favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Fearful Symmetry

22/12/2025 01:27

Northrop Frye không có bằng tiến sĩ nhưng lại dạy ở nhiều trường lớn và rất được kính trọng. Quyển sách mở đường cho Frye là Fearful Symmetry, một cuộc đọc William Blake, xuất bản khi Frye 35 tuổi. Đó là một cuộc đọc Lãng mạn; ở đó, văn chương được trả về cái nôi của nó: thần thoại, câu chuyện là thế giới và linh hứng được cứu khỏi mọi nhập nhằng mê tín. Đoạn dưới đây rút ra từ phần đầu Fearful Symmetry.   

 

The rising God

- Northrop Frye 

1.

Samuel Johnson từng cố gắng bác bỏ Berkeley bằng cách đá vào một hòn đá: khi làm vậy, ông chuyển tri nhận hòn đá của mình sang một cảm nhận khác, nhưng cảm giác của ông rằng hòn đá tồn tại độc lập với bàn chân mình vẫn trụ lại. Lập luận của Berkeley là có một thực tại vật tách rời tri nhận của chúng ta, và vì mọi thực tại đều mang tính tinh thần, nên thực tại ấy phải là một ý trong Chúa. Đối với Berkeley, Chúa và con người là hai thực thể khác nhau, và chuyển đổi đột ngột từ cái này sang cái kia để lại một khoảng trống ngay giữa tư tưởng của ông. Blake, bằng cách giả định một thế giới của tưởng tượng cao hơn thế giới của giác quan, chỉ ra một con đường khép lại khoảng trống ấy; và con đường đó được hoàn tất bằng việc đồng nhất Chúa với tưởng tượng của con người:

Con người là Toàn bộ Tưởng tượng. Chúa là Con người, tồn tại trong ta, và ta trong Ngài.

Thân thể Vĩnh cửu của Con người là Tưởng tượng, tức là Chúa… Điều đó hiện ra trong các Tạo tác Nghệ thuật. (Trong Vĩnh cửu, tất cả đều là Nhìn thấy.)

Con người, trong sáng tạo và trong tri nhận của mình, là Chúa, và Chúa là Con người. Chúa là Ngã vĩnh cửu, và việc phụng thờ Chúa là sự tự-thành-toàn. Điều này tháo gỡ ý trong chương trước về hai thế giới của tri nhận. Thế giới này là thế giới của kẻ tri nhận và cái được tri nhận, của chủ thể và đối tượng; còn thế giới của Tưởng tượng là thế giới của những kẻ sáng tạo và các tạo thể. Trong sáng tạo, nghệ sĩ biểu đạt sáng tạo của Chúa; và cũng như việc mọi con người đều được bao hàm trong Con người hay trong Chúa, mọi kẻ sáng tạo đều được bao hàm trong Đấng Sáng tạo.

Thuyết về Chúa này còn giải thích vì sao một người Nhìn thấy có thể được coi là bình thường chứ không phải dị thường, cho dù diện mạo của anh ta có thể hiếm gặp. Người tỉnh trí là bình thường không phải vì anh ta giống mọi người khác, mà vì anh ta vượt trội so với kẻ điên; người khỏe mạnh là bình thường vì anh ta vượt trội kẻ tàn tật. Nghĩa là, họ là chính họ trọn vẹn nhất. Người Nhìn thấy là bình thường tối thượng, bởi phần lớn những kẻ cùng thời với anh ta méo mó và què quặt, giống như kẻ tàn tật và kẻ điên. Dù từ quan điểm của họ anh ta là gì đi nữa, anh ta vẫn là con người hơn họ, và chính những thành tựu của anh ta khiến anh ta thực sự là “con người”, chứ không phải những thất bại hay yếu đuối của anh ta, như họ thường nói. Người Nhìn thấy biểu đạt khả thể trong mọi con người; và cũng như chỉ trong chính mình mà những người kia mới tìm Chúa, thì chỉ trong người Nhìn thấy họ mới có thể thấy Chúa được tìm thấy. Vì Tưởng tượng là sống, không ai sinh ra mà không có Tưởng tượng, ngoại trừ đứa trẻ chết lưu; nhưng những kẻ cố cắt xén Tưởng tượng của mình cũng đồng thời, chừng nào còn có thể, phủ nhận nhân tính của mình và thần tính của nhân tính ấy. Họ sẽ quay lưng lại với thiên tài, kẻ vừa thể động lớn lao vừa tri nhận lớn lao; nhưng họ vẫn giữ năng lực bước vào mối thân thuộc với anh ta:

