Mircea Cărtărescu: Solenoid, chương 20
trước tiên, xem ở kia
Bậc thầy những giấc mộng, đại nhân Issachar, ngồi trước tấm gương, xương sống ông tựa vào mặt kính, đầu ngửa thật xa ra sau, trượt sâu vào trong đó. Rồi Hermana xuất hiện, nữ chúa của chiều tàn, và nàng tan vào ngực Issachar cho đến khi hoàn toàn biến mất. Tôi vẫn thường tự hỏi: vì đâu tôi lại ghê sợ tiểu thuyết, vì sao tôi sẽ khinh bỉ chính mình nếu tôi từng viết một cuốn tiểu thuyết, một “cuốn sách về…”, những câu chuyện vô cùng vô tận, vì sao tôi lại ghét Scheherazade và mọi hậu duệ của nàng, những kẻ mải miết đan dệt lời kể để thiên hạ rút ra bài học luân lý hoặc giết chết thời gian rỗng tuếch. Vì sao tôi chưa từng viết vì khoái cảm hoặc để được khoái cảm. Vì sao tôi không muốn dựng nên những cổng khải hoàn hoặc chí ít là những lỗ cửa nhỏ cho mèo trên bức tường văn chương. Vì sao tôi tự định nghĩa bản thân không qua những tác phẩm, mà qua những cơn bệnh và cơn điên. Vì sao tôi mang mối oán thù âm ỉ với chính nền văn học đã vứt bỏ tôi. Mảnh đoạn của Kafka này lý giải hết mọi điều. Sẽ chẳng ai tìm được một quyển sách nào trên đời có thể chứa được những câu như thế, bởi ngay cả Kafka cũng không dám biến chúng thành xương tai của bất kỳ câu chuyện nào. Chúng nằm lại nơi những trang nhật ký đen tối, định sẵn cho ngọn lửa, những trang chẳng mang khoái cảm, chẳng dạy dỗ điều gì, chẳng tồn tại mà lại sâu sắc hơn tất cả những gì từng tồn tại. Để dựng một bi kịch tâm hồn, ngươi không cần ngàn trang, chỉ cần năm dòng về Issachar và Hermana. Không một tiểu thuyết nào mở đường cho ta đi; tất cả chúng, tuyệt đối tất cả lũ chúng nó, đều trôi ngược về cái hư không vô tích sự của văn chương. Thế gian ngập ngụa trong hàng triệu tiểu thuyết, chúng đánh mất ý nghĩa duy nhất của việc viết: hiểu chính mình cho đến tận cùng, cho đến căn phòng duy nhất trong mê cung tâm thức mà ta không được phép bước vào. Chỉ nên đọc những bản văn phi nghệ thuật, phi văn chương, đắng cay và chẳng thể hiểu nổi, mà tác giả phải điên mới viết nổi, nhưng tuôn ra từ cơn điên, nỗi buồn, và tuyệt vọng như mạch nước thánh. Issachar. Hermana. Le Horla. Malte. Và hàng trăm giọng nói vô diện mà mỗi trang chỉ lặp đi lặp lại một từ duy nhất đáng kể: tôi. Không bao giờ hắn, không bao giờ nàng, không bao giờ “bạn”. Tôi, lát cắt xuyên thời gian của ngôi thứ tư bất khả tri.
