IV
Hối hận là quá trình diễn ra thầm lặng đến nỗi không thể nói "Hôm qua tôi hạnh phúc, nhưng hôm nay thì không." Không giây phút nào Lilia nhận ra cuộc hôn nhân của mình đã thất bại; vậy nhưng suốt mùa hè và mùa thu ấy, ngay cả một người có bản tính như cô cũng trở nên không hạnh phúc. Không phải cô bị chồng đối xử tệ bạc hay nói vài lời đắng cay. Anh ta đơn giản mặc kệ cô. Buổi sáng anh ta ra ngoài "làm việc," như cô phát hiện, nghĩa là ngồi lì ở farmacia.[1] Trưa thì anh ta thường về nhà dùng bữa, ăn xong thì vào phòng khác ngủ. Đến tối anh ta lại tràn trề sinh lực, và ra ngoài hóng gió trên tường thành, thường ăn tối bên ngoài, và hiếm khi về nhà trước nửa đêm hoặc muộn hơn. Đương nhiên, có những lúc anh ta đi chơi xa - tới Empoli, Siena, Florence, Bologna - vì anh ta thích du ngoạn, và dường như kết bạn khắp cả nước. Lilia thường nghe nói anh ta được lòng mọi người thế nào.
Cô bắt đầu nhận thấy mình cần phải quyết tâm, nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu. Sự tự tin, từng đánh bại Philip, đã dần dà tan biến. Nếu cô rời ngôi nhà xa lạ này thì ngoài kia vẫn là thị trấn nhỏ xa lạ ấy. Nếu cô không nghe lời chồng và tản bộ ở vùng quê thì sự xa lạ đó còn lớn hơn nữa - những sườn dốc ô liu và vườn nho mênh mang, với các nông trại sơn trắng, và xa xa là những sườn dốc khác, với nhiều ô liu và nông trại hơn, và còn nhiều thị trấn nhỏ hơn nữa lác đác dưới trời quang. "Đây không thể là vùng quê được," cô nói. "Sao chứ, nó còn chẳng hoang dã bằng Sawston Park!" Và, quả thật nơi này hầu như không có chút hoang dã nào - một số sườn dốc đã được canh tác trong hai nghìn năm. Nhưng nó vẫn thật đáng sợ và bí ẩn, và đối mặt với cảnh ấy ngày ngày khiến Lilia thấy rất khó chịu đến nỗi quên mất bản tính của mình và bắt đầu suy tư.
Cô chủ yếu suy tư về cuộc hôn nhân của mình. Lễ cưới diễn ra chóng vánh và tốn kém, và những nghi thức đó, bất kể thế nào, đều không phải nghi thức Giáo hội Anh. Lilia không tin Chúa; nhưng trong nhiều giờ liền cô bị xâm chiếm bởi nỗi lo trần tục rằng mình đã không "kết hôn phải phép," và rằng ở thế giới bên kia địa vị xã hội của cô cũng sẽ thấp kém như ở đây. Có lẽ sẽ an toàn hơn nếu làm mọi chuyện kĩ hơn, và một ngày nọ cô đã tiếp nhận lời khuyên của Spiridione và gia nhập Giáo hội Cơ đốc La Mã, hoặc, như cô gọi, "Giáo hội Santa Deodata." Gino đồng ý; bản thân anh cũng thấy như thế sẽ an toàn hơn. Và việc xưng tội cũng khá vui, dẫu linh mục là một ông già ngốc; và toàn bộ chuyện này là cái tát vang vào mặt những người ở nhà kia.
Những người ở nhà kia rất bình thản đón nhận cái tát đó; thật ra chẳng còn mấy ai để cô tát cả. Nhà Herriton thì khỏi cần nhắc đến; họ thậm chí còn không để cô viết thư cho Irma, dẫu đôi lần Irma được phép viết thư cho cô. Bà Theobald ngày càng lẩm cẩm hơn, và, nếu còn minh mẫn về chuyện gì, rõ ràng bà về phe nhà Herriton. Và cô Abbott cũng vậy nốt. Tối nào Lilia cũng nguyền rủa người bạn phản trắc, người đã đồng ý với cô rằng cuộc hôn nhân này sẽ "ổn" thôi, và rằng nhà Herriton rồi sẽ thay đổi quan điểm, thế nhưng, chỉ với chút phản đối đầu tiên, cô ta đã cùng quẫn và inh ỏi, trốn biệt tăm về Anh. Cô Abbott đứng đầu danh sách dài những người cô sẽ không bao giờ viết thư, và những người cô sẽ chẳng bao giờ tha thứ. Gần như chỉ một người duy nhất không nằm trong danh sách là ông Kingcroft, người đã bất ngờ gửi đến một lá thư thăm hỏi sướt mướt ân cần. Chắc chắn anh ta sẽ chẳng bao giờ qua Eo biển, và Lilia thỏa sức tưởng tượng trong thư phúc đáp.
