favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Joseph Conrad: Tay chỉ điểm

02/01/2026 14:18

Không thiếu những kiệt tác tiểu thuyết sinh ra khi nhà văn ban đầu chỉ định viết một truyện ngắn nhưng trong quá trình sáng tác cảm thấy thu hút bị cuốn vào ý tưởng của mình, hữu ý hay cố ý, đưa nó vượt ra khỏi dung lượng và đặc điểm của một truyện ngắn. Ta có thể kể ngay The Sound and the Fury của William Faulkner, Dưới núi lửa của Malcolm Lowry, cũng như Tay điệp viên của Joseph Conrad. Tay chỉ điểm (The Informer, 1906) với tít phụ là Một chuyện mỉa mai (A Ironic Tale) chính là tiền thân, là bản nháp cho cuốn tiểu thuyết ra đời một năm sau và trở thành điển phạm trong thể loại điệp viên. Đọc Tay chỉ điểm - viết bằng ngôi nhất, rất trực diện, hoàn toàn không bị vướng mắc với những câu văn dài dằng dặc đặc trưng - ta có thể dễ dàng nhận ra quan điểm chính trị của Conrad, cụ thể là thái độ của ông với chủ nghĩa vô trị [vô chính phủ], vốn được che đậy kỹ càng hơn trong tác phẩm kế tiếp.

 

Tay chỉ điểm 

- Joseph Conrad

X cầm lá thư giới thiệu của một người bạn thân ở Paris đến thăm tôi, với mục đích cụ thể là chiêm ngưỡng bộ sưu tập đồ đồng và đồ gốm sứ Trung Hoa.

Ông bạn Paris ấy cũng là một nhà sưu tầm. Nhưng ông ta thì không sưu tầm đồ sứ, đồ đồng, tranh ảnh, mề đay, tem hay bất cứ vật phẩm gì có thể đem ra đấu giá sinh lời. Ông ta sẽ từ chối, với vẻ ngạc nhiên rất thực, cái danh xưng nhà sưu tầm. Tuy nhiên, đó là bản chất con người ông ấy. Ông sưu tầm những mối quan hệ. Đó là công việc tinh tế. Ông ta hành nghề với toàn bộ sự kiên nhẫn, niềm say mê và quyết tâm của một nhà sưu tầm đồ cổ thứ thiệt. Bộ sưu tập của ông không có bất kỳ nhân vật hoàng tộc nào. Tôi nghĩ ông cho rằng họ không đủ hiếm và thú vị; nhưng, ngoại trừ điểm đó, ông đã gặp gỡ và trò chuyện với tất cả những người đáng để kết giao trên bất kỳ lĩnh vực nào có thể tưởng tượng được. Ông quan sát họ, lắng nghe họ, thấu hiểu họ, đánh giá họ và cất giữ ký ức về họ vào những gian phòng trong tâm trí. Ông đã mưu tích, vạch kế hoạch và chu du khắp châu Âu chỉ để bổ sung vào bộ sưu tập ấy những con người xuất chúng mà ông có dịp giao tế.

Vì giàu có, lại sở hữu nhiều mối quan hệ tốt và trong sáng, bộ sưu tập của ông ta khá toàn diện, bao gồm cả những hiện vật (hay những đối tượng?) mà giá trị không được công chúng đánh giá đúng, và thường không nổi tiếng trong giới chính chuyên. Những hiện vật như thế, ông bạn tôi dĩ nhiên thấy tự hào nhất.

Ông viết cho tôi về X: “Ông ta là kẻ nổi loạn vĩ đại nhất (révolté) của thời hiện đại. Thế giới biết đến ông như một nhà văn cách mạng có lời châm biếm tàn bạo đã vạch trần sự mục ruỗng của những thiết chế đáng kính nhất. Ông ta đã lột da đầu của mọi cái đầu được tôn sùng, và đã xé xác trên cọc thiêu của trí tuệ mọi quan điểm hiện thời, mọi nguyên tắc đã được thừa nhận trong cách cư xử và chính sách. Ai mà quên được cuốn pamfơlê cách mạng đỏ rực của ông ta? Những quan điểm của ông tấn công ồ ạt như ong vỡ tổ, từng một thời nhấn chìm quyền lực của mọi lực lượng cảnh sát lục địa như một trận dịch ruồi son. Nhưng không chỉ có thế, nhà văn cực đoan này còn là người truyền cảm hứng tích cực cho các hội kín, là Số Một bí ẩn không ai biết của các âm mưu cực đoan đã bị nghi ngờ và chưa bị nghi ngờ, đã chín muồi hoặc bị đập tan. Và thế giới nói chung chưa từng có một manh mối nào về sự thật đó! Điều này giải thích vì sao ông ta vẫn đi lại giữa chúng ta cho đến ngày nay, một tay lão luyện đã thiết kế bao nhiêu chiến dịch ngầm, giờ đứng ngoài cuộc, an toàn và giản dị trong danh tiếng là nhà công luận đả phá vĩ đại nhất từng sống.”

Bạn tôi viết như vậy, còn thêm rằng Ngài X đây là một người sành sỏi về đồ đồng và đồ sứ, đồng thời yêu cầu tôi cho ông ta xem bộ sưu tập của mình.

X đã đến đúng hẹn. Những món bảo vật của tôi được bày trong ba căn phòng lớn không thảm và rèm cửa. Không có đồ đạc nào khác ngoài những giá trưng bày và tủ kính chứa đựng bên trong các mẫu vật đáng giá cả một gia tài đối với ai được tôi để lại cho. Tôi không cho phép đốt lửa sưởi, vì sợ tai nạn, và một cánh cửa chống cháy ngăn cách chúng với phần còn lại của ngôi nhà.

Đó là một ngày lạnh giá. Chúng tôi dù ở trong nhà vẫn bành tô và đội mũ. Người tầm thước và gầy, đôi mắt tinh anh trên khuôn mặt mũi khoằm kiểu La Mã dài, X bước đi trên đôi chân nhỏ gọn, những bước chân ngắn, và ngắm những món bảo vật của tôi một cách thông tuệ. Tôi hy vọng trong mắt ông ta tôi cũng thông tuệ. Bộ ria và chòm râu dưới môi trắng như tuyết khiến nước da nâu hạt dẻ của ông trông có vẻ tối hơn thực tế. Trong bộ áo khoác lông và chiếc mũ cao bóng lưỡng, người đàn ông khủng khiếp ấy trông rất tân thời. Tôi tin ông thuộc một gia đình quý tộc, và có thể tự gọi mình là Tử tước X xứ Z nếu ông muốn. Chúng tôi chỉ nói về đồ đồng và sứ. Thái độ của ông dường thể hiện rằng ông đánh giá cao bộ sưu tập của tôi lắm. Chúng tôi chia tay trong không khí thân tình.

Tôi không biết ông ta ở đâu. Trong suy nghĩ của tôi, ông ta chắc hẳn phải là một con người cô đơn lắm. Những kẻ vô trị, tôi đoan, thì không có gia đình - ít nhất là không theo cách chúng ta hiểu về mối quan hệ xã hội ấy. Thiết chế gia đình có thể đáp ứng một nhu cầu nào đó cố hữu của con người, nhưng xét đến cùng, nó được xây dựng trên luật pháp, và do đó một kẻ vô trị như ông ta hẳn phải xem nó là đáng ghét và không thể chấp nhận được. Mà, thực tế, tôi không hiểu nổi những kẻ vô trị. Một vô trị nhân theo cái… cái… liệu có còn là vô trị nhân khi ở một mình, hoàn toàn một mình, chẳng hạn khi đi ngủ? Liệu anh ta có đặt đầu lên gối, kéo chăn đắp lên người và đi ngủ với đầu óc chỉ toàn suy nghĩ về tính cần thiết của một chambardement général như tiếng Pháp lóng, của một cú nổ toàn diện? Và nếu vậy thì làm sao anh ta có thể ngủ được? Tôi khẳng định, nếu một niềm tin (hay một sự cuồng tín) như thế chi phối suy nghĩ của tôi, tôi sẽ không bao giờ có thể bình tâm đủ để ngủ hay ăn hay thực hiện bất kỳ việc thường nhật nào. Tôi sẽ không muốn vợ, không muốn con; tôi sẽ chẳng thể có bạn bè, tôi nghĩ vậy; còn việc sưu tầm đồ đồng đồ sứ, tôi dám nói, sẽ hoàn toàn bất khả. Nhưng tôi không biết. Tất cả những gì tôi biết là Ngài X dùng bữa ở một nhà hàng thượng hạng mà tôi cũng thường lui tới.

Phơi đầu trần, chỏm tóc bạc ngược gọn gàng bổ sung vào thái độ hoàn toàn vô cảm trên gương mặt toàn là những đường gờ xương và hõm sâu của ông. Đôi tay gầy nâu của ông thò ra từ những cổ tay áo trắng lớn, giơ ra và bẻ bánh mì, rót rượu, vân vân, với sự chính xác máy móc lặng lẽ. Bên trên khăn trải bàn, phần đầu và thân trên của ông bất động cứng nhắc. Ngọn lửa bùng cháy này, nhà kích động vĩ đại này, lại biểu lộ sự nồng nhiệt và sinh khí cực kỳ yếu ớt. Giọng ông the thé, lạnh lùng và đều đều ở một âm vực thấp. Không thể gọi ông là một nhân vật nhiều chuyện; nhưng với thái độ điềm tĩnh, tách biệt, ông có vẻ sẵn sàng tiếp diễn cuộc trò chuyện cũng như bỏ dở nó bất cứ lúc nào.