Nếu bài thơ Sa Đọa của tôi được Buổi thực hành Mặt Trăng đón nhận tốt đẹp vào tháng Mười Một xa xưa ấy, có lẽ hôm nay tôi đã có chục cuốn sách mang tên mình, tiểu thuyết, thơ, tiểu luận, chuyên khảo, được in trong giáo trình, được mời dự hội sách ở xứ Bắc lạnh giá. Tôi sẽ bị nuốt vào cơn lốc người nổi tiếng. Tôi sẽ chinh phục thế giới theo cách duy nhất có thể: từng chút từng chút đánh mất linh hồn mình. Dệt buồm bằng sợi truyện, đan thơ bằng giấy thiếc và vàng lá, diễn bi kịch chưa từng xảy ra; tôi sẽ quên rằng da thịt là cơ quan nặng nhất của thân thể, nặng hơn cả não hay gan, và rằng nơi duy nhất, duy nhất đáng để viết là da của mình, không cuốn sách nào khả thi ngoại trừ những cuốn được đóng bởi da sống, trang giấy chất đầy dây thần kinh, còn cơ quan Golgi, còn đầy lỗ chân lông, tuyến mồ hôi và những hang hốc ve bọ sinh sôi. Tôi sẽ quên mất chất liệu nguyên sơ, nơi những giọt khổ đau tinh khiết được vắt ra, như vàng lỏng từ mũi chọc tủy sống, chất liệu đã tạo nên Maldoror. Tôi sẽ quên rằng một cuốn sách chỉ có nghĩa khi được nhìn từ đúng góc độ của nó. Tôi sẽ viết những cuốn sách khép kín, tự mãn trong thẩm mỹ, mà độc giả ngó như con mèo ngó ngón tay chỉ vào cuộn len. Nhưng một cuốn sách thật sự phải là dấu hiệu, phải bảo ngươi rằng “hãy đi về phía kia,” hay “dừng lại,” hay “bay lên,” hay “mổ bụng chính mình đi.” Một cuốn sách phải đòi hỏi câu trả lời. Nếu không — nếu ánh nhìn của ngươi dừng lại ở bề mặt tài tình, dịu dàng, thông tuệ, rực rỡ của nó, thay vì chỉ về nơi mà nó hướng, thì ngươi đã đọc một tác phẩm văn học, và một lần nữa đánh mất ý nghĩa duy nhất của mọi nỗ lực con người: thoát khỏi thế giới này. Tiểu thuyết giữ ngươi lại, ru ngươi trong ấm áp, buộc ruy băng sáng loáng lên con ngựa rạp xiếc. Nhân danh Chúa lòng lành, bao giờ thì ngươi mới chịu đọc một cuốn sách thật sự?
Vào giờ Phán xét cuối cùng, sẽ có kẻ bước ra thưa rằng: “Lạy Chúa, con đã viết Chiến tranh và Hoà bình.” Kẻ khác nói: “Lạy Chúa, con đã viết Núi Thần, nơi thế giới được cứu rỗi bằng sự hiến tế của một đứa trẻ.” Lại một người khác: “Lạy Chúa, con đã viết hơn tám mươi cuốn tiểu thuyết và tuyển tập truyện ngắn.” Rồi một người nữa: “Lạy Chúa, con đã nhận một giải thưởng quốc tế lớn.” Rồi lại có tiếng khác vang lên, tự tin và run rẩy: “Lạy Chúa, con đã viết Finnegans Wake, và chỉ viết cho Ngài, vì chẳng ai khác có thể đọc nổi.” Cuối cùng, một người sẽ nâng cao cuốn sách lấp lánh: “Lạy Chúa, xin nhìn Trăm năm cô đơn. Không có cuốn nào hay hơn thế.” Họ sẽ lũ lượt kéo đến, mỗi người ôm chặt những chồng sách, với con số phát hành, trích dẫn phê bình, bài báo tán tụng, giống như những bậc Giáo phụ trong bích hoạ nhà thờ, tay nâng những mô hình đền thờ tí hon. Chung quanh họ là vầng hào quang đa sắc, và gương mặt nào cũng rực sáng như ánh dương. Và Chúa sẽ phán: “Phải, dĩ nhiên, Ta đã đọc hết trước cả khi các ngươi kịp viết ra. Các ngươi đã ban cho nhân loại những giờ phút vui thích, đã dẫn họ vào suy tưởng và mộng mị. Các ngươi đã vẽ những cánh cửa ảo ảnh tuyệt diệu, những cổng vào baroque rực rỡ, trên nền xương sọ vàng nhạt nhẵn bóng của ý thức. Nhưng trong tất cả những cánh cổng đó, cổng nào thực sự mở ra? Cổng nào cho phép mi mắt của trán nâng khỏi con mắt của não? Cổng nào khiến bộ não thật sự được nhìn thấy?” Ở một góc xa, khiêm nhường trong áo rách, sẽ có Kafka và Judge Schreber, Isidore Ducasse và Swift và Sabato, và Darger và Rezzori, cùng hàng ngàn tác giả vô danh, những người viết nhật ký bị xé, bị đốt, bị vùi trong băng giá và thời gian… Họ tay không, nhưng trên lòng bàn tay có những chữ nguệch ngoạc “Bậc thầy những giấc mộng, đại nhân Issachar…”
Sau họ, sẽ đến hàng triệu nhà văn khác, những người chỉ biết viết bằng nước mắt, bằng máu, bằng chất P, bằng nước tiểu, adrenaline, dopamine, epinephrine, trực tiếp trên chính các cơ quan nội tạng của họ với những vết loét của sợ hãi đang âm ỉ; họ viết lên làn da mình, rớm rỉ bởi cực lạc và đau đớn. Mỗi người sẽ mang theo chính tấm da của mình, phủ đầy những hàng chữ, từ đó Chúa gom lại giữa bìa sổ sinh và bìa sổ tử, sẽ tạo thành cuốn sách vĩ đại của nỗi quằn quại nhân sinh.
