CHƯƠNG XCIV: VỀ VỊ CHÚA TỂ GIÀ VUI NHỘN ẤY, BORABOLLA; VÀ HÒN ĐẢO VUI NHỘN ẤY CỦA ÔNG, MONDOLDO; VÀ VỀ MẤY HỒ CÁ, VÀ NHỮNG CHUYỆN MAI SAU VỀ CÁ MÚ
Khi gần đến đảo Mondoldo, điểm đến tiếp theo của chúng tôi, chúng tôi được hẳn sáu chiếc xuồng ra trò đón rước, được điểm trang vui mắt bằng những cờ dải, và đâu đâu cũng rình rang những khoa chân múa tay của dân cư đảo này. Vua Borabolla cùng các quần thần đang rảo bước đón mừng chúng tôi; Media, chẳng ai hay biết, có dặn với ông trong bữa Yến Tiệc Hăm Lăm Vua, về chuyện chúng tôi định ghé thăm lãnh thổ của ông.
Chẳng chốc, sát bên nhau, những chiếc xuồng ấy đã dong buồm đi cùng chúng tôi; mỗi thuyền rồng Odo đều được một chiếc ở Mondoldo lịch thiệp hộ tống.
Không khó để chúng tôi nhận ra Borabolla: một vị quốc vương già dễ chịu, đường bệ, ngự trên bục với chân bắt chữ ngũ, trông ra khỏi mũi chiếc xuồng lớn nhất trong sáu chiếc, đang bám chắc vào mạn chiếc Voi Biển.
Chẳng phải ông ấy trông vào đã thấy tròn trịa ưa nhìn hay sao? Chỗ nào cũng tròn; mắt tròn và đầu tròn; như Trái Đất tròn vui nhộn, tròn nhất và bự nhất ở gần Xích Đạo. Chiếc đai lưng đỏ là Đường Xích Đạo của ông, mang lại một sự gọn gàng cho nét phúng phính của ông.
Ông già Borabolla ấy không cho phép bất kì kẻ nào được xen vào giữa đầu ông và mặt trời; ngay cả mấy cọng tóc bạc. Trọc như trái bầu, ngay trên hộp sọ tựa đồng thau của ông, các tia nắng của thể sáng mặt trời hội tụ trên đấy.
Ông ấy nhộn lắm; luôn miệng ám chỉ về bữa tiệc ở Willamilla, nơi ông đã thi hành sứ vụ hoàng gia. Đức ông Borabolla có một không hai! ngài được sinh ra là để ăn ngon thưởng ngoạn; miệng ngài là cửa vào dành cho ngọt bùi, và là cổng ra dành cho đùa vui.
Vậy đang khi rộn ràng trên bục, bấy giờ ông mới ra lệnh cho những người ở trên xuồng của chúng tôi nhanh chóng bước qua bên xuồng của chính ông; phán rằng phải theo cách ấy thì ông mới cho phép các vị khách của mình được đặt chân lên bờ biển đảo Mondoldo.
Thế là, không phải là không thấy chút phiền hà — bởi lẽ sóng vỗ có phần náo loạn — chúng tôi đành nghe theo; trong khi đó thì nghĩ bụng, một hành động hiếu khách quá mức đôi khi lại khó chịu biết bao.
Bấy giờ chúng tôi còn cách bờ chưa đầy một dặm. Nhưng thế nào đây? Vẫn còn nhiều thời gian, Borabolla nghĩ, để mà ăn một bữa trưa lót dạ, và xua cơn buồn miệng kéo theo trước khi chúng tôi cập bờ. Thế là thức ăn đã được dọn ra; các vị khách được kêu gọi hết mực chú tâm vào đấy; kẻo phải lãnh hậu quả, và nhịn đói đến khi nào cuộc hải trình dài trước mắt kết thúc.
Nước đã sớm nông (việc tới gần đất liền cũng giống như việc đến gần sự thật trong siêu hình học), và trước khi chúng tôi còn chưa đặt chân lên bờ, thì Borabolla đã tuyên bố, rằng chúng tôi đã đổ bộ rồi đấy. Lời quả quyết ngược đời này tỏ cho thấy rằng lòng hiếu khách của Mondoldo đã lớn đến mức lan khắp tứ phương thiên hạ ra tận bên ngoài đầm phá, bao lấy một vòng tròn lớn; để không một chiếc xuồng nào được đi qua đảo, mà không trở thành dân đảo ấy bởi làm khách của nó quá lâu.