Và cuộc trò chuyện của ông hoàn toàn không tầm thường. Tôi thừa nhận, tôi cũng có chút phấn khích khi trò chuyện một cách bình thản bên bàn ăn với một người đã dùng ngòi bút tẩm độc của mình làm suy yếu sinh lực của ít nhất một nền quân chủ. Điều ấy công chúng ai cũng biết cả. Nhưng tôi còn biết nhiều hơn. Tôi biết về ông - qua bạn tôi - với sự chắc chắn mà những người bảo vệ trật tự xã hội ở châu Âu cùng lắm cũng chỉ nghi ngờ hoặc mơ hồ đoán chừng.

Ông đã có cái mà tôi có thể gọi là cuộc sống ngầm của mình. Và khi tôi ngồi, đêm này qua đêm khác, đối diện ông tại bàn ăn, một nỗi hiếu kỳ về cái cuộc sống đó tự dưng nảy sinh trong tâm trí tôi. Tôi là sản phẩm của nền văn minh đặc trưng bởi sự yên bình và hòa nhã, và cũng không có niềm đam mê nào khác ngoài thú sưu tầm đồ hiếm, luôn giữ cho mình sự tinh tế ngay cả khi tiếp cận với những điều quái gở. Vâng, có vài món đồ Trung Hoa quý hiếm đến quái gở. Và ở đây (từ bộ sưu tập của bạn tôi), trước mặt tôi là một quái vật quý hiếm chứ gì nữa. Đúng là con quái vật này đã được đánh bóng và, theo một nghĩa nào đó, thậm chí còn tinh tế. Cái phong cách thanh nhã và không nao núng của ông thể hiện ra điều đó. Nhưng dù sao ông cũng đâu phải là đồ đồng. Ông thậm chí còn không dính líu gì tới Trung Hoa, chứ không thì làm sao thiên hạ nhìn nhận ông một cách bình tĩnh như chẳng hề có cái vực thẳm của sự khác biệt chủng tộc nào như thế. Ông là một sinh thể còn sống và là người châu Âu; ông có phong cách của giới thượng lưu, mặc áo khoác và đội mũ như tôi, và chúng tôi gần như có cùng gu ăn uống. Nghĩ đến điều đó thật quá kinh khủng.

Một tối nọ, đang trò chuyện thì ông tình cờ đưa ra một lời nhận xét như thế này, “Không có sự sửa chữa nào đạt được trong nhân loại nếu không dùng khủng bố và bạo lực.”

Tác động của một cụm từ như vậy thốt ra từ miệng một người như thế lên một người như tôi, người cả cuộc đời đã sống dựa vào sự phân biệt tế nhị và tao nhã về các giá trị xã hội-nghệ thuật, bạn hoàn toàn có thể tưởng tượng được. Hãy thử tưởng tượng đi! Lên tôi, người mà mọi hình thức bạo lực đều xa lạ chẳng kém gì những người khổng lồ, yêu tinh hay những con thủy quái bảy đầu, những sinh vật tưởng tượng mà mà tác động của chúng chỉ thường ảnh hưởng, một cách kỳ quặc, đến mạch truyền thuyết và cổ tích!

Tôi bỗng dưng như nghe thấy trong không gian huyên náo và tiếng chén đĩa của nhà hàng lộng lẫy lời thì thầm của một đám đông đói khát và phản loạn.

Chắc tôi phải là người dễ bị ảnh hưởng và giàu trí tưởng tượng lắm. Trước mắt tôi là một bóng tối chộn rộn đầy những hàm răng gầy gò và đôi mắt hoang dại, giữa hàng trăm ánh đèn điện của nơi này. Nhưng bằng cách nào đó, hình dung này cũng làm tôi phát cáu. Cảnh tượng người đàn ông đó đang bẻ những mẩu bánh mì trắng trong sự bình tĩnh quá đỗi làm tôi bực cả mình. Và tôi tự dưng có được dũng cảm để hỏi ông ta làm thế nào mà giai cấp vô sản đói khổ của châu Âu, những người ông đã rao giảng. về nổi loạn và bạo lực, lại không phẫn nộ bởi cuộc sống xa hoa không buồn giấu giếm của ông. “Trước tất cả những điều này,” tôi dõng dạc nói, với một cái liếc quanh phòng và nhìn vào chai sâm-panh mỗi tối chúng tôi đều chia nhau uống.

Ông ta không nhúc nhích.

“Tôi có sống bằng mồ hôi và máu của họ không? Tôi có là một kẻ đầu cơ hay một nhà tư bản không? Tôi có làm giàu cho bản thân bằng cướp bóc từ một dân tộc đói khổ không? Không! Họ biết rõ điều này. Và họ không ghen tị gì với tôi. Khối quần chúng khốn khổ ấy rộng lượng với những người lãnh đạo của họ. Những gì tôi có được đến với tôi qua các tác phẩm của tôi; đâu phải từ hàng triệu pamfơlê tôi phân phát miễn phí cho những con người cùng khổ và bị áp bức, mà từ hàng trăm nghìn bản bán được cho tầng lớp tư sản no đủ. Ông biết rằng các tác phẩm của tôi đã từng là cơn sốt, là mốt thời thượng - một thứ để đọc với sự kinh ngạc và kinh hoàng, để trợn mắt lên trước nỗi đau thương của tôi... hoặc nếu không thì, để cười mê mẩn trước sự hóm hỉnh của tôi.”

“Vâng,” tôi thừa nhận. “Tất nhiên rồi, tôi nhớ chứ; và tôi phải thú thật với ông rằng tôi không bao giờ hiểu nổi cái sự nồng nhiệt ấy.”

“Ông vẫn chưa biết sao,” ông nói, “rằng một tầng lớp nhàn rỗi và ích kỷ thì ưa ngắm nhìn người ta phá phách, ngay cả khi chính họ chính là bên phải trả giá cho nó diễn ra? Cuộc sống của họ chỉ xoay quanh những cử chỉ và tư thế, họ không thể nhận ra sức mạnh và sự nguy hiểm của một phong trào thực sự và của những lời nói vô nghĩa giả tạo. Tất cả đối với họ chỉ là trò vui và cảm xúc. Chẳng hạn, chỉ cần chỉ ra thái độ của giới quý tộc Pháp cũ đối với các triết gia, những lời nói của họ đang chuẩn bị cho Đại Cách mạng, là đủ thấy. Ngay cả ở Anh, nơi ông có một chút lương thức, một kẻ mị dân chỉ cần la hét đủ to và đủ lâu thì trước sau gì cũng nhận được sự ủng hộ từ chính giai cấp mà hắn đang rủa xả. Ông cũng vậy thôi, ưa ngắm nhìn người ta phá phách. Một kẻ mị dân thường hấp dẫn những kẻ xoàng xĩnh vì cảm xúc nhất thời mà theo. Xoàng xĩnh cái này một tí, cái kia một tí, thứ nọ một chặp là cách dễ dàng thú vị để giết thời gian và nuôi dưỡng lòng tự ái của mình - cái thứ tự ái ngớ ngẩn của việc đi ngang hàng với những ý tưởng của tương lai. Cũng giống như những người tốt và vô hại sẽ cùng ông mê mẩn trước bộ sưu tập của ông mà không có một chút khái niệm nào về việc sự kỳ diệu của nó thực sự nằm ở những chỗ nào.”

Tôi cúi đầu. Đó là hành động thể hiện sự choáng ngợp về sự thật đáng buồn mà ông vừa đưa ra. Thế giới đúng là không thiếu những người như vậy. Và ví dụ về giới quý tộc Pháp trước Cách mạng cũng cực kỳ thuyết phục. Tôi không thể bác bỏ lời tuyên bố của ông, mặc dù tính chất hoài nghi chủ nghĩa của nó - thứ vẫn luôn là một đặc điểm khó chịu - đã làm giảm đi nhiều giá trị của nó trong tâm trí tôi. Tuy nhiên, tôi thừa nhận mình bị ấn tượng. Tôi cảm thấy cần phải nói điều gì đó không mang tính chất đồng tình và cũng không mời gọi tranh luận.

“Tức ông muốn nói rằng,” tôi nhận xét, thoải mái, “những nhà cách mạng cực đoan đã từng được tiếp đỡ bởi sự mê muội của những người như vậy?”

“Ý tôi muốn bày tỏ không hẳn là như vậy. Tôi đã nói theo kiểu khái quát hoá. Nhưng vì ông đã hỏi, thì tôi xin thưa rằng sự tiếp đỡ như vậy đối với các hoạt động cách mạng là có thật, ở nhiều quốc gia và ít nhiều có ý thức. Và ngay cả ở quốc gia này.”

“Không thể nào!” tôi kiên quyết phản đối. “Chúng tôi không chơi với lửa đến mức đó.”

“Có thể ông giỏi trong việc kiềm chế mình hơn đa số người khác. Nhưng xin thưa, tôi ghi nhận rằng hầu hết phụ nữ, nếu không phải lúc nào cũng sẵn sàng chơi với lửa, thì thường háo hức chơi với một vài tia đóm lạc.”

“Ông đùa sao?” tôi hỏi, mỉm cười.

“Tôi không biết mình đã đùa gì đấy,” ông nói, cứng nhắc. “Tôi đang nghĩ về một ví dụ. Ồ! Một ví dụ nhẹ nhàng thân ái...”

Lúc này, tôi trở nên háo hức đợi chờ những gì ông nói tiếp. Tôi đã thử nhiều lần tiếp cận phương diện ngầm ẩn của ông, có thể nói như vậy. Chính xác cái từ đó đã được phát ra giữa chúng tôi. Nhưng ông luôn đón tôi với sự điềm tĩnh không thể xuyên thủng của mình.