Tôi muốn văn bản này trở thành một trang trong cuốn đó, một trong hàng tỷ tấm da người bị nhiễm độc, rỉ mủ, phủ kín chữ viết, đóng lại trong Kinh Thánh của kinh hoàng hiện sinh. Vô danh như tất cả những trang khác. Vì mọi dị thường của tôi, dù quái dị đến đâu, cũng không thể che lấp dị thường bi thảm của chính tinh thần bị giam trong thể xác. Và điều duy nhất tôi muốn các ngươi đọc, nhà ngươi, kẻ sẽ không bao giờ đọc nổi tôi, nhìn thấy trên da tôi, chỉ là một tiếng kêu duy nhất, lặp đi lặp lại qua từng trang: “Hãy đi đi! Chạy đi! Hãy nhớ rằng ngươi không thuộc về nơi này!” Nhưng tôi không viết để được đọc, tôi viết để cố hiểu điều gì đang xảy ra với tôi, tôi đang lạc trong mê cung nào, thuộc về phép thử nào, và làm sao để thoát ra mà vẫn còn nguyên vẹn. Khi viết về quá khứ, về dị thường, về đời sống trong suốt của mình, thứ đời sống hiện rõ cấu trúc bất động của thế giới, tôi đang lần tìm quy luật của cuộc chơi, giải mã những dấu hiệu, ghép chúng lại, và xem chúng chỉ về đâu, để tôi có thể đi theo hướng đó. Không có cuốn sách nào có nghĩa, nếu nó không phải là một cuốn Tin Mừng. Một tử tù có thể được bao quanh bởi giá sách, đầy những kiệt tác, nhưng điều hắn thực sự cần là một bản đồ vượt ngục. Nhà ngươi không thể thoát, nếu ngươi không tin rằng có thể thoát, ra khỏi một phòng giam có tường dày vô hạn, không cửa, không cửa sổ. Tên tù nhân trong truyện tranh có thể thoát bằng cách di chuyển vuông góc với trang giấy, bước sang chiều không gian của tôi, kẻ đang đọc hắn.
Tôi đã đọc hàng ngàn cuốn sách, nhưng chưa từng gặp một cuốn nào là phong cảnh thật, thay vì chỉ là bản đồ. Mỗi trang của chúng đều phẳng, trong khi đời sống không phẳng. Vậy tôi, một tạo vật ba chiều, vì sao phải mò mẫm theo hai chiều phẳng của văn bản? Tôi sẽ tìm đâu ra trang sách lập phương, nơi hiện thực được đúc khuôn ba chiều? Tìm đâu ra cuốn sách siêu lập phương, có hai bìa bao trùm hàng trăm khối lập phương nhỏ của từng trang cuốn sách đó? Chỉ khi đó, qua đường hầm của những khối lập phương, ta mới có thể vượt khỏi xà lim ngạt thở, hoặc ít nhất, hít được chút khí trời của thế giới khác. Nếu tôi có thể hít thở mây, đường, xe điện, cây cối và đàn bà như thể đó là không khí tinh khiết của một thế giới dày đặc hơn nhiều…
Hôm nay, dĩ nhiên, là Chúa nhật; tôi không phải lên lớp. Tối qua, tôi đọc Kafka đến tận một giờ sáng, và dừng lại ở đoạn có Issachar và Hermana. Tôi không thể đọc tiếp được nữa. Tôi không nghĩ rằng trên đời từng có điều gì chân thực hơn được viết ra. Bậc thầy những giấc mộng, nữ chúa của chiều tàn. Issachar đánh mất mình trong gương; Hermana tan vào lồng ngực Issachar như thể đó cũng là một tấm gương khác, làm nhiễm độc máu thịt ông bằng nỗi u sầu. Tôi đặt cuốn sách úp xuống giường và bước đến tấm gương. Tôi nhìn vào nó suốt đêm còn lại. Ngay từ đầu, tôi hiểu rằng mình phải trần truồng, như Issachar, như Hermana. Tôi cởi đồ thật nhanh, và kinh ngạc khi thấy rằng trong gương, tôi là một người đàn bà. Tôi có mái tóc vàng, sáng lên rực rỡ khắp căn phòng, tôi có đôi vú mềm hơi xệ hình quả lê. Trong căn phòng này, tôi là Issachar; trong gương, tôi là Hermana, người chị em song sinh ẩn giấu dưới ánh sáng quá mạnh của hiện thực. “Đó là lý do,” tôi nói với chính mình, nhìn vào đôi mắt của người đàn bà có khuôn mặt tôi, vướng trong tấm mạng tơ của mái tóc mình, “đó là lý do tại sao bậc thầy của giấc mộng lại cúi đầu sâu đến thế trong gương: bởi ở đó, ông có thể nhìn thấy Hermana, người đã tan vào lồng ngực ông.” Bởi Hermana luôn ở phía bên kia của tấm gương, nàng tồn tại, thực tế cho thấy, phía bên kia là thế giới song song nơi Issachar là một người đàn bà.