Phụng thờ Chúa là: tôn vinh những ân sủng của Ngài nơi những con người khác, mỗi người theo thiên tài của mình, và yêu những con người vĩ đại nhất: những kẻ đố kỵ hay phỉ báng người vĩ đại là kẻ căm ghét Chúa; bởi không có Chúa nào khác trên đời.

Đồng nhất giữa Chúa và người được điều chỉnh bởi sự hiện diện, trong con người, khuynh hướng phủ nhận Chúa thông qua tự-hạn-chế. Dù Chúa là sự toàn thiện của con người, con người không hoàn toàn là Chúa; nếu không vậy thì việc đưa vào ý về Chúa sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Sự đa dạng vô hạn của con người không phải là một lập luận chống lại nhất thể của Chúa. “Loài người” hay “nhân loại” chỉ là những khái quát hóa; nhưng việc một hạt sồi chỉ sinh ra cây sồi cho thấy sự vị loài hay loại rõ ràng không kém cái cách nó phơi bày ngụy biện của cái cây khái quát hóa. Trong Blake, từ “hình thức” luôn luôn bao hàm nhất thể của loài, chẳng hạn:

            Cây sồi bị đốn bởi Rìu, Con Chiên gục ngã bởi Dao,
            Nhưng Hình thức của chúng, Vĩnh cửu Tồn tại mãi mãi.

Tương tự, Chúa không chỉ là genius (thiên tài) mà còn là genus (giống loài) của con người, là “Bản thể” từ đó các cá nhân hay “các Đồng nhất tính” (Identities) được nói tới trong ghi chú của Blake về Swedenborg mà sinh ra:

Bản thể không phải là Đồng nhất tính, nhưng từ Bản thể mà Đồng nhất tính phát sinh, và từ một Bản thể có thể phát sinh nhiều Đồng nhất tính…

Nếu Bản thể chẳng khác gì Đồng nhất tính thì chỉ có thể có một Đồng nhất tính duy nhất, điều đó là sai. Theo mô hình ấy, Thiên đường sẽ chỉ là một Cỗ máy Đồng hồ…

(Blake đang công kích điều mà ông cho là khuynh hướng phiếm thần luận nơi Swedenborg.) Cũng như việc đối tượng được tri nhận rút ra thực tại của mình không chỉ từ việc được tri nhận mà còn từ việc được nối với một Tưởng tượng hợp nhất, kẻ tri nhận cũng phải rút ra hình thức của mình từ việc được nối với tri nhận phổ quát của Chúa. Nếu Chúa là Đấng Sáng tạo duy nhất thì Ngài cũng là Đấng Tri nhận duy nhất. Trong mọi sáng tạo hay tri nhận, sáng tạo hay tri nhận ấy là phổ quát, còn đối tượng được tri nhận thì là cá biệt. Vậy là chúng ta đã gặp mặt đảo của nguyên tắc này: khi tri nhận mang tính duy-ngã (egocentric), thì đối tượng được tri nhận là chung. Do đó tồn tại hai phương thức tồn tại. Ngã chơi đùa với bóng, giống như những kẻ trong cái hang của Plato; còn tri nhận cái cá biệt và tưởng tượng cái thực là tri nhận và tưởng tượng như một phần của Thân thể Thiêng. Một bàn tay hay con mắt là cá biệt bởi vì nó là cơ quan của một thân thể; khi bị tách khỏi thân thể, nó mất đi mọi tính cá biệt ngoài phần chết và vô dụng. Đó là lý do vì sao Tưởng tượng tạo ra và lưu truyền, còn “ký ức” thì mắc trong vòng tròn và không tạo ra gì cả. Tri nhận phổ quát cái cá biệt là “hình ảnh thiêng” của Songs of Innocence; tri nhận ngã-tâm cái chung là “trừu tượng con người” của Songs of Experience. Đây chính là nền tảng cho lý thuyết thiện ác của Blake, mà chúng ta sẽ bàn tới trong chương ngay sau.

