V (1)
Philip Herriton vừa tròn hăm tư tuổi khi Lilia qua đời - thực tế tin ấy đến Sawston vào đúng sinh nhật cậu. Cậu là một thanh niên cao, gầy, mà quần áo phải khéo độn vai mới trông tạm ổn. Cậu có khuôn mặt bình thường chứ chẳng phải không, và nét đẹp cùng cái xấu quyện vào nhau một cách kỳ lạ. Trán cậu đẹp và mũi cao thanh tú, mắt thì vừa sắc vừa ấm. Nhưng dưới mắt và mũi lại là mớ hỗn độn, và những người nếu tin rằng miệng và cằm quyết định tới vận mệnh thì đều lắc đầu khi thấy cậu.
Bản thân Philip ngay từ nhỏ đã hoàn toàn ý thức được những khuyết điểm này. Đôi lúc khi bị bắt nạt hay cô lập ở trường cậu sẽ nhốt mình trong phòng ngủ nhỏ ở kí túc xá và chăm chú nhìn mình qua gương rồi thở dài nói: "Đây là một khuôn mặt yếu đuối. Mình sẽ chẳng bao giờ có nổi một vị trí riêng ở thế giới này." Nhưng theo năm tháng cậu không chỉ bớt tự ti mà còn thêm tự cao. Cậu nhận ra thế giới này đã dành cho cậu một hốc nhỏ như bất kỳ ai khác. Tính cách thì hẳn được định hình về sau - hoặc đã tồn tại mà cậu không hay. Dẫu sao cậu có gu thẩm mĩ và khiếu hài hước, hai phẩm chất đáng có nhất. Đầu tiên là có gu thẩm mĩ. Nó khiến cậu ở tuổi đôi mươi đã đeo cà vạt nhiều màu và đội mũ mềm, ăn tối muộn để ngắm hoàng hôn, và khám phá nghệ thuật từ Burne-Jones đến Praxiteles. Hăm hai tuổi, cậu đã đến Ý cùng vài người anh em họ, và ở nơi đây đã đắm mình vào tổng thể cảm năng của ô liu, trời xanh, bích họa, nhà trọ vùng quê, các vị thánh, nông dân, tranh khảm, tượng khắc, kẻ ăn mày. Cậu trở về với dáng vẻ một nhà tiên tri muốn cải tạo Sawston hoặc chối bỏ nó. Tất tật năng lượng và nhiệt huyết của một cuộc sống không bạn hữu đã trút vào sự nghiệp bảo vệ cái đẹp.
Nhưng chỉ thời gian ngắn thôi mọi chuyện đã kết thúc. Cả Sawston lẫn bản thân cậu không thay đổi gì hết. Cậu đã khiến nửa tá người sửng sốt, chành chọe chị gái, và càu cọ mẹ mình. Cậu thừa nhận không gì có thể thay đổi, không biết rằng tình yêu nhân loại và tình yêu chân lý đôi khi lại có thể chinh phục được cái nơi mà tình yêu cái đẹp đã không làm được.
Cậu trở lại cuộc sống thanh bình, đôi chút hết ảo tưởng, phần nào mỏi mệt, nhưng cảm năng vẫn còn nguyên, và ngày càng dựa nhiều hơn vào phẩm chất thứ hai, khiếu hài hước. Nếu không thể cải tạo thế giới, cậu dẫu sao hoàn toàn có thể cợt nhả nó, ít nhất như vậy còn có được sự ưu việt về trí năng. Cậu đọc và tin rằng, cười là dấu hiệu của một nền tảng đạo đức lành mạnh, và cậu cười đầy vừa lòng, cho đến khi cuộc hôn nhân của Lilia khiến sự vừa lòng ấy biến tan mãi mãi. Nước Ý, vùng đất xinh đẹp đó, với cậu đã bị hủy hoại. Nó không có quyền năng để cải tạo những gã đàn ông và những thứ bên trong nó. Nó cũng có thể tạo ra sự tham lam, hung bạo, ngu muội - và thứ còn tệ hơn nữa, sự dung tục. Chính trên mảnh đất đó và dưới ảnh hưởng của nó, một phụ nữ ngu ngốc đã cưới một kẻ vô lại. Cậu ghét Gino, kẻ đã phản bội lý tưởng sống của cậu, và giờ đây bi kịch nhơ nhớp đó đã xảy ra khiến cậu dằn vặt, không phải thương hại, mà là hoàn toàn hết ảo tưởng.