“Và đồng thời,” Ngài X tiếp tục, “nó sẽ cho ông một khái niệm về những khó khăn có thể phát sinh trong cái mà ông thoải mái gọi là công việc ngầm. Đôi khi khó để đối phó với chúng. Tất nhiên không có hệ thống cấp bậc giữa những đương sự. Không có hệ thống cứng nhắc.”

Tôi ngạc nhiên hết sức, nhưng dịu đi rất nhanh. Rõ ràng, giữa những kẻ vô trị cực đoan thì làm sao có hệ thống cấp bậc, làm gì trong bản chất lại có một quy luật gì về thứ tự. Ý tưởng về sự vô trị ngự trị giữa những kẻ vô trị cũng thật an ủi. Nó phá vỡ sự hiệu quả của họ.

Ngài X làm tôi giật mình bằng câu hỏi đột ngột, “Ông biết Phố Hermione chứ?”

Tôi ngần ngừ gật đầu. Phố Hermione, trong vòng ba năm qua, đã được cải tạo đến mức không ai còn nhận ra. Cái tên vẫn còn, nhưng không một viên gạch hay đá nào của Phố Hermione của ngày xưa còn sót lại. Ông đang muốn nói đến cái Phố Hermione của ngày xưa ấy, vì ông bảo:

“Có một dãy nhà gạch hai tầng bên trái, dựa lưng vào của toà nhà công vụ bề thế - nếu ông còn nhớ. Ông có rất ngạc nhiên khi nghe rằng một trong những ngôi nhà này đã từng là trung tâm tuyên truyền vô trị, là đầu não của thứ anh gọi là hoạt động ngầm không?”

“Không hề,” tôi tuyên bố. Phố Hermione trong trí nhớ của tôi cũng không phải nơi đáng kính gì cho cam.

“Ngôi nhà đó là tài sản của một viên chức chính phủ xuất chúng,” ông thêm, nhấp một ngụm sâm banh.

“Ồ, thật sao!” tôi nói, lần này nửa chữ cũng không tin.

“Dĩ nhiên ông ta không sống ở đó,” Ngài X tiếp tục. “Nhưng từ mười giờ bốn giờ, ông ta sẽ ngồi ngay bên cạnh, con người đáng kính ấy, trong căn phòng riêng trang hoàng sang trọng của mình ở mặt cánh toà nhà công vụ lúc nãy tôi có nhắc. Để ông hiểu cho chính xác tuyệt đối, tôi xin giải thích thêm rằng ngôi nhà ở phố Hermione không thực sự thuộc về ông ta. Nó thuộc về những đứa con của ông - một con gái và một con trai, đều đã lớn. Cô con gái có ngoại hình dễ nhìn, nhưng đẹp xuất sắc thì hoàn toàn không phải. Ngoài sức hút cá nhân hơn đặc quyền của tuổi trẻ, cô còn thêm vẻ quyến rũ của nhiệt huyết, của tính cách độc lập, của tư tưởng khảng khái. Tôi cho rằng cô khoác lên những vẻ ngoài này cũng như cô mặc những bộ váy độc đáo của mình và vì cùng một lý do: để khẳng định cá tính của mình bằng bất cứ giá nào. Ông biết đấy, phụ nữ sẽ làm gần như bất cứ điều gì vì mục đích đó. Cô đã đi rất xa. Cô đã tiếp thu tất cả những cử chỉ thích hợp của niềm tin cách mạng - những cử chỉ của lòng thương hại, của sự tức giận, của phẫn uất trước những thói xấu phản nhân đạo của tầng lớp xã hội mà chính cô thuộc về. Tất cả những điều này ngự trị trên cá tính nổi bật của cô cũng như những trang phục hơi khác thường của cô. Chỉ hơi khác thường thôi; vừa đủ để đánh dấu một sự phản kháng đối với sự tầm thường của những kẻ mập đẫy vì ăn trên đầu trên cổ người nghèo. Vừa đủ, không hơn. Sẽ không ổn nếu đi quá xa theo hướng đó - ông hiểu mà. Nhưng cô đã đến tuổi trưởng thành, và không có gì cản trở việc cô dâng tặng ngôi nhà của mình cho những người hoạt động cách mạng.”

“Nghe chẳng đúng chút nào!” tôi kêu lên.

“Xin bảo đảm với ông là như thế,” ông ta khẳng định, “rằng cô đã thực hiện cử chỉ rất thiết thực đó. Chứ không thì bằng cách nào nhóm cách mạng lại có được nơi đó? Họ toàn thuộc dạng tay không bắt giặc. Vả lại, nếu không phải được hiến tặng thì họ sẽ gặp rắc rối kinh hoàng với bất kỳ đại lý nhà đất nào, vì họ sẽ muốn thư giới thiệu và vân vân. Nhóm người mà cô tiếp xúc khi khám phá các khu phố nghèo của thị trấn (ông biết cái cử chỉ từ thiện và tình nguyện cá nhân đã rất thời thượng vài năm trước) đã nhận nơi ấy với lòng biết ơn. Lợi thế đầu tiên là phố Hermione, như ông biết, có vị trí cách xa vùng nóng của thị trấn, khu vực bị lũ cớm đặc biệt dòm ngó.

“Tầng trệt có một nhà hàng Ý xoàng, bẩn thỉu. Không có khó khăn gì trong việc mua lại từ chủ sở hữu. Một cặp nam nữ trong nhóm đảm nhiệm chuyện này. Trong đó, người đàn ông từng là đầu bếp. Các đồng chí có thể ăn uống ở đó mà không bị xét nét giữa những thực khách khác. Đây là một lợi thế khác. Lầu một được một Đại lý Nghệ sĩ Tạp kỹ tồi tàn chiếm cứ - một đại lý môi giowis diễn viên cho các rạp hát hạng tồi, ông biết đấy. Một gã tên Bomm, tôi nhớ. Gã chẳng thấy phiền. Thậm chí còn thuận lợi hơn là có nhiều người có vẻ ngoài ngoại quốc vào ra, những kẻ tung hứng, nghệ sỹ nhào lộn, nam-nữ ca sỹ, vân vân, ra vào suốt ngày. Cảnh sát thường bỏ qua những khuôn mặt mới, ông thấy đấy. Tầng trên cùng, rất thuận tiện, khoảng thời gian đó lại để trống.”

Ngài X dừng lại, dùng ăn món bombe glacée người bồi vừa dọn lên bàn bằng những động tác được cân nhắc. Ông cẩn thận xúc vài thìa món thức quà ngọt mát rồi hỏi tôi: “Ông đã bao giờ nghe nói đến Súp Khô Stone chưa?”

“Nghe thứ gì cơ?”

“Đó là,” ngài X tiếp tục, giọng đều đều, “một mặt hàng thực phẩm từng được quảng cáo khá rầm rộ trên các nhật báo, nhưng không hiểu sao chẳng bao giờ được công chúng ưa chuộng. Công ty ấy trụ được không bao lâu rồi dẹp tiệm, như cách các ông vẫn nói. Những lô hàng tồn kho của họ có thể mua được tại các cuộc đấu giá với giá chưa đầy một xu một pound. Nhóm của chúng tôi đã mua một ít, và mở một đại lý Súp Khô Stone ở tầng trên cùng. Một việc kinh doanh hoàn toàn hợp pháp. Thứ bột màu vàng trông rất khó ăn ấy được đóng lại vào các hộp thiếc vuông lớn, sáu hộp một thùng. Nếu có ai đến đặt hàng, dĩ nhiên là chúng tôi giao. Nhưng cái lợi của thứ bột này là ở chỗ có thể giấu đồ trong đó rất tiện. Thỉnh thoảng, một thùng hàng đặc biệt được chất lên xe và gửi ra nước ngoài ngay dưới mũi viên cảnh sát đang làm nhiệm vụ ở góc phố. Ông hiểu chứ?”

“Tôi nghĩ là hiểu,” tôi đáp, nhìn phần bombe glacée còn sót lại đang từ từ tan chảy trong đĩa mà gật đầu đầy ý nhị.

“Là thế đấy. Nhưng những thùng hàng ấy còn hữu ích theo một cách khác nữa. Dưới tầng hầm, hay đúng hơn là một phòng ngầm ở sau lưng, chúng tôi cho lắp đặt hai máy in. Rất nhiều tài liệu cách mạng có nội dung cực kỳ kích động đã được chuyển khỏi ngôi nhà trong những thùng Súp Khô Stone. Người em trai của cô tiểu thư vô trị của chúng ta cũng có một chân ở đó. Cậu ta viết bài, giúp sắp chữ và in ấn, nói chung là giúp việc cho người phụ trách, một thanh niên rất tài năng tên là Sevrin.

“Người dẫn dắt nhóm ấy là một mê làm cách mạng xã hội đến cuồng tín. Giờ ông ta đã chết rồi. Ông là một nghệ nhân chạm trổ và khắc axit tài ba. Hẳn ông đã từng thấy tác phẩm của ông ta. Giờ đây chúng rất được giới nhà nghề săn lùng. Ông ta bắt đầu bằng việc cách tân nghệ thuật và kết thúc bằng việc trở thành một nhà cách mạng, sau khi vợ con ông chết trong cảnh túng quẫn khốn cùng. Ông thường nói rằng tầng lớp tư sản, lũ no ấm đạo đức giả, đã giết họ. Ông đã sống với niềm tin đó, tin mãnh liệt. Ông sống hai vai, một mặt vẫn làm nghệ thuật, một mặt là nhà cách mạng. Ông cao, gầy gò, và rám nắng, với bộ râu nâu dài và đôi mắt sâu thẳm. Hẳn ông đã từng gặp ông ta. Tên ông ta là Horne.”