Ban đầu cô còn gặp một vài người Anh, bởi Monteriano chẳng phải nơi hang cùng ngõ hẻm gì. Một hai quý bà quý cô tọc mạch, vốn nghe nói về sự cự cãi giữa cô với nhà Herriton ở Anh, đã tới thăm cô. Cô tỏ ra rất hoạt bát, và họ nghĩ cô thật không tầm thường, và Gino là thằng nhóc đáng yêu, vậy nên sau tất cả mọi chuyện đều tốt. Nhưng đến tháng Năm thì mùa du lịch kết thúc, như nó luôn vậy, và không ai đến nữa cho tới mùa xuân năm sau. Như bà Herriton thường nói, Lilia không có nguồn giải khuây. Cô không thích nghe nhạc, đọc sách, hay làm việc nhà. Phẩm chất cuộc sống duy nhất với cô là bừng mặt phấn khích, và tùy tình huống mà trở thành càm ràm hay huyên náo. Cô không dễ bảo, nhưng lại nhát gan; vậy nên Gino, theo cách ôn hòa nhất, đã khiển cô làm những gì anh ta muốn, điều mà hẳn bà Herriton sẽ phải ghen tị. Ban đầu việc để anh ta chiếm ưu thế cũng khá vui. Nhưng khi nhận ra anh ta không muốn làm khác thì cô thấy phiền. Anh ta luôn thể hiện ý chí cứng rắn khi cần, và chẳng chút do dự khóa trái cửa để đạt mục đích. Thâm tâm anh ta rất hung bạo, và một ngày nọ Lilia đã gần chạm được vào nó.
Vẫn là chuyện cũ về việc ra ngoài một mình.
"Ở Anh em luôn làm vậy."
"Đây là Ý."
"Đúng, nhưng em lớn tuổi hơn anh, và em sẽ làm được."
"Tôi là chồng em," anh ta cười nói. Họ vừa ăn trưa xong, và anh ta muốn đi ngủ. Không gì có thể khiến anh ta kích động, cho tới khi Lilia rốt cuộc, ngày càng bực hơn, nói: "Và em có tiền."
Anh ta trông khiếp hãi.
Giờ là lúc cô nên kiên định. Cô lặp lại lời đó lần nữa. Anh ta đứng dậy khỏi ghế.
"Và anh tốt hơn nên sửa thái độ của mình đi," cô tiếp tục, "vì nếu em không viết chi phiếu nữa thì anh sẽ thấy rất phiền đấy."
Cô không giỏi đọc tính cách người khác, nhưng rất nhanh hoảng hốt. Về sau cô nói với Perfetta, "Dường như quần áo anh ấy không vừa - chỗ này thì quá rộng, còn chỗ kia quá chật." Dáng vẻ anh ta thay đổi chứ không phải khuôn mặt anh ta, khom vai về phía trước cho tới khi làm nhăn phần lưng áo và để lộ cổ tay. Anh ta có vẻ sẵn sàng chiến đấu. Anh ta đi vòng qua bàn đến chỗ cô ngồi, và cô bật dậy rồi kéo ghế chắn giữa họ, sợ đến mức không thể động đậy hay nói năng. Anh ta nhìn cô bằng đôi mắt tròn vô hồn, rồi chậm rãi vươn tay trái.
Tiếng Perfetta đi lên từ nhà bếp vọng tới. Dường như nó khiến Gino tỉnh lại, và anh ta quay người đi về phòng mình mà không nói lời nào.
"Có chuyện gì vậy?" Lilia hét lên, gần xỉu. "Anh ấy ốm - bị ốm."