Sự hết ảo tưởng đó lại tạo thuận lợi cho bà Herriton, người đã thấy được trước mắt là khoảng thời gian đôi chút khó khăn, và vui vẻ khi cả nhà đã gắn kết.
"Chúng ta sẽ dự tang lễ chứ, các con nghĩ sao?" Bất cứ khi nào có thể bà luôn luôn hỏi ý kiến các con mình.
Harriet cho rằng họ nên đi. Cô có thể ghét Lilia khi cô ấy còn sống, nhưng luôn luôn cảm thấy người chết đáng được quan tâm và cảm thông. "Dẫu sao chị ấy đã quá đau khổ. Bức thư đó khiến con mất ngủ nhiều đêm. Toàn bộ chuyện này giống như một trong những vở kịch hiện đại đáng ghét mà không nhân vật nào tốt cả. Nhưng nếu chúng ta đi đưa tang thì đồng nghĩa sẽ phải nói cho Irma."
"Đương nhiên phải nói cho Irma chứ!" Philip nói.
"Đương nhiên," mẹ cậu nói. "Nhưng mẹ nghĩ chúng ta vẫn không nên nói cho con bé chuyện Lilia kết hôn."
"Con không nghĩ thế. Hẳn giờ thì con bé đã ngờ ngợ gì đó rồi."
"Đấy chỉ là đoán thôi. Nhưng con bé chưa từng quan tâm đến mẹ nó, và những cô nhóc chín tuổi thì chưa lý trí lắm đâu. Nó coi đó chỉ là một chuyến chơi xa. Và quan trọng là, điều quan trọng nhất, không được để con bé bị sốc. Toàn bộ cuộc đời một đứa nhỏ phụ thuộc vào lý tưởng về cha mẹ mình. Phá hủy lý tưởng đó sẽ kéo theo tất cả - đạo đức, hành vi, tất tật mọi thứ. Tin tưởng tuyệt đối vào người khác là cốt lõi của giáo dục. Ấy là lý do vì sao mẹ rất cẩn trọng khi nói về Lilia đáng thương trước mặt con bé."
"Nhưng mẹ quên đứa bé mới sinh khốn khổ này rồi. Waters & Adamson viết rằng có một đứa bé."
"Phải nói cho bà Theobald. Nhưng bà ấy thì không quan trọng. Bà ấy đang yếu hơn rất nhiều. Giờ thì bà ấy thậm chí còn chẳng gặp ông Kingcroft nữa. Mẹ nghe nói, ơn Chúa, rốt cuộc anh ta cũng tìm được niềm an ủi với người khác rồi."
"Sớm muộn con bé cũng biết thôi," Philip khăng khăng, cảm thấy mình hơi khó chịu, dù không biết tại sao.
"Càng muộn càng tốt. Con bé đang lớn từng ngày."
"Con thấy nó giống như vận rủi, phải không nhỉ?"
"Với Irma ư? Vì sao?"
"Có lẽ với chúng ta. Chúng ta cũng có đạo đức và hành xử tốt, nhưng con không cho rằng cứ giữ kín như thế sẽ nâng giá trị những điều đó."
"Không cần lái chuyện sang hướng ấy," Harriet nói, một cách kích động.
"Đương nhiên là không," mẹ cô nói. "Hãy nói việc chính thôi. Đứa bé này không liên quan. Bà Theobald sẽ chẳng làm gì hết, và nó không liên quan đến chúng ta."