Nghe đến đó, tôi thực sự giật mình. Đương nhiên, nhiều năm trước tôi từng gặp Horne khá thường xuyên. Ông ta trông như một gã gíp-xi khoẻ khoắn và thô thiển, đội mũ chóp cao cũ kỹ, quàng khăn choàng đỏ quanh cổ, và gém thân trong một chiếc áo khoác dài, sờn cũ. Ông ta nói về nghệ thuật của mình với sự phấn khích cao độ, và tạo ấn tượng với mọi người rằng sự cực điểm của ông đang dần trôi đến bờ điên loạn. Một nhóm nhỏ các tay chuyên đánh giá cao tác phẩm của ông. Ai có thể ngờ rằng con người này mà lại là... Thật ngỡ ngàng! Nhưng rồi, xét cho cùng, cũng không quá khó để tin.

“Như ông thấy đấy,” X tiếp tục, “nhóm này đã có thể theo đuổi công việc tuyên truyền của mình, và cả loại công việc khác nữa, trong những điều kiện rất thuận lợi. Tất cả họ đều là có tinh thần quyết liệt, giàu kinh nghiệm, thuộc loại ưu tú. Thế mà, chúng tôi dần dà cũng nhận ra một sự thật đau lòng: tất tật các kế hoạch được chuẩn bị ở phố Hermione gần như luôn thất bại.”

“Ông nói ‘chúng tôi’ là nói về những người nào?” tôi hỏi, rành rẽ.

“Một số người chúng tôi ở Brussels - giữa trung tâm,” ông nói, dồn dập. “Bất kỳ hành động quyết liệt nào bắt đầu từ phố Hermione dường như đều bị định đoạt thất bại. Luôn có chuyện xảy ra khiến những vụ khủng bố đã được lên kế hoạch kỹ lưỡng trên khắp châu Âu phá sản. Đó là thời kỳ họ hoạt động rất sôi nổi. Ông đừng tưởng rằng tất cả những thất bại của chúng tôi đều ầm ĩ, với những vụ bắt giữ và xét xử. Không phải vậy. Thường thì cảnh sát hoạt động một cách lặng lẽ, gần như bí mật, đánh bại các liên minh của chúng tôi bằng những âm mưu phản kích thông minh. Không bắt bớ, không ồn ào, không làm công chúng hoang mang và khơi dậy sự chú ý của họ. Đó là một nghiệp vụ cực kỳ khôn ngoan. Nhưng vào thời điểm đó, cảnh sát đã thành công một cách quá vang dội và quá đều đặn, từ Địa Trung Hải đến Baltic. Điều đó thật phiền toái và bắt đầu có vẻ gây nguy hiểm. Cuối cùng chúng tôi đi đến kết luận rằng phải có một số phần tử không đáng tin cậy trong các nhóm ở London. Thế nên tôi sang đây để điều tra xem chuyện gì đang âm thầm xảy ra.

“Động thái đầu tiên của tôi là đến thăm Quý cô Xoàng trẻ tuổi của chủ nghĩa vô trị tại nhà riêng của cô ấy. Cô tiếp đón tôi một cách thơn thớt. Tôi cho rằng cô không biết gì về các cuộc điều chế thuốc nổ và những thứ khác đang diễn ra trên tầng cao nhất của ngôi nhà ở phố Hermione. Việc in ấn tài liệu vô trị là ‘hoạt động’ duy nhất mà cô lờ mờ biết được ở nơi đó. Cô thể hiện rất nổi bật những dấu hiệu thông thường của lòng nhiệt thành mãnh liệt, và đã viết nhiều bài báo lâm li với những kết luận dữ dội. Tôi có thể thấy cô ta đang sung sướng với những thứ mình đang làm hơi thái quá, với tất cả những cử chỉ và vẻ mặt nghiêm túc chết người. Chúng rất hợp với khuôn mặt mắt to, trán rộng của cô và dáng đứng thẳng của cái đầu cân đối, được tôn lên bởi một mái tóc nâu tuyệt đẹp tạo kiểu khác thường và hợp thời. Em trai cô cũng có mặt trong phòng, một thanh niên nghiêm túc, với lông mày hình vòm và đeo một chiếc cà vạt đỏ, người tôi đánh giá là hoàn toàn mù tịt về tất cả mọi thứ, kể cả bản thân mình. Lát sau, một chàng trai trẻ cao lớn bước vào. Anh ta cạo râu nhẵn nhụi với chiếc cằm nam tính hơi ngả xanh và có vẻ mặt giông giống một diễn viên trầm lặng hay của một linh mục cuồng tín: kiểu người có lông mày đen dày - ông biết đấy. Nhưng thực sự anh ta rất đáng chú ý. Anh ta lập tức bắt tay với từng người chúng tôi một cách rất hùng hồn. Cô gái trẻ bước đến bên tôi và thì thầm rất êm, 'Đồng chí Sevrin.'

“Tôi chưa từng gặp anh ta trước đây. Anh ta có ít điều để nói với chúng tôi, nhưng ngồi xuống bên cạnh cô gái, và họ lập tức cuốn vào một cuộc trò chuyện rất hăng. Cô nghiêng người về phía trước trên chiếc ghế bành lớn, cái cằm tròn trịa đẹp đẽ của cô tựa vào bàn tay trắng muốt. Anh ta chăm chú nhìn vào mắt cô. Đó là tư thế của tình yêu, nghiêm túc, mãnh liệt, như có chuyện gì sắp sửa diễn ra. Tôi cho rằng cô cảm thấy cần hoàn thiện giả định của mình về những tư tưởng tiến bộ, về sự phi pháp mang tính cách mạng, bằng cách giả vờ yêu một kẻ vô trị. Và người này, tôi nhắc lại, cực kỳ đáng chú ý, bất chấp gương mặt có đôi mày đen đầy cuồng tín của anh ta. Sau một vài cái liếc trộm về phía họ, tôi đoan chắc anh ta thực sự nghiêm túc. Còn về phía quý cô, những cử chỉ dường như giả trá, nhưng sự giả trá ấy còn vượt trôi hơn cả tình yêu vì chân thành vì trong ấy có sự pha trộn những đặc điểm về phẩm giá, sự ngọt ngào, khiêm hạ, sự quyến rũ, nộp mình và cả sự dè dặt nữa. Cô diễn giải quan niệm của mình về nghệ thuật của việc tán tỉnh với độ khéo tuyệt hảo. Và cho đến nay, cô, cũng không nghi ngờ gì, thực sự nghiêm túc. Đều là những cử chỉ - nhưng là những cử chỉ thật hoàn hảo!

“Sau khi chỉ còn lại một mình với Quý cô Xoàng của chúng tôi, tôi thận trọng thông báo cho cô biết mục đích chuyến thăm của tôi. Tôi ám chỉ những nghi ngờ của chúng tôi. Tôi muốn nghe xem cô sẽ nói gì, có lẽ cũng có phần khấp khởi đợi một sự tiết lộ vô thức. Nhưng cô ta chỉ nói, ‘Điều đó nghiêm trọng đấy,’ với vẻ lo lắng và nghiêm túc một cách đáng yêu. Nhưng có một tia lấp lánh trong mắt cô, như thể bộc bạch ‘Thật thú vị làm sao!’ Xét cho cùng, cô chẳng biết gì nhiều ngoài chữ nghĩa. Tuy nhiên, cô nhận lời móc nối tôi với Horne, người không dễ tìm trừ phi còn đang ở lại phố Hermione, nơi tôi lúc ấy chẳng muốn có mặt.

“Tôi đã gặp Horne. Đây một kẻ cuồng tín theo kiểu hoàn toàn khác. Tôi trình bày với anh ta kết luận chúng tôi đã thống nhất ở Brussels, và chỉ ra chuỗi thất bại khó ngó lơ. Với điều này, anh ta đáp lại bằng sự phấn khích như người ngoại cuộc:

“‘Tôi có thứ trong tay sẽ giáng một đòn kinh hoàng vào tim lũ quái vật hám của kia.’

“Và rồi tôi biết được rằng, bằng cách đào bới một căn hầm của ngôi nhà, anh ta và một số đồng chí đã mở được một con hào thông vào những căn hầm dưới toà nhà công vụ bề thế khi nãy tôi đã nhắc. Giờ chỉ cần đủ hàng là việc thổi bay nó chỉ là điều sớm muộn.

“Nếu như trước đây, có lẽ tôi sẽ rất kinh hoàng trước sự ngu ngốc của động thái đó, bởi tính hữu dụng tại cứ điểm trên phố Hermione của chúng tôi là vô cùng đáng ngờ. Trên thực tế, theo ý kiến của tôi, chuyện này giống một cái bẫy mà lũ cớm đã giăng ra hơn.

“Điều cần thiết bấy giờ là phải phát hiện xem điều gì bất thường, đúng hơn là ai bất thường, và tôi cuối cùng cũng có thể đưa ý tưởng đó vào đầu Horne. Anh ta trợn mắt nhìn, bối rối, lỗ mũi phập phồng như thể đang đánh hơi thấy sự phản bội trong không khí.

“Công việc trong mắt ông có vẻ hơi diễn. Nhưng còn có thể làm gì khác? Vấn đề là tìm ra thành viên không đáng tin cậy trong nhóm. Nhưng tôi không có bất kỳ manh mối gì để nghi ngờ bất kỳ ai. Mà theo dõi tất cả bọn họ thì không thực tế lắm. Hơn nữa, cách thức đó thường đi vào ngõ cụt. Trong mọi trường hợp, chuyện này cũng cần thời gian, và nguy hiểm đang rình rập. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng cứ điểm ở phố Hermione cuối cùng sẽ bị đột kích, mặc dù cảnh sát rõ ràng đã tin tưởng vào tay chỉ điểm đến mức ngôi nhà, vào lúc đó, thậm chí còn không bị theo dõi. Horne khẳng định điểm đó. Trong hoàn cảnh này, đó là một biểu hiện không khả quan lắm. Phải nhanh chóng làm gì đó.