Perfetta lộ vẻ nghi hoặc khi nghe xong câu chuyện. "Cháu nói gì với cậu ấy thế?" Bà làm dấu thánh giá trên người.
"Không gì cả." Lilia nói, cũng làm dấu thánh giá trên người. Và đó là cách hai người phụ nữ đó tỏ lòng kính trọng tới người đàn ông thịnh nộ của mình.
Rốt cuộc Lilia cũng nhận ra Gino cưới cô vì tiền. Nhưng anh ta đã khiến cô sợ đến mức không thể khinh bỉ. Khi trở lại trông anh ta rất đáng sợ, vì anh ta cũng rất sợ, van nài cô, phủ phục dưới chân cô, ôm cô, thì thào "đó không phải là anh," gắng giải thích những điều anh ta không hiểu. Anh ta ở nhà trong ba ngày, thực sự ốm với cơ thể suy sụp. Nhưng với tất tật nỗi đau ấy của mình, anh ta đã thuần được cô, và cô không bao giờ còn dọa ngừng cấp dưỡng cho anh ta nữa.
Có lẽ anh ta đã kiểm soát cô chặt hơn bình thường. Nhưng anh ta còn rất trẻ, và không thể chịu nổi khi bị nói mình không biết cách đối xử với phụ nữ - hay làm thế nào để quản lý vợ. Và địa vị xã hội của anh ta cũng không chắc. Ngay cả ở Anh, nha sĩ cũng là nhân vật rắc rối mà những người thận trọng sẽ thấy khó để xác định địa vị. Anh ta dao động giữa làm nghề và buôn bán; địa vị của anh ta có thể thấp hơn bác sĩ một chút, hoặc có thể ngang với dược sĩ, thậm chí còn tệ hơn. Con trai một nha sĩ ở Ý cũng cảm được điều đó. Với anh ta mọi thứ đều không quan trọng; anh ta thích kết bạn với ai thì kết bạn, bởi anh ta là một sinh vật thẳng thắn vô ngần, một tay đàn ông thực sự. Nhưng vợ anh ta thà ở nhà không đi đâu hết còn hơn đi lung tung; sống khép kín rõ ràng là đúng đắn và an toàn. Những lý tưởng xã hội ở miền Bắc và miền Nam đã trải qua một cuộc đụng độ ngắn, và lần này miền Nam đã thắng.
Mọi chuyện đều ổn nếu anh ta không chỉ khe khắt đòi hỏi vợ mà còn tự mình tuân thủ nghiêm cách hành xử đó. Nhưng mâu thuẫn không mảy may xuất hiện trong suy nghĩ của anh ta. Luân lý của anh ta là của người Latin bình thường, và khi đột nhiên được đặt vào vị trí một quý ông thì anh ta chẳng thấy lý do nào để không tỏ vẻ như thế. Đương nhiên, nếu Lilia làm khác đi, nếu cô quyết tâm và kiềm chế tính cách của anh ta, anh ta có thể - dù không khả thi lắm - được nhào nặn trở thành người đàn ông cũng như người chồng tốt hơn, và dẫu sao anh ta có thể tiếp thu thái độ của đàn ông Anh, người dẫu hành động tương tự thì vẫn có tiêu chuẩn cao hơn. Nhưng nếu Lilia làm khác đi, có lẽ cô đã không kết hôn với anh ta.
Việc phát hiện anh ta ngoại tình - mà cô tình cờ biết - đã làm tan nát lòng tự tôn cuối cùng mà đời cô còn có thể có. Cô hoàn toàn sụp đổ, nghẹn ngào và nức nở trong vòng tay Perfetta. Perfetta tử tế và thậm chí thông cảm với cô, nhưng cảnh báo cô đừng nói rõ mọi chuyện với Gino, người mà nếu biết mình bị nghi ngờ sẽ nổi điên mất. Và Lilia đồng ý, không hẳn vì cô sợ anh ta, mà phần nào là bởi, xét cho cùng, đây là cách khôn ngoan và giữ thể diện nhất. Cô đã từ bỏ tất cả vì anh ta - con gái, họ hàng, bạn bè, tất tật những tiện nghi và thú vui nhỏ nhặt của đời sống văn minh - và ngay cả khi có đủ dũng khí để cắt đứt thì liệu giờ còn ai chấp nhận cô nữa? Nhà Herriton gần như đã phản đối cô kịch liệt, và tất tật bạn bè cô từng người từng người một cũng dần lánh xa cô. Vậy nên tốt hơn cứ cam chịu sống, tê liệt cảm xúc, và gắng xử sự vui vẻ để mọi chuyện diễn ra như bình thường. "Có lẽ," cô nghĩ, "khi mình có con, anh ấy sẽ khác. Mình biết anh ấy muốn một đứa con trai."