Tôi áp hai tay mình lên tay nàng, ngực tôi vào ngực nàng, môi tôi vào môi nàng. Và rồi, nàng tan vào ngực tôi, nơi tôi vẫn cảm thấy nàng, đến tận bây giờ, như một cơn xúc động tràn ngập.
Tôi không tin vào những cuốn sách — tôi chỉ tin vào những trang, những câu, những dòng. Trong vài cuốn, vài dòng có tồn tại thật, như mật mã mà một vị tướng nhận được giữa chiến trường: chỉ một số từ mang ý nghĩa, bao quanh bởi đống lời vô nghĩa. Vị tướng đặt tấm khuôn bìa cứng lên bức thư, và chỉ đọc được những chữ hiện ra trong những khoảng cắt. Đó chính là cách ta nên đọc văn bản ba chiều của hiện hữu. Nhưng ai cho ta tấm khuôn ấy? Ai chỉ cho ta những từ thật? Ai đãi kim cương ra khỏi bùn lầy? Trong quả bom đang kêu tích tắc trước mặt, ngươi sẽ cắt dây nào khi tim ngươi cũng đang đập cùng nhịp với nó, dây đỏ hay là dây xanh nhỉ? Khi mọi thứ đều khẩn cấp, khi không còn thời gian, khi áp lực dồn nén, ngươi sẽ phạm sai lầm, ngay cả khi có trong tay tấm khuôn. Còn khi không có nó, khi chỉ còn trông cậy vào trực giác của kẻ mù, vào sự cảnh giác của kẻ điếc, thì mọi thứ trở nên không thể tưởng tượng nổi, rối rắm, vô vọng, phi lý. Tôi biết, tôi sẽ chết trước khi giải được bí ẩn này. Tôi nói điều đó với mình mỗi ngày. Tôi đã chất đầy ngăn kéo tủ đầu giường những thứ mà tôi ngỡ có thể giúp tôi tìm ra khuôn mẫu: răng sữa của tôi, sợi chỉ rốn, những trang nhật ký, và mảnh giấy chép tay những đoạn tôi từng đọc: “Bậc thầy những giấc mộng, đại nhân Issachar…” Trong một ngăn kéo khác, ngăn kéo của tâm trí, tôi cất ký ức cổ xưa, ảo giác, hư tưởng, cũng được lựa chọn theo một khuôn nào đó, mà tôi không hiểu nổi logic của nó. Làm sao tôi có thể ghép chúng lại? Chúng muốn tôi tìm gì? Chúng muốn tôi nói gì? Tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng sự tìm kiếm bản năng vẫn thúc đẩy tôi về phía trước, chỉ cho tôi một điều gì đó, như cơn ngứa khiến ta phải gãi, như cơn đói khiến ta phải tìm ăn. Không còn gì khác quan trọng hơn.