"Chắc chắn sẽ có thay đổi về chuyện tiền bạc," cậu nói.
"Không, con ạ; hầu như không đổi gì. Charles tội nghiệp đã đề cập đến mọi tình huống trong di chúc. Tiền sẽ thuộc về con và Harriet, với tư cách người giám hộ Irma."
"Tốt. Vậy gã người Ý đó được gì?"
"Tất tật mọi thứ của Lilia thuộc về anh ta. Nhưng các con biết đó là những gì rồi đấy."
"Tốt. Vậy đây là chiến thuật của chúng ta - không kể về đứa bé với ai hết, ngay cả với cô Abbott."
"Chắc chắn đây là cách làm hợp lý nhất," bà Herriton nói, thay từ "chiến thuật" của Harriet bằng "cách làm." "Nhưng sao chúng ta phải nói cho Caroline chứ?"
"Cô ấy đã dính sâu vào chuyện này."
"Tạo vật ngu ngốc đáng thương. Nghe càng ít về chuyện này thì con bé sẽ vui hơn. Mẹ rất tiếc cho Caroline. Chính con bé, chứ không phải ai khác, lại là người đau đớn và dằn vặt. Con bé đã khóc nức nở khi nghe mẹ kể một chút, chỉ một chút thôi, về bức thư khủng khiếp đó. Mẹ chưa từng thấy sự ăn năn nào chân thành đến thế. Chúng ta phải tha thứ cho nó và quên đi. Hãy để người chết được yên nghỉ. Chúng ta sẽ không phiền con bé bằng những chuyện đó."
Philip thấy mẹ mình chẳng có chút logic nào. Nhưng nói ra điều ấy lại không ích gì. "Vậy thì Đời Mới khởi đi từ đây. Mẹ nhớ không, đó là những gì chúng ta đã nói khi tiễn Lilia."
"Đúng vậy, con yêu; nhưng giờ mới thực sự là một Đời Mới, bởi tất tật chúng ta đều đồng lòng nhất trí. Khi ấy con còn cuồng si nước Ý. Nơi đó có thể đầy tranh và nhà thờ đẹp, nhưng chúng ta không thể đánh giá một đất nước qua điều gì khác ngoài những người ở đó."
"Hoàn toàn đúng," cậu buồn bã nói. Và với chiến thuật lúc này đã được quyết định cậu ra ngoài tản bộ một cách vô định.
Lúc cậu trở lại đã có hai điều quan trọng xảy ra. Irma đã được kể về cái chết của người mẹ, và cô Abbott, tới để quyên đồ phúc thiện, cũng biết tin này.
Irma khóc lớn, hỏi vài câu hợp lý và rất nhiều câu ngốc nghếch, và hài lòng với những câu trả lời lảng tránh. May mắn là nhà trường sắp phát thưởng, và, khi nghĩ đến việc có thể mặc đồ đen mới, con bé không còn bận tâm tới sự vị rằng Lilia, người đã vắng mặt quá lâu, từ nay sẽ không còn về nữa.
"Còn với Caroline," bà Herriton nói, "mẹ suýt thì chết khiếp. Con bé hoàn toàn sụp đổ. Nó vẫn khóc khi rời nhà chúng ta. Mẹ đã hết sức an ủi nó, và còn hôn nónữa. Quan trọng nhất là khúc mắc giữa con bé và chúng ta giờ đã hoàn toàn chấm dứt."
"Cô ấy không hỏi gì ư - ý con là, về nguyên nhân Lilia qua đời?"
"Con bé có hỏi. Nhưng nó đặc biệt tinh tế. Nó nhận ra mẹ không muốn nói rõ, nên không nài nữa. Con biết đấy, Philip, những gì không thể nói với Harriet thì mẹ có thể nói với con. Suy nghĩ của nó quá thô. Thật sự chúng ta không muốn cả Sawston biết về đứa bé. Nếu ai cũng đến hỏi chúng ta về chuyện này, thì còn đâu là bình yên và thoải mái nữa."