Lilia đã trở nên sướt mướt như thế dẫu bản thân cô không muốn, vì có những tình huống mà dù bạn có tầm thường hay không cũng chẳng quan trọng. Cordelia hay Imogen không đáng để ta khóc nhiều hơn.
Cô hay khóc, khiến mặt cô già nua và tiều tụy, điều ấy làm chồng cô đau lòng. Anh ta đặc biệt tốt với cô khi không thường gặp cô, và cô chấp nhận sự tử tế của anh ta không oán hận, thậm chí còn biết ơn, cô đã trở nên quá dễ bảo. Cô không ghét anh ta, thậm chí giống như cô chưa từng yêu anh ta; với cô, chỉ khi phấn khích thì thứ gì đó giống như hai loại cảm xúc mạnh này mới xuất hiện. Người ta nói cô bướng bỉnh, nhưng thật ra cô ngốc đến mức vô cảm.
Vậy nhưng, nỗi đau không liên quan mấy tới tính khí, ngay cả phụ nữ thông minh nhất cũng gần như không thể đau hơn.
Còn với Gino, anh ta vẫn là thằng nhóc như cũ, và chẳng coi thói hư tật xấu của mình là chuyện gì lớn. Câu nói ưa thích của anh ta là: "À, người ta nên kết hôn! Spiridione đã sai rồi; anh hẳn phải khuyên nhủ cậu ta. Chỉ khi kết hôn người ta mới hiểu được niềm vui và những khả thể của cuộc sống." Nói xong, anh ta sẽ nhấc mũ nỉ ra, vuốt mặt trước của nó, không lần nào sai biệt, hệt như người Đức luôn vuốt mặt sau của mũ, và để cô lại rồi đi.
Một chiều nọ, khi anh ta ra ngoài như thế, Lilia không thể chịu nổi nữa. Giờ đã là tháng Chín. Sawston đang trở lại nhộn nhịp sau những ngày nghỉ hè. Người ta bận rộn ra vào nhà nhau dọc con phố. Có các cuộc đua xe đạp, và đến ngày 30 bà Herriton sẽ tổ chức buổi bán hàng từ thiện thường niên cho C.M.S[2] trong vườn nhà. Có vẻ khó tin là một cuộc sống tự do, hạnh phúc như thế lại có thể tồn tại. Cô bước ra hiên nhà. Bầu trời tím nhạt, trăng sáng và đầy sao. Vào những đêm như thế tường thành Monteriano hẳn rất đẹp, Nhưng ngôi nhà này lại quay lưng về phía tường thành.
Perfetta đang làm rộn trong bếp, và cầu thang xuống dưới dẫn qua cửa bếp. Còn cầu thang lên gác mái - chẳng ai dùng cả - ở ngay ngoài phòng khách, và chỉ cần mở khóa cửa tầng trên là có thể ra sân thượng hình vuông trên nóc nhà, và có được mười phút tản bộ yên bình và tự do.
Chìa khóa nằm trong túi cái áo vét đẹp nhất của Gino - cái vét kẻ ca rô cắt may ở Anh - mà anh ta không bao giờ mặc. Cầu thang cót két còn ổ khóa cành cạch; nhưng Perfetta đang dần lãng tai. Tường thành rất đẹp, nhưng do ở hướng tây nên chìm trong bóng tối. Để thấy tường thành dưới ánh sáng, cô sẽ phải đi quanh thị trấn một chút cho đến khi nhìn được ánh trăng mọc trên tường thành. Cô lo lắng nhìn về phía ngôi nhà, và bắt đầu rời đi.
