favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

VIII (2)

"À, mấy bà mấy cô - mấy bà mấy cô!" người kia kêu lên, và rồi rống lên như một triệu phú gọi hai tách cà phê đen, và nhất quyết đãi bạn mình, như một dấu hiệu rằng mối bất hòa giữa họ đã kết thúc.

"Chà, tôi đã làm hết sức rồi," Philip nói, thả một viên đường dài vào tách, rồi nhìn chất lỏng màu nâu nhấn chìm nó. "Tôi sẽ đối mặt mẹ mình với lương tâm thanh thản. Anh sẽ làm chứng cho tôi rằng tôi đã làm hết sức chứ?"

"Bạn tội nghiệp, tôi sẽ làm!" Anh ta đặt tay đầy thông cảm lên đầu gối Philip.

"Và rằng tôi đã -" Viên đường lúc này đã ngấm cà phê, và anh cúi xuống nuốt nó. Trong lúc ấy ánh mắt anh lướt về phía quảng trường đối diện, và anh thấy Harriet đang ở đó nhìn họ. "Mia sorella!" anh thốt lên. Gino, còn vui hơn, đặt tay mình lên cái bàn nhỏ, và vui nhộn gõ nắm đấm lên mặt đá cẩm thạch. Harriet quay đi và bắt đầu ảo não ngắm Palazzo Pubblico.

"Harriet đáng thương!" Philip nói, nuốt viên đường. "Thêm lần đau đớn nữa và mọi chuyện sẽ chấm dứt với chị ấy; chúng tôi sẽ đi vào tối nay."

Gino lấy làm tiếc về chuyện đó. "Vậy tối nay anh không thể đến đây như đã hứa với chúng tôi được. Cả ba đều đi sao?"

"Cả ba," Philip nói, không để lộ việc cô Abbott đã tách đoàn, "đi tàu tối; chí ít đó là kế hoạch của chị tôi. Vậy nên tôi e là không thể tới đây được."

Họ nhìn bóng dáng dần khuất của Harriet, và rồi bắt đầu quá trình lịch thiệp cuối cùng. Họ dùng cả hai tay để bắt nồng nhiệt. Philip sẽ trở lại vào năm sau, và sẽ viết thư báo trước. Anh sẽ được giới thiệu với vợ của Gino, vì anh đã được kể về chuyện Gino sắp cưới. Anh sẽ là cha đỡ đầu đứa con thứ hai của anh ta. Về phần Gino, anh ta sẽ nhớ trong một khoảng thời gian rằng Philip thích rượu vermouth. Anh ta cầu Philip thay mình gửi lời yêu thương tới Irma. Còn bà Herriton nữa - liệu anh ta có thể gửi lời thương cảm không nhỉ? Không; e là không thể được.

Cứ thế hai gã trai chia tay nhau với tình cảm chân thành đích thực. Vì rào cản ngôn ngữ đôi khi lại là một rào cản may mắn, khi nó chỉ cho phép những gì tốt đẹp đi qua. Hay - nói một cách bớt gắt hơn - chúng ta có thể tốt hơn khi nói chuyện bằng ngôn từ mới và sạch, chưa từng bị vấy bẩn bởi sự thô tục hay ác ý của mình. Dẫu sao đi nữa, Philip sống độ lượng hơn trong tiếng Ý, thứ ngôn ngữ khiến người ta trở nên vui vẻ và tử tế. Thật kinh khi nghĩ đến tiếng Anh của Harriet, từng từ từng từ một đều sẽ cứng, rõ và nhám như cục than đá.

Vậy nhưng, Harriet lại nói ít. Cô đã nhìn thấy đủ để hiểu rằng em trai mình lần nữa thất bại, và cô chấp nhận tình huống này với phẩm chất hiếm có. Cô thu dọn hành lý, cô viết nhật ký, cô bọc cẩm nang du ngoạn mới bằng giấy nâu. Philip, nhận ra cô hợp tình hợp lý như thế, đã gắng bàn về kế hoạch sắp tới của họ. Nhưng cô chỉ nói rằng họ sẽ ngủ lại Florence, và bảo anh ta đánh điện đặt phòng. Họ ăn tối riêng. Cô Abbott không xuống lầu. Bà chủ nhà nói với họ rằng Signor Carella đã đến chào tạm biệt cô Abbott, nhưng cô, dù ở trong phòng, đã không thể gặp anh ta. Bà còn nói với họ rằng trời đã bắt đầu mưa. Harriet thở dài, nhưng tỏ ý với em trai rằng đó không phải lỗi của anh.