“Tôi quyết định tự mình tổ chức một cuộc đột kích giả vào nhóm này. Ông hiểu chứ? Tôi sẽ nhờ vài đồng chí đang tin cậy giả làm cảnh sát và ập vào đó xem phản ứng của họ. Một âm mưu lồng trong âm mưu. Ông có thể thấy rõ mục đích của nó, tất nhiên. Khi sắp bị bắt, tôi hy vọng tay chỉ điểm sẽ tự bại lộ theo cách này hay cách khác; hoặc bằng một hành động sơ hở nào đó hoặc đơn giản bằng thái độ dửng dưng của hắn trước sự biến, chẳng hạn. Dĩ nhiên, điều này cũng có rủi ro sẽ thất bại, cũng như quá trình chống trả hoặc trốn thoát có thể sẽ có người phải bỏ mạng, không trừ trường hợp đó được. Bởi vì, như ông sẽ dễ dàng thấy, nhóm phố Hermione phải thực sự bị bắt bất ngờ, hệt như cái cách tôi tin chắc không lâu nữa họ sẽ bị bắt bởi cảnh sát thật. Kẻ chỉ điểm ở trong số bọn họ, và chỉ một mình Horne được biết kế hoạch bí mật của tôi.

“Tôi sẽ không đi vào chi tiết quá trình chuẩn bị của mình. Việc dàn xếp không dễ dàng gì, nhưng mọi việc được thực hiện nhạy bén, và sự hiệu quả của nó là thực sự thuyết phục. Cảnh sát giả tràn vào nhà hàng, những lớp cửa chắn bảo vệ lập tức được bật lên. Hoàn toàn bị bất ngờ. Hầu hết thành viên thuộc nhóm phố Hermione được tìm thấy trong hầm thứ hai, đang mở hào thông với hầm của tòa nhà công vụ. Ngay khi có báo động đầu tiên, vài đồng chí lao vọt qua vào căn hầm nói trên, nơi, dĩ nhiên, nếu đây là một cuộc đột kích thật, họ đã bị dính kẹt. Những người như vậy đã chứng minh sự vô hại của mình, chúng tôi không cần bận tâm về họ nữa. Tầng trên cùng gây ra mối lo ngại đáng kể cho Horne và tôi. Ở đó, bao quanh bởi những hộp Súp Khô Stone, một đồng chí, biệt danh là Giáo sư (hắn ta từng là sinh viên khoa học) đang hoàn thiện một số kíp nổ tân tiến. Hắn nhỏ người, vàng vọt, tự tin và đãng trí, đeo cặp kính tròn lớn, và chúng tôi sợ rằng hắn sẽ vì cảnh tượng giả hiệu trước mắt mà cho kích nổ chính mình và phá hủy ngôi nhà ngay trước mặt chúng tôi. Tôi lao lên cầu thang và thấy hắn đã ở giữa cửa, cảnh giác, đang lắng nghe ‘tiếng động đáng ngờ ở dưới’, như hắn về sau nói. Trước khi tôi kịp giải thích cho hắn ta chuyện gì đang xảy ra, hắn đã nhún vai khinh bỉ và quay lại với cái cân và ống nghiệm của mình. Đó là tinh thần đích thực của một nhà cách mạng cực đoan. Chất nổ là niềm tin, hy vọng, vũ khí và khiên che của hắn. Vài năm sau, hắn bỏ mạng trong một phòng thí nghiệm bí mật vì tai nạn khi một trong những kíp nổ cải tiến của mình bất ngờ kích hoạt.

“Vội vã xuống dưới, tôi thấy một cảnh tượng ấn tượng trong bóng tối của căn hầm lớn. Người đóng vai thanh tra (không xa lạ gì với vai diễn) đang nói gắt gỏng, và ra những mệnh lệnh giả cho những thuộc cấp giả của mình để dẫn giải tù nhân. Rõ ràng cho đến giờ vẫn chưa có ai biểu lộ điều gì đáng ngờ. Horne, ủ rũ và ngăm đen, chờ đợi với cánh tay khoanh trước ngực, và sự đợi chờ kiên nhẫn, u sầu có vẻ khắc kỷ của ông ta rất phù hợp với tình huống. Tôi phát hiện trong bóng tối một thành viên của nhóm phố Hermione đang lén nhai và nuốt một mảnh giấy nhỏ. Tôi đoán là một mảnh giấy chứa thông tin bất lợi nào đó; có lẽ chỉ là tờ ghi chú có dăm cái tên và địa chỉ. Anh ta là một ‘đồng chí’ thực thụ và trung thành. Nhưng trước màn kịch hoàn toàn dư thừa đó, có một thứ cảm giác bí mật nào đó chôn thật sâu bên dưới nỗi cảm thông khiến chúng tôi không khỏi buồn cười.

“Mặt khác, phép thử mạo hiểm, một vụ đột kích kịch tính, nếu ông muốn gọi như vậy, dường như đã thất bại. Trò dối lửa ấy không thể kéo dài thêm nữa; lời giải thích sẽ dẫn đến một tình huống rất khó xử và thậm chí nghiêm trọng. Người đã ăn tờ giấy sẽ điên tiết. Những gã đã chuồn đi cũng sẽ tức giận.

“Như để chọc cho tôi bực bội hơn nữa, cánh cửa thông với hầm khác, nơi đặt máy in, bật mở, và nữ cách mạng trẻ tuổi của chúng ta xuất hiện, một bóng đen trong chiếc váy bó sát và chiếc mũ rộng vành, với ngọn lửa ga bùng lên phía sau lưng cô. Qua vai cô, tôi nhận thấy lông mày hình vòm và chiếc cà vạt đỏ của em trai cô.

“Họ là những người tôi ít muốn thấy nhất ở đó, trong tình cảnh này! Tối hôm đó, họ đã đi xem một buổi hòa nhạc tay ngang mua vui cho người nghèo, ông biết đấy; nhưng cô đã nhất quyết về sớm, cố ý ghé qua phố Hermione trên đường về, lấy cái cớ có một số việc phải làm. Công việc thường ngày của cô là sửa bản in thử của các ấn bản tiếng Ý và tiếng Pháp của tờ Chuông báo và Người gây hấn.”…

“Trời ơi!” tôi lẩm bẩm. Tôi đã từng được xem một vài số của hai ấn phẩm này. Theo ý kiến của tôi, đó là thứ ít phù hợp nhất để một tiểu thư trẻ đọc. Chúng là những thứ cấp tiến nhất trong loại thể đó; cấp tiến, ý tôi là vượt quá mọi giới hạn của lý trí và sự đoan trang. Một tờ thì chủ trương giải thể mọi ràng buộc xã hội và gia đình; tờ kia ủng hộ việc giết người có hệ thống. Nghĩ ra cái cảnh một cô gái trẻ mẫn cán rà soát lỗi in dọc theo thứ văn chương ghê tởm mà tôi nhớ cảm xúc có phần nữ tính của mình đã không thể nào chịu nổi. Ngài X, sau khi liếc nhìn tôi, tiếp tục đều đặn.

“Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng cô đến chủ yếu để phô diễn sự quyến rũ của mình lên Sevrin, và nhận sự tôn kính của anh ta theo phong cách nữ hoàng và khiêm hạ của cô. Cô ý thức được cả hai - sức mạnh của mình và sự tôn kính của anh ta - và tận hưởng chúng với, tôi dám nói, sự ngây thơ hoàn toàn. Chúng ta không có lý do thực dụng hay đạo đức nào để phân bua với cô về điều đó. Sức quyến rũ ở phụ nữ và trí thông minh xuất chúng ở đàn ông là một quy luật tự thân. Có phải vậy không?”

Tôi kiềm chế không bày tỏ sự ghê tởm của mình đối với học thuyết phóng đãng đó vì sự tò mò.

“Nhưng sau đó chuyện gì đã xảy ra?” tôi vội hỏi.

X tiếp tục bóp vụn từ từ một mẩu bánh mì nhỏ bằng bàn tay trái vô tư của mình.

“Điều xảy ra, thực ra,” ông ta thú nhận, “là cô đã cứu vãn tình thế.”

“Cô đã cho ông một cơ hội để kết thúc vở kịch có phần hiểm ác của mình,” tôi mớm.

“Đúng vậy,” ông nói, vẫn giữ thái độ điềm nhiên. “Vở hài kịch kia sớm muộn cũng phải kết thúc. Và nó đã kết thúc chỉ trong vài phút. Một kết thúc tốt đẹp. Nếu cô ấy không bước vào, có lẽ nó đã kết thúc tồi tệ. Em trai cô ta, dĩ nhiên, không đáng quan tâm. Họ đã lẻn vào một cách lặng lẽ một lúc trước đó. Hầm in có lối vào riêng. Không thấy ai ở đó, cô ngồi xuống sửa bản in thử, mong chờ Sevrin quay lại với công việc bất cứ lúc nào. Anh ta đã không làm vậy. Cô trở nên mất kiên nhẫn, nghe thấy qua cánh cửa những âm thanh xáo động ở hầm bên kia và tự nhiên bước vào xem có chuyện gì.