Ở khu vực đón nước ôn hoà nhất, là một công trình lớn tinh xảo, với một hàng rào cọc vây quanh; cả hai thì xác xơ quả là, cứ như thể phí tổn dành ra đãi các vị khách quý, đã cắt bớt kinh phí để sửa sang nơi này. Thế nhưng Borabolla có một châm ngôn, đại để chính là nhà cửa vườn tược cũ kỹ lụp xụp thì mang đến nhiều vui thú bậc nhất; tình trạng xếch xác của chúng là bằng chứng hậu đãi của lòng mến khách đấy thôi; trong khi, mấy cái cổng chính kiểu cách, diêm dúa, mang một diện mạo đầy nghĩa lý; thì bởi vì đám người hà tiện lúc nào mà chẳng ăn mặc gọn gàng tươm tất.
Vậy, sau những gì đã nói, kẻ nào lại ngớ ngẩn đến độ mà tưởng rằng vì biệt thự của Borabolla có một hàng rào giậu bao quanh, rằng chính cái hàng rào giấu ấy dùng để phòng thủ đuổi khách? Không hề. Bên trong hàng rào ấy là một lỗ tròn to vĩ đại, không phải lối vào, đủ rộng để sáu ông Daniel Lambert chui qua.
“Nhìn kìa,” Borabolla kêu lớn, đang khi đổ bộ chúng tôi bước về phía công trình ấy. “Nhìn kìa Media! tất cả mọi người hãy nhìn kìa. Mấy cánh cổng kia, các vị thấy đấy, được vụt bằng mấy cây liễu giỏ, mà cả đời tôi cũng đã từng bị vụt như vậy; và ở ngay chỗ chúng mọc ra, thì chúng cũng sẽ mục đi; phải, chúng sẽ mục nát hết cả.”
“Nhưng vì sao chúng ở đây làm gì?” Media hỏi.
“A! vì có Borabolla lúc xưa,” một người khác kêu lên.
“Không phải,” Babbalanja nói, “một hàng rào luôn để cổng mở, tôi công nhận là có vẻ không cần thiết; tuy nhiên, nó mang một ẩn ý xuất sắc, bằng không thì điều này không thể truyền tải cho khéo léo được; vì chẳng phải cánh cửa rộng mở là dấu hiệu của một tâm hồn rộng mở hay sao?”
“Chí phải, chí phải,” Borabolla kêu lên; “vậy thì cả hai vào đi, người em họ Media;” với một tay vỗ mạnh lồng ngực, còn tay kia ông vẫy chúng tôi vào.
Nhưng nếu như cái hàng rào giậu tựa như mở toang cửa, thì công trình bên trong lại tựa như chỉ là một mái nhà; bởi chẳng có gì ngoài chỗ này chỗ kia một cây cột thon làm trụ đỡ cho nó.
“Quy cách xây dựng của ta đấy,” Borabolla nói; “các cung điện của ta sẽ chẳng có cái gọi là bên ngoài. Mấy bức tường thì thôi chẳng cần. Và với một vị khách kiêu kỳ, việc đi qua một cánh cửa hẹp thì cứ như là luồn bên dưới một cái ách; mỗi lần người này đi vào, hoặc là bước ra, nó nhắc cho người ta nhớ rằng họ đang được giải trí với cái giá của một người khác. Thế nên, tất cả khẩn trương tiến vào đi nào.”
Bên trong, là một trảng giường rộng; nơi này dành để ngả lưng, chúng tôi ngước thấy vô tận những dãy bầu rượu nâu, cùng những mâm treo lơ lửng dọc các xà nhà; hứa hẹn một sự vui vẻ dư đầy như những trung đoàn giăm bông xưa nơi phòng ăn nhà quý tộc.
Họ được tiếp thực nào cả thịt và rượu; các mâm thịt thì sẵn tay lấy xuống theo những hàng dây; còn mấy bầu đựng rượu arrack, cổ bầu được treo hướng xuống, để lơ lửng trong tầm dễ với.
Khi nhận thấy mọi dấu hiệu của cuộc chè chén ầm ĩ; như một chàng rể trẻ thận trọng trong bữa tiệc cưới hội hè của chính mình, Taji giữ gìn ý tứ lắm. Phải khi Borabolla ép chàng uống cạn một hai bầu rượu, dọn chỗ trong chàng để ăn bữa phụ sắp được dọn lên, Taji lịch sự từ chối; không muốn để cho thảm ăn còn chưa kịp trải mà sàn nhà đã ngổn ngang.