Khoảng tám giờ mười lăm xe ngựa tới. Mưa không lớn lắm, nhưng đêm lại đen bất thường, và một trong những người xà ích muốn đi chậm tới ga. Cô Abbott đi xuống và nói rằng cô đã chuẩn bị xong và muốn khởi hành ngay.

"Vâng, được thôi," Philip đứng trong sảnh nói. "Giờ thi bởi chúng ta đã càu cọ nên hẳn chúng ta không muốn tuần tự xuống núi nữa. Chà, tạm biệt nhé; cuối cùng cũng hết; đã chuyển sang một xen khác trong hoạt cảnh lịch sử của tôi rồi."

"Tạm biệt; rất vui được gặp anh, tôi hy vọng dẫu sao đi nữa cũng đừng chuyển xen." Cô nắm chặt tay anh.

"Giọng cô thật ủ rũ," anh bật cười nói. "Đừng quên cô chiến thắng trở về."

"Tôi cho là mình sẽ nghĩ vậy," cô đáp, giọng còn ủ rũ hơn, và chui vào xe. Anh kết luận rằng cô đang nghĩ về chuyện mình được chào đón ở Sawston thế nào, khi mà thanh danh của cô bị ảnh hưởng ra sao. Bà Herriton sẽ làm gì chứ? Nếu bà đã quyết định thì có thể khiến chuyện trở nên rất khó chịu. Bà có thể cho rằng mình cần kín miệng, nhưng vẫn còn đó Harriet. Ai có thể kiểm soát được lưỡi Harriet đây? Kẹp giữa hai người họ, cô Abbott sẽ có những tháng ngày khó nhọc. Thanh danh cô, cả về sự nhất quán giữa nói và làm lẫn lòng nhiệt tâm đạo đức, đều sẽ bị hủy hoại mãi mãi.

"Cô ấy thật không may," anh nghĩ. "Cô ấy là người tốt. Mình nhất định phải dốc hết sức giúp cô ấy." Quan hệ thân thiết giữa họ đã tiến triển rất nhanh, nhưng anh cũng hy vọng điều này sẽ không đổi. Anh tin rằng mình hiểu cô, và rằng giờ đây cô đã thấy được mặt tệ nhất của anh. Nếu rất lâu sau này - nếu rốt cuộc - anh dõi theo xe cô, mặt bừng đỏ như một cậu nhóc.

Anh đi vào phòng ăn để tìm Harriet. Harriet không ở đó. Phòng ngủ của cô cũng trống không. Tất tật những gì còn lại của cô chỉ là cuốn kinh cầu màu tím đặt mở trên giường. Philip vô thức cầm nó lên và thấy - "Đáng ngợi khen Đức Chúa là sức mạnh của tôi, Ngài dạy tay tôi đánh trận và ngón tay tôi đánh giặc." Anh bỏ cuốn kinh vào túi, và bắt đầu suy ngẫm về những chủ đề hữu ích hơn.

Chuông nhà thờ Santa Deodata điểm tám rưỡi tối. Tất cả hành lý đã chất lên xe, còn Harriet vẫn không thấy đâu. "Yên tâm," bà chủ nói, "chắc cô ấy đến nhà Signor Carella để tạm biệt đứa cháu trai nhỏ." Philip không nghĩ điều này là có thể. Họ lớn tiếng gọi khắp nhà, nhưng vẫn không thấy Harriet đâu. Anh bắt đầu thấy bất an. Anh thấy bất lực khi không có cô Abbott ở bên; khuôn mặt nghiêm nghị, phúc hậu của cô đã an ủi anh siết bao, ngay cả khi cô trông bực dọc. Monteriano buồn chán khi không có cô; mưa dày hơn; tiếng nhạc Donizetti đứt đoạn vang lên từ các quán rượu; và anh chỉ có thấy phần đáy của ngọn tháp lớn đối diện, trên đó mới dán quảng cáo của mấy tay lang băm.