Từ đây rút ra hai hệ quả. Hệ quả thứ nhất: ta tri nhận như Chúa; ta không tri nhận Chúa. “Chưa từng có ai thấy Chúa bao giờ,” bởi vì tri nhận đích thực là sáng tạo, và Chúa thì không thể được tạo ra. Ta có thể nhìn thấy khía cạnh thiêng nơi những con người vĩ đại, và khi ta làm vậy thì cái thiêng trong ta cũng tự nhận ra mình. Hệ quả thứ hai là: bởi vì ta không thể tri nhận bất cứ điều gì cao hơn Con người, nên không có gì cao hơn Con người có thể tồn tại. Nghệ sĩ chứng thực điều này qua thực tế rằng anh ta chỉ có thể vẽ Chúa như một Con người, mặc dù nếu chỉ lặp lại những ý niệm già nua và lưỡng tính về Chúa thì anh ta sẽ vẽ một ông già suy nhược như một cử chỉ nịnh nọt những ý niệm ấy. Nhưng không có hình thức sống nào cao hơn hình thức sống của chính chúng ta; và việc chấp nhận Giêsu như sự toàn thiện đồng thời của cả Chúa lẫn Người kéo theo sự khước từ mọi thuộc tính của thần tính không mang tính người.

Con người không thể hình dung điều gì lớn hơn Con người, cũng như một cái cốc không thể chứa nhiều hơn dung lượng của nó. Nhưng Chúa là Con người, không phải vì Ngài được con người tri nhận như vậy, mà vì Ngài là Đấng sáng tạo con người.

Những kẻ được nuôi dưỡng trong các ý niệm trừu tượng sẽ bắt đầu bằng việc phủ nhận cả hai tiền đề này; vì thế, hãy xem thần học của họ đạt được những thành quả gì.

2.

Chúng ta đã trích dẫn Blake nói rằng ý niệm “tỷ lệ” không có nghĩa gì bên ngoài liên hệ với một vật cụ thể có tỷ lệ ấy. Các tỷ lệ của một vật thực là một phần “hình thức sống” của nó. Chúng ta chỉ có thể tách ý niệm về tỷ lệ ra khỏi thực tại thông qua cái mà ông gọi là “hình thức toán học”: tính đối xứng được khái quát hóa mà không quy chiếu tới các đối tượng được tri nhận. Ý về “hình thức toán học” này từ lâu đã giữ một tầm quan trọng đặc biệt đối với những kẻ lý luận trừu tượng cố gắng nắm bắt quyền năng sáng tạo của Chúa thông qua ý trừu tượng về sáng tạo, hay còn gọi là “thiết kế.”

Từ đó nảy sinh một ham muốn tin rằng một mô thức đơn giản hơn nào đó, có lẽ có thể biểu đạt bằng một công thức toán học, nằm bên dưới những rối rắm của vũ trụ chúng ta. Tôi nói là rối rắm, bởi lối tư duy này coi thế giới là bị làm cho rối rắm chứ không phải là phức hợp. Pythagoras khởi đi từ các mô thức của số học đơn giản; Timaeus tìm cách xác lập những dạng hình học được xem là vừa [fitting] nhất (chúng ta sẽ còn gặp lại từ này) để từ đó suy diễn mọi hiện tượng; và cùng với sự triển khai của vũ trụ Ptolemy, khuynh hướng ấy tỏa theo mọi hướng. Nhiều biểu hiện của nó, đặc biệt là những biểu hiện còn tồn tại đến nay, là huyền thuật, ít nhất là võ đoán. Nhưng sẽ rất không thỏa đáng nếu gọi toàn bộ khuynh hướng tạo lập các mẫu [pattern] đối xứng trong tư duy là huyền thuật, bởi huyền thuật chỉ là một bộ phận chuyên biệt của khuynh hướng ấy. Việc lập mẫu trải khắp triết học, từ Pythagoras đến thời Phục Hưng, như một giai đoạn trung gian giữa ma thuật và khoa học.