Jarl, tuy vậy, lại chịu nhường vì nài nỉ, và không để tâm đến sự hoà hợp giữa thời gian và địa điểm, thoả chí bận rộn, từ bầu rượu này đến bầu rượu khác, chế trộn bên trong ông một thứ rượu tạp nham. Về điều này, Samoa tỏ ra ngạc nhiên vô cùng, rằng ông chắc là phải vô ý tứ lắm mới không biết, rằng ở Mardi, khách khứa có khi bị ép phải hạ thấp bản thân, mà không ngờ rằng họ sẽ làm như vậy. Ông đúng là một tay bợm nhậu chính hiệu, ông báo trước thời của mình.
Bữa trưa thứ nhì đã qua, Borabolla đặt cả hai bàn tay xuống đất, và thở một tiếng thở dài của người béo, sau ba lần lấy hết sức bình sinh, đã thành công đứng dậy trên đôi cặp giò; mà cái cặp giò ấy, thì quá nhỏ so với vóc người ông; đến mức chúng lảo đảo dữ dội, vì phải gồng gánh cái khối nặng già giặn bảnh tỏn bên trên.
Mục đích trong nỗ lực đứng thẳng của ông, ấy là để ông được vận động, và dẫn chúng tôi đến chỗ mấy hồ cá, nổi tiếng khắp Quần Đảo là thú tiêu khiển của vua đảo Mondoldo. Vả lại, vì bữa lớn trong ngày còn chưa diễn ra, vốn là một người thích câu cá, vị gia chủ của chúng tôi nôn nao lắm, rằng chúng tôi nên ra ngó ngàng mấy con cá của chúng tôi một tí, khi chúng còn đang quẫy đuôi và khỏe mạnh.
Chúng tôi phát hoảng khi nhận ra, rằng có vài người hầu đang chuẩn bị đi theo chúng tôi cùng các mâm thức ăn. Nó dấy lên cái ý niệm, rằng quãng đường đi ra các hồ cá ấy chắc là một quãng đường dài. Thế mà mấy cái hồ cách đấy còn chưa tới ba trăm thước; tuy rằng Borabolla là một nhà du hành kỳ cựu, nhưng ông chưa bao giờ ra khỏi nhà mà thiếu đoàn gia thần của mình.
Các hồ cá có cả thảy bốn hồ, giáp sát biển, mỗi hồ rộng khoảng một mẫu Anh, và nằm trong vùng đầm lầy thấp, nước đổ từ các thung lũng. Đất đào lên được đắp thành các mương, được đầm đất cho chặt bằng cách lấy các đầu thân Cọ dẹp đập khắp hồ, khi đất còn đang mềm. Nằm sát bên, là ba hào nước nối tiếp, các hồ này được tạo ra để có thể lưu thông với nhau tuỳ ý; trong khi hai rãnh phụ thì một đầu làm phương tiện cho nước biển chảy vào từ đầm phá, đầu kia là nước từ dòng nội địa. Và bằng một rãnh chỉa ra bốn nhánh, cùng một lúc hoặc riêng lẻ, chúng có thể dùng để tháo nước theo từng phần. Như vậy, các dòng nước có thể được điều phối sao cho phù hợp với bất kỳ loại mang cá nào; và đám cá con bắt từ biển vào, thì được trải qua một quá trình thanh lọc đã nêu; để đến khi chúng được dạy dỗ xong xuôi, thì muối biển đã trôi sạch khỏi chúng, như óc não của các sinh viên được cấp văn bằng.
Người ta chỉ thu được cá nước ngọt ở Mondoldo bằng quá trình nhân tạo kể trên; khi các dòng và các luồng nước không có nhiều cá hồi hoặc con mồi theo kiểu Walton nào khác.
Cá của Borabolla thì được bắt đang khi còn thì thụp ngoài biển, chúng trải qua quá trình huấn luyện đều đặn để sửa soạn cho lên cỗ bàn, và ngày ngày thì được các ông quản ngư trông nom, sau một thời gian chúng trở nên thuần hoá và rất biết nghe. Để chứng minh, lên tiếng gọi ông Chủ Quản, vị vua ra lệnh cho ông này phân phát lương thực theo thường lệ.