Một người đàn ông từ ngàoi đường đi vào với một tờ giấy nhắn. Philip đọc, "Khởi hành ngay. Đón tôi cổng thành. Trả tiền cho người đưa thư. H. H."

"Lời nhắn này do quý cô kia đưa cho anh nhỉ?" anh lớn tiếng hỏi.

Người đàn ông ú ớ không rõ.

"Nói to lên!" Philip gắt, "Ai đưa cho anh - và ở đâu?"

Chẳng gì khác ngoài những tiếng thở dài và phì phò đáng sợ phát ra từ người đàn ông đó.

"Hãy kiên nhẫn với anh ta," người xà ích quay người trên xe nói. "Anh ta là gã ngốc tội nghiệp." Và bà chủ bước ra từ quán trọ và nhắc lại "Gã ngốc tội nghiệp. Anh ta không biết nói. Anh ta mang thư cho tất cả chúng tôi."

Lúc này Philip mới nhận ra người đưa thư kia là một tạo vật khủng khiếp, hói hoàn toàn, với mắt ươn ướt và mũi xám ngoét giật giật. Ở một nước khác anh ta sẽ bị nhốt lại; nhưng ở đây anh ta lại được chấp nhận như một nhân viên hành chính công, và một phần của cơ chế Tự nhiên.

"Ugh!" Tay người Anh rùng mình. "Signora padrona, hãy hỏi anh ta đi; giấy nhắn này là của chị tôi. Nó có ý gì? Anh ta gặp chị ấy ở đâu?"

"Vô ích thôi," bà chủ quán trọ nói. "Anh ta hiểu tất cả nhưng không thể giải thích được."

"Anh ta có thể thấy được các vị thánh," người đánh xe ngựa nói.

"Nhưng chị tôi - chị ấy đi đâu rồi? Sao chị ấy lại gặp anh ta?"

"Cô ấy ra ngoài tản bộ," bà chủ quán trọ quả quyết. Đó là một buổi tối khó chịu, nhưng bà bắt đầu hiểu tay người Anh này rồi. "Cô ấy ra ngoài tản bộ - có lẽ để tạm biệt cậu cháu trai nhỏ của mình. Muốn trở lại bằng đường khác, và cô ấy nhờ gã ngốc tội nghiệp mang giấy nhắn này cho anh và đang đợi anh ở ngoài cổng Siena. Nhiều khách của tôi cũng làm thế."

Không thể làm gì khác ngoài việc tuân theo lời nhắn. Anh bắt tay bà chủ quán trọ, đưa cho người đưa thư một đồng kền, và xe ngựa lăn bánh. Sau khoảng chục thước, xe dừng lại. Gã ngốc tội nghiệp đang rên rỉ chạy theo sau.

"Đi đi," Philip lớn tiếng. "Tôi đã cho anh ta đủ nhiều rồi."

Một bàn tay kinh khủng đẩy ba đồng soldo vào lòng anh. Tật xấu của gã ngốc này là chỉ nhận bao nhiêu tiền thì làm bấy nhiêu việc. Đây là tiền thối lại của đồng kền kia.

"Đi thôi!" Philip gắt gỏng, và ném số tiền ấy xuống đường. Tình tiết này khiến anh sợ; cả cuộc đời đã trở nên không thật. Ra khỏi cổng Siena khiến anh thở phào. Họ đã đi được một lúc trên đường. Nhưng không thấy bóng dáng Harriet đâu cả. Tay xà ích lớn tiếng hỏi đám dogana. Nhưng họ không thấy quý cô Anh nào đi qua.

"Làm sao bây giờ?" anh lớn tiếng; "người phụ nữ này không hay đến muộn. Chúng ta sẽ lỡ tàu mất."