Chúng ta được bảo rằng ma thuật và khoa học có nhiều tương đồng về tâm lý; cả hai đều tìm cách can thiệp vào các luật tự nhiên vì mục đích con người. Và nếu khuynh hướng giải thích thế giới như một sự làm rối lên các công thức toán học đơn giản là một trung gian giữa ma thuật và khoa học, đồng thời gắn bó về mặt tâm lý với cả hai, ta hẳn sẽ kỳ vọng thái độ của Blake đối với nó cũng gần như giống hệt thái độ của ông đối với khoa học. Tóm lại, có thể nói rằng toàn bộ truyền thống Pythagoras trong tư duy, từ Timaeus cho đến thời chúng ta, không liên quan đến Blake, và chỉ xuất hiện nơi ông dưới dạng nhại. Ông đơn giản là không tin vào “Toán học huyền nhiệm của Thành phố Thiên đường.” “Các Thần Hy Lạp và Ai Cập là Sơ đồ Toán học, xem các tác phẩm của Plato,” ông nói. Nghe như bông đùa, nhưng đó là phê phán nghiêm trọng nhất của ông.

Cần phải nhấn mạnh điều này, bởi những kẻ theo huyền thuật thường bị Blake hấp dẫn, và phát biểu trên hẳn sẽ gây ngỡ ngàng cho bất cứ ai đã để ý tới vai trò của các số cardinal lặp đi lặp lại và các sơ đồ trong những lời tiên tri về sau. Nhưng các vật thực vốn có những nguyên tắc toán học nội tại, và một tác phẩm nghệ thuật, vốn là tổng hợp các vật thực, cũng mang những nguyên tắc toán học nội tại trong nhất thể của nó. Blake phân biệt nghệ thuật của “hình thức toán học”, như kiến trúc Hy Lạp, vốn phô bày khuynh hướng đối xứng khái quát hóa, và nghệ thuật của “hình thức sống”, như kiến trúc Gothic, nơi đối xứng được đặt đúng vào vị trí phụ thuộc của nó. Nhưng vòm và tháp Gothic cũng sẽ sớm sụp đổ nếu không có các nguyên tắc toán học. Sách Khải Huyền trong Kinh Thánh là một tác phẩm nghệ thuật Tưởng tượng và Thị kiến, và việc dùng số bảy làm biểu tượng không làm cho nó kém Tưởng tượng và Thị kiến. Sự lặp lại của con số này là một phần nhất thể bài thơ, chứ không phải nhằm chỉ ra khía cạnh bảy trong các vật nói chung. Tương tự, trong Blake, mọi con số và sơ đồ lặp lại đều phải được giải thích theo ngữ cảnh của chúng và liên hệ của chúng với các bài thơ, chứ không phải như dấu hiệu cho thấy nơi Blake bất kỳ sự thân cận nào với huyền nhiệm toán học.

3.