Đó là chuyến tản bộ dễ dàng, vì có một lối nhỏ dẫn tuột ra ngoài tường thành. Một vài người cô gặp đều lịch sự chào cô, vì cô không đội mũ, nghĩ cô là nông dân. Tường thành uốn về phía trăng; và lúc này cô đã tới chỗ ánh trăng, và thấy tất tật những ngọn tháp thô ráp biến thành những cây cột bạc và đen, và tường thành biến thành vách đá châu ngọc. Cô chẳng có mấy gu thẩm mĩ, nhưng cô lại đa sầu đa cảm, và cô bắt đầu nức nở; bởi chính nơi đây, giữa vành đai ô liu vô cùng tận đột nhiên có một cây bách lớn, mà cô đã ngồi cùng Gino vào một chiều tháng Ba, tựa đầu vào vai anh, trong khi Caroline ngắm cảnh và vẽ phác. Qua ngã rẽ là cổng Siena, từ đây khởi đi con đường đến Anh, và cô có thể nghe thấy tiếng xe ngựa lọc cọc vội bắt chuyến tàu đêm tới Empoli. Ngay sau đó nó xuất hiện trước cô, vì đường cái trước tiên rẽ qua đây một chút trước khi bắt đầu hành trình dài chữ chi xuống núi.
Tay xà ích giảm tốc độ, và mời cô lên xe. Anh ta không biết cô là ai. Anh ta hy vọng cô muốn tới ga tàu.
"Non vengo!"[3] cô nói lớn.
Anh ta chào cô, và giục ngựa đi tiếp. Ngay khi xe qua ngã rẽ, cô nhận ra trong xe không có người.
"Vengo -"
Giọng cô run run, và không thể vang xa. Xe đã qua ngã rẽ.
"Vengo! Vengo!"
Tay xà ích đã bắt đầu hát, và không nghe được gì hết. Cô chạy ra đường, hét lên gọi anh ta dừng lại - rằng cô đang tới; trong khi ấy khoảng cách giữa họ càng xa và tiếng xe càng lớn. Ánh trăng rọi lên tấm lưng rộng và đen của tay xà ích, và chỉ cần anh ta quay đầu lại thôi là cô đã được cứu. Cô tìm cách đi tắt đến khúc cua của con đường chữ chi, chạy vấp trên mô đất, to và cứng như đá, nằm giữa đám cây ô liu bất diệt. Cô đã quá muộn; vì ngay trước khi cô kịp ra đến đường, xe đã ầm ầm vượt qua, cuốn tung những đám bụi mù dưới ánh trăng.
Cô không gọi nữa, vì cảm thấy rất mệt, rồi ngất đi; và khi tỉnh lại cô thấy mình đang nằm trên đường, mắt, miệng và tai lấp đầy bụi. Có thứ gì đó rất đáng sợ trong bụi bặm ban đêm.
"Mình nên làm gì đây?" cô rên rỉ. "Anh ấy sẽ rất giận."
Và không còn gắng gượng nữa, cô chậm rãi leo trở lại cái lồng giam, vừa đi vừa rũ bụi trên trang phục.
Vận rủi bám cô đến cùng. Đó là một trong những tối mà Gino tình cờ về nhà. Anh ta đang ở trong bếp, chửi thề và đập bát đĩa, trong khi Perfetta, tạp dề phủ kín đầu, không ngừng nức nở. Khi nhìn thấy Lilia, anh ta hướng về phía về cô tuôn ra một tràng chửi rủa ô uế. Anh ta giận dữ hơn nhưng không đáng sợ như hôm đó khi vòng qua bàn đến gần cô. Và Lilia, dù thấy có lỗi, đã dũng cảm hơn bao giờ hết, vì khi anh ta chửi bởi, cô thấy phẫn nộ và không còn sợ hãi nữa, cô nhận ra anh ta chỉ là một gã mới phất tàn nhẫn, vô dụng, giả dối, phóng đãng mà thôi, và cô cãi lại.