"Chúng ta cứ đi chầm chậm thôi," người xà ích nói, "và anh gọi tên cô ấy trong khi chúng ta đi."

Cứ thế họ bắt đầu đi sâu vào đêm, Philip gọi "Harriet! Harriet! Harriet ơi!" Và cô ở đó, đợi họ trong cơn mưa, ở ngay khúc cua đầu tiên.

"Harriet, sao chị không đáp lại?"

"Tôi nghe thấy các anh tới," cô nói, và nhanh chóng chui vào xe. Phải đến lúc này Philip mới nhận ra cô mang theo một gói đồ.

"Gì thế?"

"Suỵt -"

"Cái quái gì thế?"

"Suỵt - đang ngủ đấy."

Harriet đã thành công ở chuyện mà cả cô Abbott lẫn Philip đều thất bại. Đó là đứa trẻ.

Cô không để anh nói. Đứa trẻ, cô nhắc lại, đang ngủ, và cô giương ô che mưa cho nó và cho mình. Anh sẽ nghe mọi chuyện sau; vì thế anh đành đoán về quá trình của cuộc gặp tuyệt diệu ấy - cuộc gặp giữa cực Nam và cực Bắc. Rất dễ để đoán: Gino đột nhiên sụp đổ trước cáo buộc mãnh liệt của Harriet; có lẽ bị mắng thẳng mặt là đồ gian ác; giao ra đứa con trai duy nhất của mình có thể là vì tiền, hoặc có thể chẳng vì gì hết. "Gino đáng thương," anh nghĩ. "Anh ta xét cho cùng chẳng khá hơn mình là mấy."

Sau đó anh nghĩ tới cô Abbott, xe của cô hẳn đang đi xuống bóng tối phía dưới họ một vài dặm, và sự tự trách nhẹ hều của anh tan biến. Chính cô cũng đã phán xét người ta; anh đã cảm được lực của nó; anh sẽ lại cảm được nó nếu cô biết ngày hôm nay đã kết thúc ảm đạm và bất ngờ như thế.

"Chị đã làm khá kín kẽ đấy," anh nói; "giờ thì chị có thể kể đôi chút cho em đi. Chúng ta trả gì cho anh ta? Toàn bộ những gì ta có ư?"

"Suỵt!" Harriet đáp lại, và chăm chút nựng nịu cái bọc, giống như nữ tiên tri gầy gò nào đó - Judith, hay Deborah, hay Jael. Lần cuối anh thấy đứa trẻ là khi nó ngả ngớn trong lòng cô Abbott, tóa sáng và trần truồng, với cảnh hai mươi dặm phía sau, và cha nó quỳ dưới chân nó. Vả cảnh tượng ấy, cùng Harriet, và bóng tối, và gã ngốc tội nghiệp, và cơn mưa thầm lặng, khiến anh ngập trong nỗi sầu và báo trước nỗi sầu sắp đến.

Monteriano đã khuất dạng từ lâu, và anh không thể thấy gì khác ngoài đôi lúc một thân cây ô liu ướt nhẹp, được đèn xe chiếu sáng khi họ ngang qua. Họ đi rất nhanh vì người xà ích không quan tâm việc đến ga nhanh cỡ nào, và hăm hở lao xuống mỗi con dốc và quặt ngang từng khúc cua.

"Harriet, nhìn này," cuối cùng anh nói, "em cảm thấy không ổn; em muốn xem đứa bé."

"Suỵt!"

"Em không quan tâm nếu làm nó thức giấc. Em muốn xem nó. Em cũng có quyền với nó như chị vậy."

Harriet nhượng bộ. Nhưng trời quá tối để anh nhìn rõ mặt đứa trẻ. "Chờ chút," anh thì thào, và trước khi cô kịp cản lại anh đã quẹt một que diêm dưới tán ô. "Nhưng nó thức rồi!" anh kêu lên. Diêm tắt.

"Nhóc con ngoan thật đấy."

Philip cau mày. "Chị biết không, em thấy mặt nó có gì đó không ổn."

"Không ổn sao?"

"Nhăn nhó một cách kỳ lạ."