Nền tảng thơ của tư duy đối xứng đã trở nên tương đối rõ ràng với chúng ta, kể từ khi vũ trụ Copernicus thay thế vũ trụ Ptolemy. Nhưng hệ thống Copernicus cũng đã phát triển những phương thức mới để hình dung một Chúa phi-nhân-xưng và trừu tượng, những phương thức đối nghịch không kém với Blake; và vì đương thời hơn, chúng chịu phần chính đòn công kích của ông, đồng thời đặt nền tảng cho cách ông xử lý Newton. Quy mô mênh mông của vũ trụ Copernicus đã khiến nhiều linh hồn rụt rè cảm thấy rằng việc tạo ra nó hẳn phải được quy cho một Quyền lực phi-nhân-xưng, một quyền lực mà bản tính chỉ có thể được hiểu thông qua các ý của chúng ta về lực cơ học. Những kẻ theo Chúa kiểu ấy đích thực là “người định mệnh”: những con người của sức mạnh và mưu lược, hơn là của trí tuệ hay Tưởng tượng; và những ai không đủ may mắn để sở hữu cái sau thì tốt hơn hết là tránh xa ông ta, hay đúng hơn là nó, ra. Phải nói rằng những biểu hiện ấn tượng hơn của tôn giáo này xuất hiện muộn hơn Blake: khi, vào vị thần băng giá, thở bằng ê-te của hệ thống Copernicus, người ta thêm vào độ dài mênh mông của thời gian địa chất, nơi dường như không gì đặc biệt vui tươi từng xảy ra, thì những vị thần kiểu “Ý lực nội tại” trong Dynasts của Hardy đã được phát triển với một mức độ hung bạo vượt xa thời đại Blake. Tuy nhiên, Blake, khi tả nỗi kinh hoàng lạnh lẽo của Urizen - vị thần của không gian trống rỗng và ý lực mù lòa - đã cho thấy một cái nhìn tiên tri đáng kinh ngạc vào những thần học bị khủng long ám ấy.

Blake coi cách lý giải Chúa như “Ý lực nội tại” là mê tín. Dĩ nhiên, không phải vì ông tin hơn một Chúa hiền từ, một cha chú giải thích và xóa bỏ mọi đau khổ bất công vào Ngày Phán xét Cuối cùng, rồi chứng tỏ rằng từ đầu đến cuối mình chỉ có toàn những ý định tốt đẹp. Blake đồng ý với những ai chấp nhận cách giải thích ấy theo lối tiêu cực và cảm thấy rằng “sự phụng thờ đúng đắn nó là thách thức”. Ông đồng ý với họ trên cùng cơ sở khiến ông bất đồng với quan điểm về các ý trừu tượng của Locke. Locke bao gồm trong các phản xạ vô tình và tự động sự tiếp nhận thụ động các ấn tượng giác quan, điều mà, theo Blake, phải được coi là sản phẩm của một ý thức chủ động. Tương tự, sự phụng thờ “Ý lực nội tại” mở rộng hoạt động tiềm thức của nhịp đập trái tim từ một kinh nghiệm cảm giác đến toàn thể vũ trụ. Và ông làm điều đó theo cùng một tiến trình: tìm mẫu số chung tối hậu cho những nguyên tắc phổ quát. Một con người, một con chó và một cái cây đều sống; do đó, sống phải là nội tại và là một dạng “lực sống” nào đó chung cho cả ba, có lẽ chỉ có thể được xác định ở giới hạn thấp nhất có thể của sống, chẳng hạn tiền sinh chất. Nhưng vì khó có thể vạch ra ranh giới giữa các vật sống và các vật động, nên “Ý lực nội tại” có xu hướng chìm xuống bên dưới “lực sống” để thu nhận mọi hình thức chuyển động khác trong một sự khái quát bao trùm hơn.

Cũng như trong trường hợp trước, tốt hơn là đi theo chiều ngược lại. Một con người, một con chó và một cái cây đều sống; nhưng con người là sống nhất; và chính nơi con người mà ta phải tìm hình ảnh, hay hình thức, của cái sống phổ quát. Không thể có một “lực sống” nào tồn tại tách rời những vật mang nó: cái sống phổ quát là tổng thể các hữu thể sống, và Chúa có trí năng, đánh giá, mục đích và dục vọng bởi vì chúng ta đang sống và có trí năng, đánh giá, mục đích và dục vọng. Vũ trụ Darwin chỉ bổ sung sự chuyên chế của thời gian và ý lực vào sự chuyên chế của không gian và lý trí mà Blake đã biết, đồng thời gợi ra một năng lượng được khái quát hóa, trừu tượng khỏi hình thức, nhằm bổ trợ cho hình thức được khái quát hóa, trừu tượng khỏi năng lượng mà ta gặp trong quan niệm về bản thể của Locke. “Không Toàn năng nào có thể làm trái với trật tự,” Blake nói. Nếu Blake sinh muộn hơn một thế kỷ, hẳn ông sẽ lập tức đứng về phía Butler và Shaw, và khẳng định rằng những biến đổi trong một cơ thể hữu cơ được tạo ra bởi sự phát triển của “Tưởng tượng” của chính cơ thể ấy, và thuyết về kích thích môi trường trong thời gian đối với ông hẳn sẽ nằm trên cùng bình diện với thuyết của Locke về sự tri nhận giác quan không tự nguyện trong không gian.