“Sevrin đã ở cùng chúng tôi. Lúc đầu, anh ta dường như là người ngạc nhiên nhất trong đám bị đột kích. Anh xuất hiện trong chốc lát như thể tê liệt vì kinh ngạc. Anh đứng chôn chân tại chỗ. Anh không cử động một chi. Một ngọn đèn ga đơn độc bùng lên gần đầu anh; tất cả các đèn khác đã bị tắt ngay khi có báo động đầu tiên. Và ngay sau đó, từ góc tối của mình, tôi quan sát thấy trên khuôn mặt cạo nhẵn như diễn viên của anh một biểu cảm của sự cảnh giác bối rối, bực bội. Anh nhíu đôi lông mày nặng nề. Khóe miệng anh trễ xuống đầy khinh bỉ. Anh ta tức giận. Rất có thể anh đã nhìn thấu trò chơi, và tôi hối tiếc vì đã không đưa anh vào nhóm hoàn toàn tin tưởng của mình ngay từ đầu.

“Nhưng với sự xuất hiện của cô gái, anh ta trở nên hoảng sợ thấy rõ. Chuyện ấy lồ lộ cả ra. Tôi có thể thấy nó lớn dần. Sự thay đổi biểu cảm của anh nhanh chóng và gây kinh ngạc. Và tôi không biết tại sao. Một lý do khả dĩ chưa bao giờ lóe lên trong tôi. Tôi chỉ đơn thuần kinh ngạc trước sự thay đổi cực độ trên khuôn mặt người đàn ông ấy. Dĩ nhiên trước đó anh đã không biết về sự hiện diện của cô ta ở hầm bên kia; nhưng điều đó không giải thích được cú sốc mà sự xuất hiện của cô đã gây ra cho anh. Trong một khoảnh khắc, anh dường như bị hoá thành kẻ đần độn. Anh há miệng như thể để hét, hoặc có lẽ chỉ để thở hổn hển. Dù thế nào, người đã hét lên lại là một kẻ khác. Kẻ này chính là anh đồng chí dũng cảm khi nãy tôi phát hiện đang nuốt mảnh giấy. Với sự bình tĩnh đáng khen, anh ta hét lên một tiếng cảnh báo.

“‘Là cảnh sát! Lùi lại! Lùi lại! Chạy về phía sau, chốt cửa lại sau lưng các người.’

“Đó là một kế sách tuyệt vời; nhưng thay vì rút lui, cô gái tiếp tục tiến tới, theo sau là người em trai mặt ngựa trong bộ đồ knickerbocker, bộ đồ mà cậu đã mặc để hát những bài hát hóm hỉnh để mua vui cho giai cấp vô sản thiếu hân hoan. Cô tiến tới không phải như thể không hiểu điều gì đang xảy ra - từ ‘cảnh sát’ là từ không thể nhầm lẫn - mà như thể cô không thể tự kiềm chế được. Cô không tiến tới với dáng đi tự do và sự hiện diện lớn dần của một nhà vô trị nghiệp dư xuất chúng giữa những chuyên gia nghèo khó, khổ sở, mà với đôi vai hơi nhướng lên, khuỷu tay ép sát vào thân, như thể cố thu mình lại. Đôi mắt cô dán chặt vào Sevrin. Sevrin trong vai trò con người, tôi tưởng tượng; không phải Sevrin vô trị gia. Nhưng cô đã tiến tới. Và điều đó là tự nhiên. Bất chấp tất cả sự giả định về sự độc lập, những cô gái của tầng lớp đó đã quen với cảm giác được bảo vệ đặc biệt, như trên thực tế, họ được vậy. Cảm giác này giải thích cho mười mươi những cử chỉ táo bạo của họ. Mặt cô đã ngả sang màu tái nhợt. Thật là kinh khủng. Hãy tưởng tượng việc nhớ ra trong kinh hoàng rằng cô lại phải chạy trốn khỏi cảnh sát! Tôi tin rằng cô tái đi chủ yếu vì phẫn nộ, mặc dù. dĩ nhiên, cũng có mối lo ngại cho sự nguyên vẹn trong phẩm giá của mình, một nỗi sợ mơ hồ về kiểu hành xử thô lỗ nào đó. Và, đương nhiên, cô đã quay sang người đàn ông ấy, người đàn ông mà cô có quyền được mê say và tôn kính - người đàn ông không thể nào làm cô thất vọng trong bất kỳ tình huống nào.”

“Nhưng,” tôi kêu lên, kinh ngạc trước phân tích này, “nếu điều đó nghiêm trọng, thực sự, ý tôi là - như cô nghĩ - cô ta có thể mong đợi anh ta làm gì cho cô ta?”

X mặt mày không hề có sự chuyển động nào.

“Chúa mới biết được. Tôi tưởng tượng rằng sinh vật quyến rũ, hào phóng và độc lập này chưa từng biết đến một ý nghĩ chân thành nào trong đời; ý tôi là một ý nghĩ tách rời khỏi những tính hư vinh nhỏ nhen của con người, hoặc có nguồn gốc không phải trong một nhận thức thông thường nào đó. Tất cả những gì tôi biết là sau khi tiến thêm vài bước, cô đưa tay về phía Sevrin bất động. Và ít nhất đó không phải là một cử chỉ. Đó là một động tác hết sức bản năng. Còn về điều cô mong đợi anh ta sẽ làm, ai có thể biết được? Một điều bất khả. Nhưng bất cứ điều gì cô mong đợi, tôi dám nói, nó không thể sánh bằng điều anh đã hạ quyết tâm làm, ngay cả trước khi bàn tay cầu xin đó đã kêu gọi anh một cách rõ ràng như vậy. Điều đó là không cần thiết. Từ khoảnh khắc anh nhìn thấy cô bước vào căn hầm đó, anh đã quyết định hy sinh sự hữu dụng của mình trong tương lai, vứt bỏ chiếc mặt nạ không thể xuyên thủng, được cài chắc chắn mà anh đã tự hào được đeo…”

“Ý ông là gì?” tôi ngắt lời, bối rối. “Vậy Sevrin là người đã…”

“Chính là anh ta. Kẻ chỉ điểm kiên trì nhất, nguy hiểm nhất, xảo quyệt nhất, có hệ thống nhất. Một thiên tài giữa những kẻ phản bội. May mắn thay cho chúng tôi, anh ta là kẻ duy nhất. Anh ta là một kẻ cuồng tín, tôi đã nói với ông rồi. Một lần nữa chúng tôi lại được may mắn mỉm người, anh ta đã trót phải lòng những cử chỉ điêu luyện và ngây thơ của cô gái đó. Bản thân là một diễn viên sống trong sự đứng đắn đầy tuyệt vọng, hẳn anh ta phải tin vào giá trị tuyệt đối của những dấu hiệu thông thường. Còn về sự thô thiển của cái bẫy mà anh ta sa vào, lời giải thích duy nhất có thể đưa ra là rằng hai cảm xúc có cường độ áp đảo như vậy không thể tồn tại đồng thời trong một trái tim. Mối nguy hiểm mà diễn viên hài kia vô thức đặt ra đã cướp đi tầm nhìn, sự sáng suốt, và óc phán đoán của anh ta. Thực vậy, thoạt đầu nó đã cướp đi sự tự chủ của anh. Nhưng anh lấy lại được nó thông qua ý nghĩ phải làm điều cần thiết - điều đã xuất hiện trong anh ta một cách cấp bách - phải làm gì đó ngay lập tức. Làm gì? À, đưa cô ra khỏi ngôi nhà càng nhanh càng tốt. Anh ta sốt ruột làm điều đó. Tôi đã nói với ông anh ta kinh hãi. Sự kinh hãi đó không thể vị thân được. Anh ta đã ngạc nhiên và bực bội trước một động thái hoàn toàn không lường trước được. Tôi thậm chí có thể nói anh đã điên tiết. Anh ta đã quen với việc sắp xếp cảnh cuối trong những vụ phản bội của mình một cách điệu nghệ tuyệt hảo, tinh vi, sao cho danh tiếng cách mạng của mình không hề tổn hại. Nhưng tôi dường thấy rõ rằng đồng thời anh đã quyết tâm tận dụng tối đa tình thế, kiên quyết giữ mặt nạ. Nhưng chỉ với việc phát hiện ra cô cũng có mặt trong toà nhà, mọi thứ - sự bình tĩnh ép buộc, sự kiềm chế lòng cuồng tín, chiếc mặt nạ - tất cả cùng tuột ra trong một kiểu hoảng loạn. Tại sao lại hoảng loạn? Câu trả lời rất đơn giản. Anh ta nhớ - hoặc, tôi dám nói, anh chưa bao giờ quên - vị Giáo sư một mình ở tầng trên cùng của ngôi nhà đang miệt mài với nghiên cứu của mình, chung quanh cơ màn là những thùng Súp Khô Stone. Chỉ cần một vài trong số đó là đủ để chôn vùi tất cả chúng tôi dưới một đống gạch ngay lập tức. Sevrin, tất nhiên, ý thức được điều đó. Và chúng ta cũng phải tin rằng anh biết rõ tính cách của người đàn ông đó. Anh ta đã quá có kinh nghiệm với những kẻ như thế! Hoặc có lẽ anh phóng chiếu lên vị Giáo sư những gì chính anh có khả năng làm. Nhưng, trong mọi trường hợp, việc đó đã tạo ra hiệu ứng. Và đột nhiên anh giở giọng quyền hành.

“‘Đưa cô gái ấy ra khỏi đây mau.’

“Giọng anh ta khàn đặc như con quả; kết quả, không nghi ngờ gì, của xúc cảm mãnh liệt đang trải qua. Nó tan biến trong chốc lát. Nhưng những lời lẽ định mệnh này phát ra từ cổ họng co thắt của anh trong một tiếng kêu khàn khàn, lố bịch. Chúng không cần câu trả lời. Việc đã xong rồi. Tuy nhiên, người đóng vai thanh tra thấy cần phải thô bạo nói thêm:

“‘Cô ta sẽ đi sớm thôi, cùng với tất cả các người.’