Mẹ cậu biết làm thế nào ứng phó với cậu. Cậu hào hứng đồng tình. Và vài ngày sau khi tình cờ đi cùng cô Abbott tới London, suốt cả chặng dường cậu luôn cảm thấy sự phấn khích dễ chịu của một người hiểu rõ nhiều chuyện hơn đối phương. Lần cuối cùng họ đi cùng nhau là từ Monteriano trở về qua châu Âu. Đó là một hành trình khủng khiếp, và Philip, với sự liên tưởng, đoán trước được lần này thế nào cũng xảy ra chuyện.
Anh đã bất ngờ. Cô Abbott, trên đường từ Sawston đến Charing Cross, đã thể hiện những phẩm chất mà anh không bao giờ nghĩ cô lại có. Dù không có kiến giải nào độc đáo, nhưng cô thật sự đã thể hiện một trí tuệ đáng khen, và dẫu đôi lúc còn vụng, thậm chí hấp tấp, anh cảm thấy cô là một người hoàn toàn có thể cải tạo.
Thoạt tiên cô khiến anh khó chịu. Đương nhiên là khi họ đang nói về Lilia, cô đã phá tan chuỗi lời thương xót và đột nhiên nói: "Tất tật chuyện này không chỉ bi thảm mà còn kỳ quặc nữa. Và những gì tôi đã làm cũng kỳ quặc như thế."
Đây là lần đầu tiên cô nhắc tới cách hành xử đáng khinh của mình. "Đừng bận tâm," anh nói. "Mọi chuyện đã qua. Hãy để người chết được yên nghỉ. Họ đã rời khỏi cuộc đời chúng ta."
"Nhưng chính bởi vậy tôi mới có thể nói về chuyện đó và kể tất tật với anh. Anh nghĩ tôi ngu ngốc, sướt mướt, xấu xa và điên rồ, nhưng thật ra anh không biết lỗi của tôi lớn dường nào đâu."
"Thật sự thì giờ tôi không còn nghĩ về nó nữa," Philip dịu dàng nói. Anh biết cô nói chung là người rộng lượng và ngay thẳng; thật sự thì cô không cần phải nói ra suy nghĩ của mình.
"Đêm đầu tiên chúng tôi tới Monteriano," cô kiên trì nói tiếp, "Lilia ra ngoài tản bộ một mình, thấy gã người Ý đó ngồi trên tường với tư thế đặc biệt, và đã yêu anh ta. Anh ta ăn mặc tồi tàn, và thậm chí chị còn không biết anh ta là con trai một nha sĩ. Phải nói với anh rằng tôi không lạ gì chuyện này. Trước đó một hai lần, tôi đã cử người theo dõi họ."
"Đúng thế, chúng tôi đã cậy nhờ cô," Philip nói với giọng đột nhiên cay nghiệt. Xét cho cùng, nếu đã quyết bộc bạch suy nghĩ của mình, cô sẽ phải gánh chịu hậu quả.
"Tôi biết mọi người đều nghĩ thế," cô đáp lại bằng giọng cay nghiệt chẳng kém. "Lilia đã gặp anh ta nhiều lần nữa, và tôi biết mình hẳn phải can thiệp. Một tối nọ tôi gọi Lilia vào phòng ngủ. Chị ấy rất sợ, vì biết tại sao và biết tôi có thể gay gắt thế nào. 'Chị yêu người đàn ông này ư?' tôi hỏi. 'Yêu hay không yêu?' Chị nói 'Yêu.' Và tôi nói, 'Nếu chị nghĩ mình sẽ hạnh phúc, sao chị không kết hôn với anh ta?’"
"Thật là - thật sự là," Philip bùng nổ, tức điên cứ như thể chuyện chỉ mới xảy ra hôm qua. "Cô hiểu rõ Lilia mà. Không nói những điều khác - cứ như thể chị ấy có thể lựa chọn điều sẽ khiến mình hạnh phúc vậy!"
