiều người nghĩ rằng bọn kẻ cướp đường lớn đã xâm chiếm thành phố, những người khác thì nghĩ là một trận hỏa hoạn vừa bùng lên. Phải nửa tiếng đồng hồ trôi qua thì người ta mới phát hiện ra Rabbi Benish một nửa bị chôn vùi dưới tuyết, gần một cây dẻ, chỉ cách nhà ông hai mươi bước chân. Vợ ông ngất xỉu khi nhìn thấy chuyện gì đã xảy đến với ông và tất tật các phụ nữ khởi sự cùng nhau than vãn. Nhưng Rebbi Benish chưa chết. Đám đàn ông nâng ông dậy, ông rên rỉ rất to, và đưa ông vào phòng làm việc của ông. Mặt ông tím ngắt vì lạnh, cánh tay phải bị gãy hoặc trật khớp, một mắt hoàn toàn nhắm. Hơi nước đọng dâng lên từ bộ râu phủ tuyết của ông và người ông run rẩy vì sốt.
Người ta hỏi ông nhiều câu, hét vào tai ông, nhưng không không trả lời. Chẳng phải là không khó khăn, người ta cởi quần áo cho ông và đặt ông nằm lên giường. Môi ông trắng bệch đi vì đau đớn và vợ của Ozer lấy giấm vã lên đó. Một ai đó khác day thái dương ông và thổi vào mặt ông, nhằm hồi sức cho ông. Để soi sáng căn phòng, người ta châm ngọn nến xoắn dành cho buổi tối shabbat. Ngọn lửa chập chờn và cái bấc khởi sự tuôn khói.
Chuyện vừa xảy ra rất mau chóng đến được tai những người tham gia lễ đính hôn. Phần lớn nhất của đám người ngay tức khắc rời khỏi chỗ đó, các phụ nữ lần lượt đi mất, để không bị nhìn thấy. Các ngọn nến đã tắt. Chỉ vài cành củi đang cháy nốt, tỏa ra một luồng sáng thiếu chắc chắn. Sàn nhà ướt, người ta đã làm đổ bàn ghế, ngay cả trần cũng rỏ nước. Mùi rượu cùng mùi những hòn tan cuối cùng bập bềnh trong không khí. Rechele vẫn chưa tỉnh lại. Cô nằm trơ ì trên giường, tóc tai rũ rượi, răng đánh vào nhau lập cập. Chinkele Mộ đạo cố công làm cô hồi tỉnh. Bà cởi khuy áo bờ lu của cô, tháo các dải ruy băng và thử vừa cho cô uống nước vừa thì thầm với cô những lời âu yếm và cầu xin cô đáp lại. Ở một góc phòng, Reb Itche Mates lầm bầm một mình, quay mặt vào tường. Reb Mordecai Joseph, vốn dĩ đã uống nửa bình rượu mạnh, tới giật khuỷu tay ông ta nhằm hối ông ta về nhà. Giọng khản đặc, ông ta lẩm nhẩm hát, hết sức sung sướng vì cú ngã của Benish, kẻ thù ông ta.
"Đến đây, Reb Itche Mates. Giờ thì, lũ quỷ đã chiếm lấy lão rồi. Cầu cho tên lão mai một vĩnh viễn!"