“Đây là những lời cuối cùng thuộc về phần hài kịch của vụ việc này.

“Quên hết mọi thứ và mọi người, Sevrin sải bước về phía hắn và túm lấy ve áo khoác của hắn. Dưới đôi gò má xanh xao mỏng manh của anh, người ta có thể thấy hàm anh nghiến dữ dội.

“‘Anh đã cho người đứng đón bên ngoài. Hãy đưa quý cô về nhà ngay lập tức. Anh có nghe không? Ngay bây giờ. Trước khi anh cố bắt người đàn ông trên lầu.'

“‘Ồ! Có một người trên lầu,’ người kia chế nhạo, không nể nang. ‘Chà, hắn sẽ được đưa xuống kịp lúc để chứng kiến kết thúc của việc này.’

“Nhưng Sevrin, điên cuồng, không để ý đến giọng điệu đó.

“‘Kẻ đại ngốc nào đã dại dột tới nỗi cử anh đến đây lộn xộn vậy? Anh không hiểu chỉ thị của mình sao? Anh chẳng biết gì sao? Thật không thể tin nổi. Đây...

“Anh ta thả ve áo khoác ra và, thọc tay vào ngực, giật giật một cách sốt sắng cái gì đó dưới áo sơ mi. Cuối cùng anh lôi ra một túi da mềm nhỏ vuông, hẳn đã được treo như một bùa hộ mệnh quanh cổ bằng dải ruy-băng đã vừa đứt lìa dưới bàn tay của anh ta.

“‘Nhìn bên trong đi,’ anh lắp bắp, ném nó vào mặt người kia. Và ngay lập tức anh quay lại về phía cô gái. Cô đứng ngay sau anh, hoàn toàn bất động và im lặng. Khuôn mặt trắng bệch, cứng đờ của cô tạo ra một ảo giác về sự bình thản. Chỉ đôi mắt trợn tráo của cô là dường như mở ra rộng hơn và tối hơn.

“Anh ta nói nhanh, với sự tự tin hồi hộp. Tôi nghe anh hứa với cô một cách rõ ràng sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện như ánh sáng ban ngày. Nhưng đó là tất cả những gì tôi nghe được. Anh ta đứng sát cô, không bao giờ cố chạm vào cô dù chỉ bằng đầu ngón tay út - và cô nhìn chằm chằm vào anh một cách đần độn. Tuy nhiên, trong một khoảnh khắc, mí mắt cô từ từ khép xuống, thật thảm thiết, và rồi, với hàng mi đen dài nằm trên đôi gò má trắng, cô trông như sắp ngã xuống ngất đi. Nhưng cô thậm chí không hề lảo đảo. Anh ta lớn tiếng thúc giục cô hãy theo anh ngay lập tức, và bước về phía cánh cửa dưới chân cầu thang xuống hầm mà không nhìn lại sau lưng. Và, trên thực tế, cô đã di chuyển theo anh ta một hoặc hai bước. Nhưng, dĩ nhiên, anh ta không được phép đến cửa. Có những tiếng kêu tức giận, một cuộc ẩu đả vội, dữ dội. Bị ném đi một cách thô bạo, anh bay ngược về phía cô, sóng soài. Cô giang tay ra trong một cử chỉ hoảng hốt và bước sang một bên, vừa đủ tránh khỏi cái đầu anh đập mạnh xuống đất gần đôi giày của cô.

“Anh rên lên vì chấn động. Đến lúc anh tự đứng dậy, chậm rãi, choáng váng, anh đã hoàn toàn ý thức thực tế của sự việc. Người đàn ông mà anh đã đưa chiếc túi da đã rút từ đó ra một dải giấy hơi xanh. Hắn giơ nó lên cao trên đầu, và, sau cuộc ẩu đả, một sự im lặng bồn chồn, mong đợi lại ngự trị một lần nữa, anh ném nó xuống một cách khinh bỉ với lời lẽ, ‘Tôi nghĩ, các đồng chí, bằng chứng này hầu như không cần thiết.’

“Nhanh như chớp, cô gái cúi xuống nhặt mảnh giấy đang bay. Cầm nó vạch ra bằng cả hai tay, cô nhìn nó; rồi, không ngước mắt lên, từ từ mở các ngón tay và để nó rơi xuống.

“Về sau, tôi đã kiểm tra tài liệu kỳ lạ đó. Nó được ký bởi một nhân vật rất cao cấp, và được đóng dấu và phó ký bởi các quan chức cấp cao khác ở nhiều quốc gia châu Âu. Trong ngành nghề của anh ta - hay tôi nên nói, trong sứ mệnh của anh ta? - loại bùa hộ mệnh đó tuyệt đối không cần thiết, chắc chắn. Ngay cả với chính giới cảnh sát - ngoại trừ những người đứng đầu - anh cũng chỉ được biết đến với tên Sevrin, nhà vô trị lừng danh.

“Anh ta cúi đầu, cắn môi dưới. Một sự thay đổi đã đến với anh, một kiểu bình tĩnh trầm tư, chìm đắm. Tuy nhiên, hơi thở anh vẫn hổn hển. Hai bên sườn anh co giật rõ ràng, và lỗ mũi anh phồng lên xẹp xuống trong sự tương phản kỳ lạ với vẻ ngoài u ám của một tu sĩ cuồng tín trong tư thế thiền định, nhưng cũng có cái gì đó, trên khuôn mặt anh, của một diễn viên tập trung vào những yêu cầu khắt khe của vai diễn mình. Trước mặt anh, Horne lớn tiếng tố cáo, tiều tụy và râu ria, như một nhà tiên tri đầy cảm hứng lên án từ một vùng hoang dã. Hai kẻ cuồng tín. Họ được tạo ra để hiểu nhau. Điều này có làm ông ngạc nhiên không? Tôi cho rằng ông nghĩ rằng những người như vậy sẽ sùi bọt mép và gầm gừ với nhau?”

Tôi vội vàng phản đối rằng tôi không ngạc nhiên chút nào; rằng tôi không mang một suy nghĩ gì theo lối đó; rằng những kẻ vô trị để mà tóm gọn một cách đơn giản thì là không thể hình dung được về mặt tinh thần, đạo đức, logic, tình cảm và ngay cả thể chất. X tiếp nhận lời tuyên bố này với khuôn mặt như phỗng thường lệ của mình và tiếp tục.

“Horne đã bùng nổ thành cơn hùng biện. Trong khi tuôn ra những lời lăng mạ đầy khinh bỉ, ông ta để những giọt nước mắt lăn xuống bộ râu đen của mình mà không để ý. Sevrin thở hổn hển ngày càng nhanh. Khi anh mở miệng nói, mọi người đều chăm chú lắng nghe.

“‘Đừng có ngu ngốc, Horne,’ anh ta bắt đầu. ‘Anh biết rõ là tôi đã làm điều này không phải vì bất kỳ lý do nào anh đang ném vào mặt tôi.’ Và trong chốc lát, tướng phách anh vững như bàn thạch dưới ánh mắt lửa đỏ của người kia. ‘Tôi đã cản trở, lừa dối, và phản bội anh - tất cả vì niềm tin.’

“Anh ta quay lưng lại với Horne, và hướng về phía cô gái, lặp lại lời nói: ‘Xuất phát từ niềm tin.’

“Thật lạ lùng làm sao cô ấy trông thật là lạnh lùng. Tôi cho rằng cô không thể nghĩ ra bất kỳ cử chỉ thích hợp nào. Quả thực, tình huống như vậy rất ít có tiền lệ.

“‘Rõ ràng như ánh sáng ban ngày,’ anh ta thêm. ‘Em có hiểu điều đó có nghĩa là gì không? Xuất phát từ niềm tin.’

“Và cô vẫn không nhúc nhích. Cô không biết phải làm gì. Nhưng kẻ đáng thương không may mắn sắp cho cô cơ hội để bày biện ra một cử chỉ đẹp đẽ và đúng đắn.

“‘Anh đã cảm thấy trong mình sức mạnh để khiến em chia sẻ niềm tin này,’ anh phản kháng, tha thiết. Anh đã quên mất bản thân; anh ta bước một bước về phía cô - có lẽ anh vấp ngã. Với tôi, anh dường như cúi thấp như thể chạm vào vạt áo của cô. Và rồi cử chỉ thích hợp đã đến. Cô giật vạt váy ra khỏi cái chạm ô uế của anh và hất đầu quay đi. Động tác ấy được thực hiện một cách tuyệt vời, một cử chỉ của danh dự thuần khiết hợp quy ước, của một kẻ cách mạng xoàng xĩnh mà cao quý vô ngần.

“Không gì có thể tốt hơn. Và anh ta dường như cũng nghĩ vậy, vì một lần nữa anh quay đi. Nhưng lần này anh không đối mặt với ai. Anh lại thở hổn hển kinh khủng, trong khi anh lục lọi vội vàng trong túi áo gi-lê, và rồi đưa tay lên môi. Có gì đó lén lút trong cử động này, nhưng ngay sau đó tư thế của anh thay đổi. Hơi thở nặng nhọc của anh khiến anh giống một người vừa chạy một cuộc đua tuyệt vọng; nhưng một vẻ thờ ơ kỳ lạ, sự thờ ơ đột ngột và sâu sắc, thay thế sự căng thẳng của nỗ lực tranh đấu. Cuộc đua đã kết thúc. Tôi không muốn thấy điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Tôi quá rõ điều đó. Tôi kẹp cánh tay của tiểu thư trẻ dưới cánh tay mình mà không một lời, và dẫn đường với cô đến cầu thang.