"Các người đã từng để chị ấy lựa chọn chưa?" cô bừng mặt. "Tôi e lời của mình khá khiếm nhã," cô nói thêm, gắng bình tĩnh lại.
"Chúng ta hãy xem nói vậy là để thể hiện sự không vui đi," Philip nói, anh luôn luôn tỏ vẻ mỉa mai khô khốc mỗi khi bối rối.
"Hãy để tôi nói hết. Sáng hôm sau tôi đã tìm Signor Carella và nói với anh ta như thế. Anh ta - ừm, anh ta đồng ý. Vậy thôi."
"Còn bức điện đó thì sao?" Anh khinh miệt nhìn ra ngoài cửa sổ.
Cho đến giờ giọng cô luôn gắt, có thể do tự trách, có thể do khiêu khích. Nhưng lúc này nó lại buồn không phải nghi ngờ. "À, bức điện! Đó là sai lầm. Lilia khi ấy còn nhát hơn cả tôi. Chúng tôi nên nói thật. Dẫu sao tôi thấy rất lo. Tôi đến ga là để kể tất tật với anh. Nhưng ngay từ đầu chúng ta đã bắt đầu nói dối, và tôi đã rất sợ. Và đến cuối, khi anh đi, tôi lại sợ và đã đi cùng anh."
"Cô thực sự định ở lại đó ư?"
"Lúc đó là vậy, dẫu thế nào chăng nữa."
"Điều đó có thích hợp với một cặp đôi mới cưới không?"
"Sẽ hợp thôi. Lilia cần tôi. Còn về anh ta - tôi không thể không cảm nhận được rằng mình có ảnh hưởng đến anh ta."
"Tôi không biết những chuyện này," Philip nói; "nhưng tôi nghĩ nó có thể khiến tình hình phức tạp hơn."
Cô không bận tâm tới bình luận mai mỉa ấy. Cô tuyệt vọng nhìn ra vùng quê nhàm chán ken đặc nhà cửa, và nói: "Chà, tôi đã giải thích rồi."
"Xin thứ cho tôi, cô Abbott; với hầu hết hành động của cô, cô mới chỉ miêu tả chứ không giải thích."
Anh đã chạm vào điểm yếu của cô, và cho rằng cô sẽ há hốc miệng và sụp đổ. Nhưng anh không ngờ cô đáp lại với đôi chút kích động. "Giải thích sẽ khiến anh chán đấy, ngài Herriton; nó sẽ dẫn đến những chủ đề khác."
"Ồ, không sao."
"Anh biết đấy, tôi ghét Sawston."
Anh hài lòng. "Và tôi cũng thế, trước đây cũng như bây giờ. Thật tuyệt. Cô nói tiếp đi."
"Tôi ghét sự thanh nhàn, sự ngu ngốc, sự tử tế, và cả thói vị tha vặt vãnh."
"Thói ích kỷ nhỏ mọn," anh sửa lại. Tâm lý luận về Sawston từ lâu đã là mối bận tâm của anh.
"Thói vị tha vặt," cô nhắc lại. "Tôi nghĩ rằng tất tật những người ở đây dành cả đời mình để chấp nhận những hy sinh vặt vãnh cho những thứ họ còn chẳng quan tâm, để làm vừa lòng những người họ còn chẳng ưa thích; rằng họ chưa bao giờ học được sự chân thành - và, tệ không kém, chẳng bao giờ học được cách làm bản thân hạnh phúc. Đó là những gì tôi nghĩ - những gì tôi đã nghĩ khi còn ở Monteriano."
"Sao cơ, cô Abbott," anh kêu lên, "cô nên nói điều này với tôi sớm hơn! Đến giờ tôi vẫn nghĩ thế! Tôi đồng ý với rất nhiều điều. Thật tuyệt!"