Nhà ngươi có thể xem thế giới như một câu đố, như mê cung, như một vấn nạn khẩn thiết đòi hỏi lời giải. Hoặc như một hộp ghép hình, đầy những mảnh vụn lộn xộn. Ngươi sẽ bị kết án đời đời, nếu ngươi từng sống hạnh phúc, nếu ngươi là tỷ phú, là diễn viên vĩ đại, là học giả, là nhà văn, nếu ngươi từng được tán thưởng, từng được trao giải trong những khán phòng dát vàng. Ngươi chỉ được cứu rỗi nếu ngươi là kẻ ăn mày ở gầm cầu, người đã giải được câu đố, tìm thấy lối ra. Ngươi lắc những mảnh ghép trong tay, rồi thả chúng xuống hộp, úp hoặc ngửa. Nếu chúng chỉ là những hình vuông với mảnh ảnh vụn, ngươi sẽ chẳng bao giờ biết rằng chúng thuộc về một bức tranh duy nhất. Nhưng hình dạng của chúng, những rãnh lõm và mấu lồi dọc theo cạnh, cho thấy chúng thuộc về một hệ thống, rằng chúng đã từng bị cắt rời, rồi rải ra có chủ ý, để một bàn tay và một trí óc có thể ghép lại như cũ. Nó không phải là tập hợp những tấm ảnh đóng khung phi lý, dù nó thường trông có vẻ như thế. Mảnh này nối với mảnh kia, không gì là ngẫu nhiên, mọi thứ phải được tái tạo bằng cách suy ngược. Nhưng liệu tôi có thể nối đoạn Issachar và Hermann với một chiếc răng sữa của mình không? Chúng đều có những mấu lõm và cạnh nhô dọc mép, hiển nhiên là mảnh của cùng một trò ghép. Nhưng chúng có cùng thuộc về một bức tranh không? Hãy cẩn thận, vì trong chiếc hộp này có thể có nhiều trò ghép hình khác nhau. Ngươi có thể nhìn vào mặt sau để nhận biết: mảnh này có mặt xanh in hình bích trắng, mảnh kia cam chấm lam. Trước hết, phải phân loại chúng theo mặt lưng. Mỗi chồng là một thế giới, một hình ảnh khác, không thể ghép chung với phần còn lại. Chỉ đến bây giờ, ngươi mới có thể chọn lấy những mảnh của mình, thế giới của mình, cuốn sách của mình, tâm trí của mình, định mệnh của mình. Chỉ đến bây giờ, ngươi mới được nhìn vào mặt sáng bóng của những mảnh bìa, nơi hình ảnh bị cắt vụn bắt đầu hé lộ. Chỉ đến bây giờ, trò chơi và câu chuyện mới khởi đầu. Mảnh nào sẽ khớp với mảnh nào? Liệu ngươi có thể hoàn tất bức tranh toàn thể không? Và nó sẽ hiện ra gương mặt nào? Cảnh tượng nào khiến ngươi rùng mình? Ngươi bị vỡ vụn, và rải khắp thế gian trống rỗng. Làm sao ghép lại chính mình? Mỗi cơ quan của ngươi nằm ở đâu? Mỗi cây cỏ, mỗi mặt trời trong thế giới của ngươi ở đâu? Mặt trăng của ngươi ăn khớp thế nào với gan, giấc mơ đêm qua nối thế nào với ký ức những ngày đầu ở Voila?
Thỉnh thoảng, có một mảnh ghép hoàn toàn đen. Điều đó là không tránh khỏi. Ngươi chỉ có thể cầu nguyện rằng nó không nằm trong não, hoặc trên võng mạc của ngươi. Thật ra, toàn bộ đoạn vô ích này tôi viết ra để che một mảnh đen. Có một điều khác đã xảy ra ở phòng khám Mașina de Pâine. Một sự kiện mà tôi vẫn chưa quyết định sẽ kể lại (với chính mình). Tôi biết nó là gì, ít nhất là một phần; tôi biết điều tôi nghĩ rằng nó là. Nhưng điều khiến tôi khiếp đảm, là điều mà nó có thể là. Tôi chưa thể tưởng tượng, chưa thể mô tả nó. Tôi không muốn huyền bí hóa điều gì: tôi nhớ hết, dù ký ức đó có thể sai. Nhưng tôi không thể viết về nó, không ở đây, không lúc này. Tôi chưa từng hứa sẽ hoàn toàn trung thực. Không ai từng hứa như thế. Tôi đã phát hiện nhiều mảnh đen khác trong tâm trí mình. Tôi vẫn thường tự hỏi liệu trò chơi, bài kiểm tra, đời sống có rút gọn lại cuối cùng chỉ còn điều này không, đó là sự soi sáng những mảnh đen đó ở tận cùng mọi cuộc tìm kiếm. Tôi không dám đến gần chúng, chưa phải bây giờ. Chúng là những khối u không thể mổ, ẩn sâu trong não. Có thể tôi viết để chiếu sáng chúng, hoặc để bị chúng nuốt chửng. Có lẽ trong một trăm, có lẽ trong năm trăm trang nữa, như người ta nói trong mười năm, năm mươi năm, trong tương lai không biết được và không thể đoán định được của một cuốn sách đang tự viết chính nó, và điều đó không giống bất cứ điều gì hơn là một cuộc sống tự nó tồn tại, với tương lai không chắc chắn, có lẽ khi đó, tôi sẽ tìm thấy trong mình sức mạnh và can đảm để làm sáng tỏ những mảnh đen đó, hoặc để ném tất cả xuống bồn cầu như những viên sỏi thận đã từng được moi ra từ cơ thể tôi mà tôi đã mệt mỏi khi phải giữ trong lọ.
Xuân Tín dịch
