Những con đường tình cảm
Laurence Sterne, bằng sự thuần hậu và tấm lòng không ngừng hướng tới những niềm vui thế gian, đã vạch ra con đường tình cảm để từ ấy tạo nên một truyền thống của những tâm hồn khao khát tìm kiếm authenticity thông qua tình cảm, hay nói đúng hơn, thông qua việc bồi đắp cảm tri trước thế giới. Một trong những người kế thừa truyền thống ấy chính là Viktor Shklovsky.
Trở lại thế kỷ 18, thành công bất ngờ của Tristram Shandy đã nhanh chóng đưa Sterne trở thành nhân vật trung tâm của đời sống văn chương Anh: là đối tượng của tò mò và được săn đón hết sức nồng nhiệt. Danh tiếng ấy chẳng bao lâu lan sang Nga vào những năm 1770 dưới sự hậu thuẫn của Catherine Đại Đế - người xem Sterne như một biểu tượng của Sentimentalism, phù hợp với lý tưởng Khai sáng mà bà hướng đến. Từ đây tên tuổi Laurence Sterne bắt đầu đi vào những thảo luận triết học tại Nga, đồng thời các bản dịch tác phẩm sang tiếng Nga của ông cũng xuất hiện từ rất sớm. Truyền thống Sterne cho tới thế kỷ 19 tiếp tục hiện diện trong văn chương của Gogol, Pushkin hay Dostoyevsky; và bước sang thế kỷ 20, nhờ các công trình của phái Hình thức Nga - đặc biệt là Shklovsky - văn chương của Sterne được xác lập và khái quát như một lý thuyết của tiểu thuyết.
Việc đọc Sterne đem lại cho Shklovsky trẻ tuổi những khải ngộ lớn; rất có thể Shklovsky đã tìm thấy ở đó cánh cửa dẫn vào địa hạt lý thuyết mà ông sẽ theo đuổi suốt đời. Sự ảnh hưởng này trực tiếp hé lộ lần đầu qua tác phẩm Sentimental Journey: Memoirs 1917-1922 được Shklovsky viết ở Nga (1919) và hoàn thành trong thời gian lưu vong ở Berlin, kể về kinh nghiệm trải dài từ Chiến tranh thế giới thứ nhất, Cách mạng Nga 1917, Nội chiến Nga. Ngay từ nhan đề tác phẩm đã diễn ra một cuộc hồi ứng với A Sentimental Journey Through France and Italy (Hành trình tình cảm) mà ở đó, sau những hỗn loạn lịch sử đã qua và những khủng hoảng còn chờ phía trước, Shklovsky chọn tin vào ánh sáng của con đường tình cảm mà Sterne từng đi để sống tiếp và phục sinh ý nghĩa của sống. Khoảng những năm 1762-1768, Sterne trải qua quãng thời gian khó khăn chống chọi với căn bệnh lao phổi. Sau khi gần như sắp chết bởi xuất huyết phổi, ông buộc phải chạy trốn khỏi khí hậu Anh và hành trình ấy được ông mô tả là bước tháo chạy của Tristram khỏi cái chết. Cũng từ kinh nghiệm của các chuyến đi này mà Hành trình tình cảm ra đời. Vì vậy có thể nói, Hành trình tình cảm của Sterne chính là hành trình chống lại cái chết. Shklovsky cũng phải đối diện với một tình thế tương tự khi hành trình tình cảm của ông là hành trình đi qua chiến tranh, nạn đói, bệnh tật, lưu vong - cũng tức là cái chết. Bị đẩy vào chuyển động tàn khốc của lịch sử và uy quyền tối thượng của cái chết, vào lúc tất tật lý trí thuần đều vỡ vụn cùng thực tại, chỉ có một lối tri cảm khác mới mang tới cứu rỗi và Shklovsky gặp Sterne ở đó. Shklovsky nhận ra trong một thế giới đã trơ ì bởi bạo lực và chết chóc, authenticity chỉ có thể được tìm thấy thông