“Em trai cô đi phía sau chúng tôi. Đi được nửa đoạn cầu thang ngắn, cô dường như không thể nhấc chân đủ cao để bước lên bậc, và chúng tôi phải kéo và đẩy để đưa cô lên tới trên ấy. Trong hành lang, cô lê bước, bám vào cánh tay tôi, cúi xuống bất lực như một bà già. Chúng tôi bước ra một con phố vắng qua một cánh cửa hé mở, loạng choạng như những kẻ say rượu. Ở góc phố, chúng tôi đón một cỗ xe bốn bánh, và người lái xe già nua nhìn lại từ ghế lái của mình với sự khinh bỉ ủ rũ trước cảnh chúng tôi phải gắng gỏi lắm mới đưa được cô vào xe. Hai lần trong suốt chuyến đi, tôi cảm thấy cô ngã quỵ trên vai tôi trong một cơn ngất xỉu. Đối diện chúng tôi, chàng thanh niên mặc quần knickerbocker vẫn câm như hến, và, cho đến khi anh ta nhảy ra với chìa khóa, sự im lặng đó còn dữ dội hơn nữa, tôi tin là thế.

“Tại cửa phòng khách của họ, cô rời cánh tay tôi và bước vào trước, vịn vào ghế và bàn. Cô tháo ghim chiếc mũ ra, rồi, kiệt sức vì lao lực, chiếc áo choàng vẫn treo trên vai, ném người vào một chiếc ghế bành sâu, nghiêng người, mặt vùi một nửa trong chiếc gối. Người em trai tốt bụng xuất hiện lặng lẽ trước mặt cô với một ly nước. Cô xua tay ra hiệu từ chối. Cậu tự uống nó và bước đi đến một góc xa - đằng sau cây đại dương cầm, đâu đó. Mọi thứ đều yên tĩnh trong căn phòng này, nơi tôi đã thấy, lần đầu tiên, Sevrin, kẻ chống vô trị, bị quyến rũ và mê hoặc bởi những vẻ mặt điêu luyện và thừa hưởng được của cô mà trong một phạm vi nhất định của cuộc sống có thế dùng để thay thế cảm xúc thuần tuý với một hiệu quả tuyệt vời. Tôi cho rằng bao suy nghĩ của cô đang bận rộn với cùng một ký ức. Vai cô run lên dữ dội. Một cơn thần kinh thuần túy. Khi nó lắng xuống, cô tỏ ra cứng rắn, ‘Họ sẽ làm gì với một người đàn ông kiểu đó? Họ sẽ làm gì với anh ta?’

“‘Không gì cả. Họ không thể làm gì anh ta được nữa,’ tôi trấn an cô, mà lời ấy cũng đúng thôi. Tôi khá chắc rằng anh đã chết trong vòng chưa đầy hai mươi phút kể từ khoảnh khắc tay anh đưa lên môi. Bởi vì nếu sự nghiệp chống vô chính phủ cuồng tín của anh thậm chí đi xa đến mức mang theo chất độc trong túi, chỉ để tước đi sự trả thù chính đáng của kẻ thù, tôi biết anh sẽ lo liệu để có thứ gì đó không làm anh thất vọng khi cần thiết.

“Cô hít một hơi giận dữ. Có những đốm đỏ trên má cô và một ánh sáng sốt sắng trong mắt.

“‘Đã từng có ai bị lộ tẩy trong một hoàn cảnh khủng khiếp như vậy chưa? Nghĩ lại cảnh khi xưa anh ta nắm tay tôi mà xem! Con người đó!’ Mặt cô giật giật, cô nuốt ực một tiếng nấc thảm thiết. ‘Nếu tôi từng cảm thấy chắc chắn về điều gì, đó là về động cơ cao thượng của Sevrin.’

“Rồi cô bắt đầu khóc lặng lẽ, điều đó tốt cho cô. Rồi qua dòng nước mắt của cô vẩn nhiều oán hận, ‘Anh ta đã nói gì với tôi? - ‘Từ niềm tin!’ Lời đó có khác gì một kiểu chế nhạo đê tiện đâu. Anh ta có ý gì mà nói thế?’

“‘Điều đó, thưa tiểu thư trẻ,’ tôi nói, nhẹ nhàng, ‘là điều mà tôi hay bất cứ ai khác có thể giải thích cho cô.’”

Ngài X khẽ gạt một mẩu vụn khỏi trước áo khoác.

“Và điều đó cô sẽ thấy thật đúng. Mặc dù Horne, chẳng hạn, hiểu rất rõ; và tôi cũng vậy, đặc biệt là sau khi chúng tôi đến chỗ ở của Sevrin trong một con hẻm ảm đạm thuộc một khu phố cực kỳ đáng kính. Ở đó, Horne xưng là một người bạn, và chúng tôi không gặp khó khăn gì để được vào, cô hầu gái lôi thôi nhận xét, khi cô để chúng tôi vào, rằng ‘Ông Sevrin đã không về nhà tối hôm đó.’ Chúng tôi giằng mở một vài ngăn kéo để làm nhiệm vụ, và tìm thấy một chút thông tin hữu ích. Phần thú vị nhất là nhật ký của anh ta; bởi vì người đàn ông này, dù tham gia vào công việc chết người như vậy, lại có điểm yếu là giữ một bản ghi chép thuộc loại đáng nguyền rủa nhất. Có những hành động và cả suy nghĩ của anh được phơi bày trước chúng tôi. Nhưng người chết không bận tâm điều đó. Họ chẳng bận tâm gì cả.

“‘Từ niềm tin.’ Đúng vậy. Một chủ nghĩa nhân đạo mơ hồ nhưng nhiệt thành đã thúc đẩy anh trong đoạn đầu tuổi trẻ đi đến cực điểm cay đắng nhất của sự chống đối và nổi loạn. Sau đó, sự lạc quan của anh nao núng. Anh nghi ngờ và trở nên lạc lối. Ông đã nghe nói về những người vô thần cải đạo. Những người này thường trở thành những kẻ cuồng tín nguy hiểm, nhưng linh hồn vẫn như cũ. Sau khi anh ta làm quen với cô gái, trong nhật ký của anh ta có thể bắt gặp những bài tụng chính trị-tình ái rất kỳ quặc. Anh ta nhìn nhận những bộ mặt uy quyền của cô với sự nghiêm túc chết người. Anh khao khát cải đạo cô. Nhưng tất cả những điều này đâu phải điều ông quan tâm. Về phần còn lại, tôi không biết ông có nhớ không - chuyện ấy đã trôi qua lâu lắm rồi - chuyện báo chí tốn không ít giấy mực về ‘Bí ẩn Phố Hermione’; việc tìm thấy thi thể một người đàn ông trong hầm một ngôi nhà trống; cuộc điều tra; một số vụ bắt giữ; nhiều phỏng đoán - rồi im lặng - kết thúc phổ biến cho nhiều vị tử đạo và người tuyên xưng mờ ám. Sự thật là, anh takhông đủ lạc quan. Ông phải là một kẻ lạc quan đến man rợ, chuyên chế, tàn nhẫn, cực đoan, như Horne chẳng hạn, để trở thành một nhà nổi loạn xã hội manh động thực thụ.”

Ông ta đứng dậy khỏi bàn. Một người phục vụ vội vã mang áo khoác của ông tới; một người khác cầm sẵn mũ của ông.

“Nhưng còn cô gái trẻ thì sao?” tôi hỏi.

“Ông thực sự muốn biết sao?” ông nói, cẩn thận cài khuy áo khoác lông. “Tôi thú nhận đã hơi ác ý khi gửi cho cô nhật ký của Sevrin. Cô đã lui vào ẩn dật; rồi cô đến Florence; rồi cô lui vào một tu viện. Tôi không thể nói cô sẽ đi đâu tiếp theo. Có hề gì chứ? Cử chỉ! Cử chỉ! Tuyền là những cử chỉ của tầng lớp cô ấy.”

Ông đội chiếc mũ cao bóng lên với sự chính xác tuyệt đối, và liếc nhanh quanh phòng, đầy những người ăn mặc đẹp, đang ngây thơ dùng bữa, lẩm bẩm giữa kẽ răng:

“Và không gì khác! Đó là lý do tại sao lũ đó bị định đoạt phải diệt vong.”

Tôi không bao giờ gặp lại Ngài X sau buổi tối đó. Tôi chuyển sang ăn tối ở câu lạc bộ của mình. Trong chuyến thăm Paris tiếp theo, tôi thấy người bạn mình đầy sốt ruột muốn nghe về ấn tượng mà món đồ hiếm trong bộ sưu tập của ông đã tạo ra cho tôi. Tôi kể cho ông nghe toàn bộ câu chuyện, và ông mỉm cười với tôi đầy tự hào về mẫu vật xuất chúng của mình.

“Chẳng phải X là một mối quen đáng đồng tiền bát gạo sao?” ông trào lên trong niềm vui sướng. “Ông ta là độc nhất, gây sửng sốt, hoàn toàn tuyệt vời.”

Sự nhiệt tình của ông làm tôi khó chịu. Tôi nói thẳng với ông rằng chủ nghĩa hoài nghi của người đàn ông đó đơn giản là đáng ghê tởm.

“Ồ, đáng ghê tởm! đáng ghê tởm!” người bạn tôi đồng ý, đầy nhiệt tình. “Và rồi, ông biết đấy, đôi khi ông ấy thích đùa giỡn những trò nho nhỏ,” ông ấy thêm vào bằng giọng thân mật.

Tôi không hiểu được mối liên hệ của nhận xét cuối cùng này. Tôi hoàn toàn không thể khám phá ra rằng trong tất cả chuyện này, trò đùa nằm ở đâu.

Bùi Gia Bin dịch

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công