"Đương nhiên rồi - trong bóng tối - em không thể nhìn rõ đâu."

"Chà, bế nó lên lần nữa đi." Cô làm theo. Anh lại quẹt que diêm khác. Diêm nhanh chóng tắt, nhưng anh đã kịp thấy đứa trẻ đang khóc.

"Vô lý,” Harriet bực dọc nói, "Nếu nó khóc chúng ta phải nghe được chứ."

"Không, nó đang khóc rất lớn; lúc nãy em đã ngờ ngợ rồi còn bây giờ thì chắc chắn."

Harriet sờ mặt đứa trẻ. Nó đẫm nước mắt. "Ồ, chị nghĩ là sương đêm," cô nói, "hoặc là ướt mưa."

"Này, chị không hề làm đau nó, hay bế nó sai sách; lạ thật đấy - khóc không thành tiếng. Sao chị không để Perfetta bế nó vào khách sạn thay vì nháo chuyện với gã đưa tin kia? Việc anh ta hiểu được nội dung tờ giấy nhắn thật đáng ngạc nhiên."

"Ồ, anh ta hiểu được." Và anh có thể cảm nhận cô rùng mình. "Anh ta đã muốn bế đứa trẻ -"

"Nhưng sao không phải là Gino hay Perfetta?"

"Philip, đừng nói nữa. Chị có cần phải nhắc lại không? Đừng nói nữa. Đứa trẻ muốn ngủ." Cô ngâm nga hăng say khi tiếp tục xuống núi, và đôi lúc cô lại lau đi những giọt lệ không ngừng tuôn từ đôi mắt bé nhỏ ấy. Philip quay đi, đôi khi lại chớp mắt. Cứ như thể họ đang mang theo toàn bộ nỗi sầu của cả thế giới, cứ như thể mọi điều bí ẩn, tất tật nỗi buồn dai dẳng đều dồn về một mối. Lúc này đường đã ngập bùn, và xe di chuyển tĩnh hơn nhưng tốc độ không giảm, trượt dài quanh co vào đêm. Anh rất quen với những biển báo ấy: đây là ngã tư dẫn đến Poggibonsi; và nếu trời sáng, từ đây có thể thấy cảnh Monteriano lần cuối. Chẳng mấy chốc họ sẽ tới khu rừng nhỏ nơi violet rộ nở vào mùa xuân. Anh ước gì thời tiết đã không đổi; trời không lạnh, nhưng không khí ẩm bất thường. Nó có thể không tốt cho đứa trẻ.

"Em nghĩ nó vẫn thở, hay gì đó chứ?" anh nói.

"Đương nhiên," Harriet bực bội thì thào. "Cậu lại làm nó giật mình. Chị tin chắc nó đã ngủ rồi. Chị thực sự muốn cậu đừng nói nữa; cậu làm chị lo quá."

"Em cũng lo. Em mong nó khóc thét cơ. Thật lạ. Gino đáng thương! Em thật sự thấy tiếc cho Gino."

"Thật à?"

"Vì anh ta yếu đuối - như hầu hết chúng ta. Anh ta còn không biết mình muốn gì. Anh ta không nghiêm túc với cuộc sống. Nhưng em thích gã đó, và em thấy tiếc cho anh ta."

Đương nhiên Harriet không đáp lại.

"Chị khinh anh ta, Harriet ạ, và chị khinh em. Nhưng chị làm thế không ích gì cho chúng ta cả. Lũ xuẩn chúng ta muốn ai đó giúp mình đứng dậy. Giả sử một phụ nữ thật sự đoan trang đã giúp Gino đứng vững - em tin Caroline Abbott có thể làm được - thì chẳng phải anh ta sẽ trở thành một người khác ư?"

"Philip," cô cắt ngang, cố tỏ vẻ thờ ơ, "cậu còn diêm không? Nếu cậu còn, chúng ta hãy xem đứa trẻ lần nữa."

Que diêm đầu tiên tắt ngay lập tức. Que thứ hai cũng vậy. Anh đề nghị họ dừng xe và mượn đèn từ người xà ích.