qua sự phục sinh năng lực tri cảm bắt đầu từ việc chiêm ngưỡng các chi tiết nhỏ bé, vụn vặt gắn với kinh nghiệm sống rồi biến chúng thành các thế giới mới. Cũng như Sterne, ông khơi lại sự sống từ những thứ tầm thường nhất - một đôi ủng rách và cảm giác nặng nề ở bàn chân khi bước qua tuyết, một tách trà nhạt uống vội giữa những chặng tàu, mùi thuốc súng vương trong không khí, ánh sáng đổ xuống một con phố lạ, những cuộc gặp thoáng qua với người lạ không tên, những cái bắt tay lúng túng, một đêm mất ngủ vì đói rét, cảm giác bất an trước một bữa ăn hiếm hoi - dưới hình thức digression kết hợp các thủ pháp đối nghịch. Đó chính là hình thức của lịch sử hỗn loạn đầy khó hiểu, đồng thời là lịch sử của tình cảm nơi người ta cần rất nhiều kiên nhẫn để buông mình theo sự dẫn dắt của ký ức xoắn ốc hòng chạm tới ý nghĩa của sống. Lòng thương xót dành cho cái phù du ngược lại, trao cho ông khả năng nhớ là tiền đề cho phục sinh. Ký ức ấy giúp ông neo lại trạng thái của sống - trong khi những người khác sớm bị văng khỏi hoặc bị san phẳng bởi các lực ngoại tại tàn khốc - để tin rằng còn có những con đường làm cho hòn đá trở lại là hòn đá (“make the stone stony”).
Trong Sentimental Journey: Memoirs 1917-1922 Skhlovsky có những đoạn dài miêu tả kinh nghiệm làm huấn luyện viên lái xe trong một đơn vị xe bọc thép, đó thực tế là vai trò ông đảm nhiệm khi tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khoảng năm 1916, trong lòng chiến tranh, người huấn luyện viên lái xe bọc thép Skhlovsky đã lập nên OPOYAZ (cùng với Moscow Linguistic Circle đặt nền móng cho phái Hình thức Nga). Những năm 1920 là khoảnh khắc kì dị và bi thảm của lịch sử Nga nhưng lại là thời kỳ huy hoàng khi phái Hình thức lúc này đã phát triển hoàn chỉnh lý thuyết về ostraneie gắn với ý tưởng về việc làm lạ hoá những vật quen thuộc và buộc độc giả phải thức tỉnh các niệm năng và cảm tri vốn bị làm cho tê liệt bởi thói quen và tự động hoá. Tuy nhiên các lý thuyết ấy khó được cảm thông trước các nhóm Proletkult và bị công kích bởi chính quyền Bolshevik với lý do đó là mỹ học bourgeois và không phục vụ cách mạng. Đặc biệt từ năm 1920, khi lực lượng Cheka tiến hành các đợt bắt giữ nhắm vào những thành viên của Đảng Xã hội Cách mạng, phái Hình thức Nga - dù không phải một tổ chức chính trị - cũng bị đẩy vào tình thế trớ trêu. Trong giai đoạn này, Shklovsky vẫn kiên trì gắn bó với đời sống học thuật tại House of Arts (Dom Iskusstv) ở Petrograd - một không gian sinh hoạt và trao đổi văn chương nơi ông tham gia giảng dạy, thảo luận các tác giả và vấn đề thi pháp mà ông đặc biệt quan tâm, trong đó có Laurence Sterne. Đó là một ốc đảo nổi lên giữa mộ phần tập thể của thanh trừng và hỗn loạn. Thế nhưng Shklovsky vẫn không thể trốn khỏi vòng chuyển động lớn của lịch sử, ông sớm trở thành đối tượng theo dõi của Cheka vì tiểu sử vô cùng phức tạp: quá khứ tình nguyện tham gia Quân đội Sa hoàng, sau đó dính líu tới phong trào chống Bolshevik của Đảng Xã hội