"Còn về Lilia," cô tiếp tục, "dẫu có một số điều tôi không thích, nhưng chị ấy dù sao vẫn có khả năng khiến mình vui vẻ nhờ chân thành. Và Gino, tôi nghĩ anh ta rất tuyệt vời, và trẻ trung, không chỉ khỏe về thể chất mà còn thật sự chân thành. Nếu đã muốn kết hôn, sao họ không thể làm thế? Sao chị ấy không thể từ bỏ cuộc sống héo úa ở cái nơi chị ấy chỉ có một cái rãnh để đi và cứ thế, ngày càng - còn tệ hơn cả bất hạnh - chết lặng đến khi qua đời? Đương nhiên, tôi đã sai. Chị ấy đã chỉ chuyển từ cái rãnh này sang cái rãnh khác - một cái rãnh còn tệ hơn. Còn về anh ta - chà, anh hiểu anh ta hơn tôi. Tôi không còn dám tin phán đoán của mình về con người nữa. Nhưng tôi vẫn cảm thấy, khi chúng tôi gặp lần đầu tiên, anh ta không thể xấu đến thế. Lilia - tôi dám chắc một điều! - hẳn chị ấy đã quá nhát. Anh ta chỉ là một thằng nhóc - tôi nghĩ sẽ dạy được anh ta thành người tốt - hẳn Lilia đã không dạy anh ta đúng cách. Và đó là lần duy nhất tôi đã làm một chuyện không đúng mực, và kết quả là thế. Giờ thì anh có lời giải thích của tôi rồi đấy."
"Nhiều luận điểm trong đó thật thú vị, dẫu tôi không hoàn toàn hiểu hết. Cô đã từng nghĩ tới sự khác biệt về địa vị xã hội giữa họ chưa?"
"Chúng tôi đã quá kích động - say sưa nổi loạn. Chúng tôi đã không còn lương tri. Ngay khi anh đến, anh đã thấy và thấy trước mọi việc rồi."
"Ồ, tôi không nghĩ thế." Anh cảm thấy đôi chút khó chịu vì mình bị cho là có lương tri. Trong một thoáng dường như anh thấy cô Abbott còn phóng khoáng hơn cả mình.
"Tôi hy vọng anh hiểu," cô Abbott cuối cùng nói, "vì sao tôi lại phiền anh lâu như thế. Phụ nữ ấy mà - tôi nghe anh hôm đó nói - chẳng thể thanh thản nếu không được nói to cái sai của mình. Lilia đã mất còn chồng chị trở thành người xấu - tất tật đều tại tôi. Ngài Herriton, anh biết đấy, chuyện ấy khiến tôi đặc biệt đau khổ; đây là lần đầu tiên tôi dấn thân vào cái thứ mà cha tôi gọi là ‘đời thực’ - và xem tôi đã làm gì kìa! Suốt mùa đông đó dường như tôi bắt đầu biết đến cái đẹp và sự tráng lệ, mà không rõ đó là gì; và khi xuân đến, tôi đã muốn phản kháng những gì mình ghét - sự tầm thường, sự tẻ nhạt, thói ác ý và cả xã hội nữa. Tôi đã thật sự thù ghét xã hội chỉ sau một hai ngày ở Monteriano. Tôi không hiểu tại sao tất tật những thứ này lại không thể khuất phục, và nếu chúng ta phản kháng, chúng sẽ xé toang chúng ta thành từng mảnh. Cảm ơn anh đã lắng nghe tôi lảm nhảm lâu như thế."
"Ồ, tôi hoàn toàn đồng cảm với những gì cô nói," Philip nói đầy khích lệ; "đó không phải nói nhảm, và một hai năm trước tôi cũng nói thế. Nhưng giờ tôi lại thấy khác, và tôi hy vọng cô cũng sẽ thay đổi. Xã hội là không thể khuất phục - ở một mức độ nào đó. Nhưng đời thực của cô thuộc về chính cô, và không gì có thể can thiệp. Không sức mạnh nào trên đời có thể ngăn cô chỉ trích và khinh miệt sự tầm thường - không gì có thể ngăn cô rút vào cái đẹp và sự tráng lệ - rút vào những nghĩ suy và lòng tin tạo nên đời thực ấy - con người thực của chính cô."