Perfetta hét lên, vì cô đã nói tuốt tuột với anh ta - tuốt tuột những gì cô biết và tuốt tuột những gì cô nghĩ. Anh ta há hốc mồm đứng đó, cơn giận hoàn toàn tan biến, anh ta xấu hổ với bản thân, và là một kẻ đại ngu. Anh ta đã bị dồn vào chân tường, hoàn toàn đáng đời. Từ khi nào mà ông chồng lại để lộ mình như thế chứ? Cô đã nói xong, còn anh ta thì chết lặng, vì cô nói ra sự thật. Rồi, ôi trời! anh ta nhận ra hoàn cảnh lố bịch của mình, và cười phá lên - như khi anh ta sẽ cười với tình huống tương tự trên sân khấu.
"Anh còn cười sao?" Lilia lắp bắp.
"À," anh ta nói lớn, "ai mà nhịn nổi chứ? Anh nghĩ em không biết và không thấy gì - anh đã bị lừa - anh đã bị đánh bại rồi. Anh đầu hàng. Chúng ta thôi đừng nói về chuyện này nữa nhé."
Anh ta chạm vào vai cô như một người bạn tốt, nửa vì buồn cười và nửa vì thấy hối lỗi, rồi mỉm cười và lầm bầm một mình, lặng lẽ rời phòng.
Perfetta lập tức chúc mừng. "Cháu mới dũng cảm làm sao!" bà ấy nói lớn; "và thật may mắn! Cậu ấy không giận nữa! Cậu ấy đã tha thứ cho cháu rồi!"
Cả Perfetta, Gino hay chính Lilia đều không biết tất tật nguồn cơn bất hạnh về sau là vì đâu. Đến tận cuối anh ta vẫn nghĩ rằng chỉ cần đối xử tốt và đôi chút quan tâm là đủ để mọi chuyện êm đẹp. Vợ anh ta chỉ là một phụ nữ rất bình thường, vậy sao ý nghĩ của cô ấy lại khác mình chứ? Không ai nhận ra rằng khác biệt ở đây không chỉ về tính cách; rằng cuộc đấu tranh ấy còn mang tính dân tộc; rằng các thế hệ tiên tổ, bất kể tốt, xấu hay bình thường, đều ngăn cấm đàn ông Latinh hào hiệp với đàn bà phương bắc, đều ngăn cấm đàn bà phương bắc tha thứ cho đàn ông Latinh. Tất tật đều có thể đoán được từ trước: bà Herriton đã nhìn thấy nó ngay từ đầu.
Trong khi Lilia tự hào về tiêu chuẩn cá nhân cao của mình, còn Gino thì đơn thuần băn khoăn sao cô lại không thay đổi được nhỉ. Anh ta không thích phiền muộn, và khao khát được cảm thông, nhưng lại không dám nhắc đến muộn phiền ở thị trấn hòng tránh để chúng bị quy thành sự kém cỏi của chính mình. Spiridione được nghe kể, và đã hồi âm bằng một lá thư đầy triết lý nhưng không hữu ích lắm. Còn người bạn lớn khác, mà anh ta tin tưởng hơn, đang đi lính ở Eritrea hoặc một tiền đồn hoang vu nào đó khác. Muốn giải thích mọi thứ cho anh ta thật quá tốn giấy mực. Vả lại, viết thư thì ích chi? Bạn bè không thể qua lại bằng thư từ được.
Lilia, quá nhiều điểm tương đồng với chồng mình, cũng khao khát sự thoải mái và cảm thông. Vào cái đêm anh ta cười cợt cô, cô đã cuống cuồng lấy giấy và bút rồi viết hết trang này đến trang khác, phân tích tính cách của anh ta, liệt kê những hành vi xấu của anh ta, viết lại toàn bộ cuộc đối thoại, truy tìm tất tật căn nguyên và quá trình phát triển nỗi bất hạnh của mình. Cô quýnh lên đầy cảm xúc, và dẫu chẳng thế nghĩ hay thấy được gì, cô đột nhiên lại có được sự tráng lệ và sức thuyết phục đến mức ngay cả một tay viết có văn phong được đào tạo bài bản cũng phải ghen tị. Thư được viết như nhật ký, và phải gần đến cuối cô mới nhận ra mình đang viết cho ai.
"Irma, Irma thân thương, thư này là dành cho con. Mẹ đã gần như quên mất con gái mình. Điều ấy có thể làm con buồn, nhưng mẹ muốn con biết tất cả, và con không thể hiểu mọi chuyện quá sớm. Chúa phù hộ con, con gái yêu của mẹ, và bảo vệ con. Chúa phù hộ cho người mẹ khốn khổ của con."