Cách mạng, đồng thời là một trong những nhân vật trung tâm của phái Hình thức Nga. Một tồn tại như ông đặc biệt gây đe dọa bởi nó tạo ra thế đối nghịch với chính quyền đang giương cao ngọn cờ thượng phong trật tự. Mốc 1921 là một mốc quan trọng khi Shklovsky xuất bản essay “The Novel as Pardody: Sterne’s Tristram Shandy” (sau này đưa vào Theory of Prose (1925) đổi tên thành “Sterne’s Tristram Shandy: Stylistic Commentary”); đây cũng chính là năm diễn ra cuộc vũ trang Tagantsev do Cheka dàn dựng nhằm bắt giữ hơn 800 trí thức ở Petrograd và chỉ một năm sau đó, Shklovsky buộc phải trốn sang Berlin vì lệnh truy nã. Đây là lần đầu tiên phê bình Lawrence Sterne được Shklovsky xuất bản thành một monograph tại Moscow bởi Giz (State Publishing House). Giữa giao lộ các ngã rẽ, essay ấy là sự kết tinh từ điều kiện của tuyệt vọng, sáng tạo cùng hy vọng hiệu triệu lời chứng cho con đường tình cảm từ một tinh thần còn giữ nguyên lòng thuần hậu cùng niềm vui với thế giới sau vô số khổ nạn và mất mát như Sterne. Đó là khi Shklovsky dựng lại cho mình kết nối với những khải ngộ quá khứ rồi làm nó hiện ra, việc gọi đích danh Sterne gần như một nghi lễ khởi điểm cho cuộc hành trình lưu lạc kế tiếp không biết sẽ dẫn ông tới đâu (cũng không cần thiết phải biết trước, Yorick không bao giờ đến được Ý nhưng sự không đến được ấy làm nên ý nghĩa của hành trình tình cảm). Trong tiểu luận “The Novel as Pardody: Sterne’s Tristram Shandy”, Shklovsky gọi Tristram Shandy là “the most typical novel in world literature”. Nhưng đó là một paradox bởi cuốn tiểu thuyết ấy - ở phần đa khía cạnh - cực kỳ atypical. Vấn đề nằm ở chỗ Shklovsky đã nhìn vào parody của Sterne và tóm được trong đó giọng đích thực của tiểu thuyết cùng các yếu tính phổ quát của sáng tạo. Chúng biểu hiện qua dòng suy nghĩ lan man từ ý này thoắt sang ý khác nhưng lại đem tới cảm giác thành thực và tường minh, tất tật đều được Sterne phơi lộ trên hình thức. Ở hình thức ấy ta thấy được chuyển động của các năng và vì vậy, các lực hướng vào sống căng tràn thậm chí hỗn loạn. Về phía mình, chính Shklovsky và lý thuyết của ông cũng vướng vào paradox khi, trước công chúng, nó chỉ được xem như một thú tiêu khiển vô bổ mà các trí thức bày ra. Trên thực tế từ các nghiên cứu về hình thức, Shklovsky hơn ai hết muốn giải phóng hình thức khỏi những ràng buộc của tự động hoá và phục hồi năng lực tri cảm. Vào năm 1923, với sự giúp đỡ của Gorki và Mayakovsky, Shklovsky được ân xá trở lại Moscow. Dưới sức ép của chính quyền Stalin và bầu không khí nặng nề của giới học thuật, Shklovsky buộc phải viết “Monument to a Scholerly Error” (1930) đăng trên Literaturnaia gazeta và thừa nhận rằng thời đại của phái Hình thức đã qua song ở bề sâu, ông hiểu rằng con đường của tình cảm mà ông đi trên không thể nào mất đi bởi nó chính là con đường của sáng tạo và của sống đích thực.
Những con đường tình cảm vẫn âm thầm ở đó cho người ta biết rằng thế gian không phải nơi để thoát khỏi.
Thanh Nghi