"Tôi chưa từng có kinh nghiệm đó. Chắc chắn cả tôi và đời tôi đều thuộc về nơi tôi sống."
Rõ ràng cô cũng như bao phụ nữ bình thường khác không có năng lực hiểu được triết luận. Nhưng cô đã thể hiện một tính cách, và anh nhất định phải hiểu thêm về cô. "Đối mặt với sự tầm thường không thể khuất phục vẫn có một niềm an ủi lớn khác," anh nói - "gặp được người đồng cảnh ngộ. Tôi hy vọng đây chỉ là lần đầu tiên trong vô số cuộc thảo luận chúng ta sẽ có cùng nhau."
Cô đưa ra một câu trả lời thích hợp. Tàu đã đến Charing Cross, và họ chia tay - anh đi xem một vở kịch chiều, còn cô đi mua váy lót cho người nghèo béo mập. Khi mua, cô lơ đãng: vực sâu giữa cô và ông Herriton, mà cô đã luôn luôn biết rằng rất lớn, nay với cô dường như đã trải ra vô tận.
Những sự kiện và cuộc trò chuyện này xảy ra vào dịp Giáng sinh. Đời Mới mà họ khởi đi đã qua được khoảng bảy tháng. Và rồi một việc nhỏ - một việc nhỏ phiền toái, đã chấm dứt đời mới ấy.
Irma sưu tầm bưu ảnh, và mỗi khi chúng được gửi đến, bà Herriton và Harriet luôn luôn giành ngó trước, để tránh cho đứa trẻ giữ phải thứ gì dung tục. Lần này chủ đề có vẻ hoàn toàn không sai - một loạt ống khói nhà máy hoang phế - và Harriet đang định đưa nó cho cháu gái thì đột nhiên thấy được những chữ được viết ở mép. Cô ỉnh ỏi hét toáng và lẳng ngay tấm bưu ảnh vào lò sưởi. Đương nhiên, vào tháng Bảy thì lò không đốt, và Irma chỉ phải chạy tới và nhặt nó lên.
"Con dám à!" Cô đứa trẻ gào lên. "Con bé hư này! Đưa nó đây!"
Không may là bà Herriton không ở trong phòng. Irma, vốn chẳng sợ Harriet, nhảy vòng quanh bàn và đọc hàng chữ trong lúc ấy. "Cảnh thành phố Monteriano nguy nga - em choai con gửi."
Harriet ngu ngốc túm lấy Irma, bạt tai con bé, và xé tan bưu thiếp. Irma đau đớn khóc nức, và giận dỗi gào lên: "Ai là em trai con? Sao con chưa từng được nghe kể về em ấy? Bà nội! Bà nội ơi! Ai là em trai con? Ai là -"
Bà Herriton bước nhanh vào phòng, nói: "Đi với bà nào, con yêu, và bà sẽ kể con nghe. Giờ là lúc con nên biết rồi."
Trở lại sau cuộc nói chuyện, Irma sụt sùi, dẫu thật ra con bé chỉ biết rất ít. Nhưng chỉ chút ít vậy thôi cũng đủ để nắm bắt trí tưởng tượng của con bé. Con bé hứa giữ bí mật - dẫu chẳng biết sao phải thế. Nhưng có hại gì đâu khi nói về cậu em trai này với những người đã biết chuyện nhỉ?
"Cô Harriet!" Irma nói, "Chú Phil! Bà nội! Mọi người đoán xem em trai con đang làm gì? Em đã bắt đầu chơi được chưa? Trẻ con Ý có biết nói trước chúng ta không, hay em là bé con người Anh được sinh ra ở nước ngoài nhỉ? Ôi, con muốn gặp em quá, và con muốn trở thành người đầu tiên dạy em Mười điều răn và Giáo lý vấn đáp."
Lời nói cuối ấy luôn luôn khiến Harriet cau có.