"Ôi, chị không muốn phiền thế đâu. Thử lại đi."

Họ đi vào khu rừng nhỏ khi anh gắng quẹt que diêm thứ ba. Cuối cùng nó cũng cháy. Harriet chỉnh lại ô, và trong đúng mười lăm giây họ nhìn đăm đăm khuôn mặt run rẩy trong ánh lửa chập chờn. Và rồi có một tiếng động lớn và một cú va chạm. Họ ngã xuống đám bùn lầy trong bóng tối. Xe bị lật.

Philip bị thương khá nặng. Anh ngồi dậy và lắc lư vài cái, ôm lấy tay mình. Anh khó khăn lắm mới nhận ra hình dáng xe ngựa ở phía trên mình, và hình dáng đệm xe cùng hành lý của họ trên con đường xám. Sự cố xảy ra trong rừng, nơi còn tối hơn những chỗ trống trải.

"Chị không sao chứ?" anh khó nhọc nói. Harriet đang la hét, ngựa đang đá, còn người xà ích đang chửi rủa ai đó khác.

Tiếng hét của Harriet dần rõ hơn. "Đứa trẻ - đứa trẻ - nó rơi - rơi khỏi tay chị - chị đã trộm nó!"

"Chúa ơi giúp tôi!" Philip nói. Một vòng tròn lạnh bao lấy miệng anh, và anh ngất đi.

Khi tỉnh lại quanh anh vẫn hỗn loạn như cũ. Ngựa đang đá, đứa trẻ không tìm thấy, và Harriet vẫn la hét như người điên. "Chị đã trộm nó! Chị đã trộm nó! Chị đã trộm nó! Nó rơi khỏi tay chị!"

"Đừng cử động!" Anh lệnh cho người xà ích. "Không ai được di chuyển. Chúng ta có thể giẫm phải nó. Đừng cử động."

Trong một thoáng tất tật bọn họ nghe theo anh. Anh bắt đầu bò trong đống bùn, sờ soạng chỗ này chỗ kia, tóm lấy đệm xe vì ngỡ là đứa trẻ, lắng nghe những tiếng thì thào nhẹ nhất để lần theo. Anh gắng quẹt một que diêm, dùng răng giữ hộp và quẹt lửa bằng tay không bị thương. Cuối cùng cũng thành công, và ánh lửa chiếu thẳng vào cái gói mà anh đang tìm.

Nó đã lăn khỏi đường vào bụi cây gần đó, và nằm ngang trên một rãnh sâu. Nó nhỏ đến mức nếu rơi theo chiều thẳng trong rãnh thì sẽ biến mất, và anh có thể không bao giờ tìm được nó.

"Chị đã trộm nó! Chị và gã ngốc đó - không ai ở đó." Cô cười phá lên.

Anh ngồi xuống và đặt nó lên đầu gối. Rồi anh gắng lau bùn, nước mưa và nước mắt trên khuôn mặt ấy. Anh đoán tay mình đã gãy, nhưng vẫn có thể cử động một chút, và lúc này đây anh quên hết mọi đau đớn. Anh đang nghe - không phải một tiếng khóc, mà là tiếp đập của tim hoặc hơi thở khẽ nhất.

"Anh ở đâu thế?" một giọng cất lên. Đó là cô Abbott, xe họ đã đụng phải xe cô. Cô thắp lại một cây đèn, và đang lần đường về phía anh.

"Im lặng!" anh lại hét, và lần nữa tất tật mọi người làm theo. Anh lay gói đồ; anh hà hơi vào nó; anh vén quần áo nó rồi áp vào mình. Rồi anh nghe, nhưng không nghe được gì hết ngoài tiếng mưa và tiếng ngựa phì phò, và tiếng Harriet đang khúc khích đâu đó trong bóng tối.

Cô Abbott bước tới, và nhẹ nhàng đón lấy nó từ anh. Khuôn mặt nó đã lạnh, nhưng nhờ Philip không còn ướt nữa. Nó cũng sẽ không bao giờ còn đẫm nước mắt nữa.

Thêm vào giỏ hàng thành công