Tuân lệnh vua, những nắm ngập miệng được thẩy xuống các hồ. Ngay lúc ấy, cá mú cứ theo bầy mà lao về phía thành; vài con nhảy bật khỏi nước háo hức vô cùng. Khom lưng bên bờ, ông Chủ Quản bấy giờ mới gọi tên vài con, vỗ nhẹ vào vây chúng, tiếp thêm dăm ba câu dỗ trẻ ngoại giáo, cứ như St. Anthony, vào thời Coptic cổ đại, đã truyền đạt các nguyên tắc đạo đức cho một đàn lắm vây của ngài bên bờ biển.
Nhưng than thay cho đám môn đồ sa ngã của ông giáo già khổ hạnh. Vì, trong hết thảy mọi vương quốc sống động của tự nhiên, cá là loài vô đạo, không hề hiếu khách, nhẫn tâm, và máu lạnh hơn cả. Ít ra là vậy đối với người lạ; song tận bên dưới, bằng cách nào đó, chúng cũng phải không đến nỗi nào. Và quả thực đâu có gì đáng kinh ngạc, khi đức Anthony đáng kính đã ra sức cải đạo cho đàn cá. Vì, hễ ai muốn Ki-tô giáo hoá, thay vì làm như vậy, nhân tính hóa bọn cá mập, thì cứu mạng sống con người mọi lúc về sau, mới là đang làm một việc tốt đẹp hơn, dẫu cho người ấy có làm cho dân Dyak xứ Borneo săn đầu người, hay là dân Batta xứ Sumatra uống máu trở thành tín hữu mới rửa tội. Và những dân Dyak và Batta ấy lại chẳng tốt hơn mấy con cá mập hổ chút nào sao? Đúng ra, quá tốt phải không? Nếu một người Batta là bạn thân thiết của bạn, thì bạn có nhầm lẫn người ấy với một con đười ươi chăng; và suy nghĩ rằng mấy con đười ươi có linh hồn bất tử? Đúng là, người dân Batta tin vào cuộc sống đời sau, như cuộc sống đời sau nào? Đầy những Yêu Râu Xanh với cả xương đẫm máu. Như vậy, tương tự, với bọn cá mập; những ai nghĩ rằng Thiên Đường chính là trọn vẹn một Thái Bình Dương bao la, thì đã bị các hạm đội của bọn người trần mắt thịt cày xới, những người mà một trận bão bất tận mãi tạt vào trong lòng dạ họ.
Điều này không hẳn là một phỏng đoán. Vì, chẳng phải có vẻ hơi vô lý khi ta tưởng, rằng lại có bất kỳ sinh vật nào, dẫu là cá, là người, hay là chim, mà lại chẳng yêu cuộc đời đến mức không một ấp ủ hy vọng gì về một trạng thái mai sau hay sao? Tại sao con người ta lại tin vào nó? Có một lý do, nghe thì cũng hợp lý, ấy chính là, vì con người khát khao nó. Vậy, ai sẽ nói, rằng con thủy quái hôm nay mới bị găm lao ngoài biển Nhật, chẳng đi thẳng về với ông bà tổ tiên của nó, thứ sinh vật đã cuộn trọn ông Jonah, như một mẩu kẹo ngọt, bên dưới lưỡi nó đây?
Dẫu rằng ở đây, có vài thủy thủ là những kẻ chậm tin, hoặc cùng lắm là treo mình trong một trạng thái lơ lửng triết học. Họ nói — “Cái thảm họa ấy xảy ra ở bên Địa Trung Hải; và chỉ những con cá voi thường lui tới vùng Địa Trung Hải, mới là những con thuộc loại không đủ lớn để nuốt trọn một người; vì những con cá voi Địa Trung Hải ăn những thứ nhỏ, như ngựa ăn yến mạch.” Thế là thành thử, các thủy thủ lại đưa ra một suy luận vội vàng. Chẳng phải Eo biển Gibralter đủ lớn để chứa được một con cá nhà táng, dẫu chưa có con nào từng ghé qua, vì thành Niniveh và bầu rượu ngoại thành của nó đã cạn khô sao?
Về phần cuộc sống đời sau có thể có của mấy con cá voi; một sinh vật dài tám chục bộ chẳng mang vớ, và chưa ăn mà bụng đã chừng ba chục bộ, thì thật là kinh suất để bị quẳng vào chốn tuyệt diệt.