May thay khi thư đến thì bà Herriton đang ở nhà. Bà vội cầm lấy và đọc nó trong phòng ngủ. Chỉ chậm một khắc thôi, tuổi thơ yên bình của Irma đã bị phá hỏng hoàn toàn.
Lilia nhận được một tin nhắn ngắn từ Harriet, một lần nữa cấm mẹ con trực tiếp liên lạc với nhau, và đoạn kết còn bày tỏ lời chia buồn bằng cái giọng chính thức. Nó gần như khiến Lilia phát điên.
"Bình tĩnh! Bình tĩnh nào!" chồng cô nói. Cả hai đang ngồi cùng nhau ở hiên khi thư đến. Giờ thì anh ta thường xuyên ngồi cùng cô, nhìn cô hàng giờ liền, bối rối và lo lắng, nhưng không hối lỗi.
"Không có gì đâu." Cô vào nhà và xé tan bức thư, rồi bắt đầu viết - một bức thư rất ngắn với nội dung chính là "Hãy đến cứu tôi."
Thật không tốt khi thấy vợ mình vừa khóc vừa viết thư - đặc biệt khi bạn ý thức được, về tổng thể, mình đã đối xử khá hợp lý và tử tế với cô ấy. Thật không tốt, khi bạn tình cờ nhìn từ đằng sau, thấy rằng cô ta đang viết thư cho một người đàn ông. Cô ta cũng không nên vung nắm đấm về phía bạn khi rời phòng, cứ tưởng rằng bạn đang bận châm xì gà và không thể thấy cô ta.
Lilia tự mình tới bưu cục. Nhưng ở Ý thì rất nhiều việc có thể giải quyết được. Người giao thư là bạn của Gino, và ông Kingcroft không bao giờ nhận được thư của mình.
Vậy nên Lilia từ bỏ hy vọng, đổ bệnh, nằm liệt giường suốt mùa thu. Gino quẫn trí. Cô biết lý do: anh ta muốn một đứa con trai. Anh chẳng thể nói và nghĩ điều gì khác cả. Khát khao duy nhất của anh ta là làm cha một người đàn ông giống mình, và khao khát ấy bám riết lấy anh ta mà anh ta không hoàn toàn hiểu được, bởi đây là nỗi khát khao lớn đầu tiên, dục vọng lớn đầu tiên trong đời mình. So với niềm hi vọng bất tử thiêng liêng này: "Tôi muốn được nối dõi" thì yêu đương thuần là chuyện vớ vẩn của cơ thể, hệt như nắng thì ấm còn nước thì lạnh. Anh ta góp nến cho nhà thờ Santa Deodata, bởi trong những lúc nguy nan anh ta luôn luôn sùng đạo, và thi thoảng còn tự mình đến và cầu nguyện đầy thô vụng cho lời nguyện cầu đơn giản ấy. Khi nào cần thì anh ta sốt ruột mời tất tật họ hàng tới bầu bạn, và Lilia thấy những khuôn mặt xa lạ lướt qua mình trong căn phòng tối.
"Em yêu!" anh ta nói, "Lilia yêu quý của anh! Yên tâm đi nhé. Anh chưa bao giờ yêu ai khác ngoài em."
Cô, hiểu rõ mọi chuyện, chỉ dịu dàng cười, quá tan nát cõi lòng vì nỗi đau để mỉa mai đáp lại.
Trước khi đứa trẻ chào đời, anh hôn cô một cái, và nói, "Anh đã cầu nguyện cả đêm để em sinh cu con."
Một thoáng dịu dàng kỳ lạ xuất hiện khiến cô rung động, và cô yếu ớt nói: "Anh vốn là cu con rồi, Gino."
Anh đáp, "Vậy thì tụi anh sẽ là anh em."
Anh nằm ở ngoài hiên, áp mặt vào cửa phòng như một con chó. Khi họ tới báo tin vui cho anh họ thấy anh đã gần như mất ý thức, và mặt anh đẫm nước mắt.
Về phần Lilia, ai đó nói với cô, "Đó là một cu con rất kháu!" Nhưng cô đã chết trong lúc sinh thằng bé.