Thực tế là Blake quả có sử dụng tính lì [persistence] của sự sống như một lập luận rằng sự nắm giữ của sống đối với thế giới không phải là mong manh. Sét có thể giết chết một con người, nhưng nó không thể sinh ra con người: sự sống chỉ có thể xuất phát từ sự sống và phải quy hồi trực tiếp về sáng tạo, điều này hàm ý tính ưu trội của năng lượng sáng tạo so với năng lượng hủy diệt. Những kẻ phụng thờ “Ý lực nội tại” nhìn thấy những hiệu ứng ấn tượng nhất của nó trong hủy diệt, cũng như trong sự mỉa mai và bi kịch mà nó gợi ra, nhưng những điều đó phải được đặt dưới quyền năng của sự ấp ủ. Chúng ta đã thấy rằng các từ “hình thức” và “hình ảnh” ở Blake có nghĩa là một loài tồn tại bền bỉ xuyên thời gian: “Cây sồi chết cũng như cây xà lách chết, nhưng Hình ảnh Vĩnh cửu và Tính cá thể của nó không bao giờ chết, mà tự đổi mới bằng hạt của nó.” Khi nói: “Mỗi vật là nhân của chính nó và là quả của chính nó,” Blake muốn chỉ ra rằng cái sống không được tạo ra bởi bất cứ điều gì bên ngoài nó, và rằng không có quan hệ nhân quả nào không thuộc về một tiến trình hữu cơ. Tai biến xảy ra, nhưng khi chúng xảy ra, chúng không phải là một phần của một sơ đồ siêu-con-người lớn hơn, mà là một phần của sự tan vỡ các sơ đồ con người, và “nghĩa” của chúng phụ thuộc vào chuyện tinh thần con người làm gì với chúng.

Blake quen thuộc với những biểu hiện sớm của việc phụng thờ lực sống trong nguyên thủy luận thế kỷ mười tám. Khuynh hướng này giả định một “tự nhiên” như thân thể của sự sống, từ đó con người phát sinh, đồng thời cũng tìm cách cắt xén Tưởng tượng con người bằng cách khẳng định rằng Tưởng tượng đã trở nên bệnh hoạn và ô nhiễm, chừng nào nó còn phát triển rời xa tự nhiên. Blake không có thiện cảm nào với hình tượng kẻ man rợ cao quý, cũng như sự sùng bái con người tự nhiên; ông không ưa Rousseau và đã dành cho cuộc công kích nhân vật này một vị trí nổi bật trong Jerusalem. Văn minh, theo hơn một nghĩa, là siêu-tự-nhiên: đó là thứ đã tiến hóa từ sự ưu trội của con người đối với tự nhiên, và biểu tượng trung tâm của Tưởng tượng trong toàn bộ tác phẩm của Blake là thành phố. “Ở đâu không có con người, ở đó tự nhiên là hoang phế,” ông nói. Trong mọi loài động vật, con người là kẻ thích nghi kém nhất với tự nhiên: chính vì thế mà con người vượt xa các loài vật khác, như chiến thắng tối thượng của Tưởng tượng, một Tưởng tượng đã phát triển và chinh phục, chứ không chỉ sống sót hay “uốn cho vừa” [fitted].

4.

Ta nhận ra rằng mình không thể hình dung bất cứ điều gì siêu-con-người theo hướng thiết kế hay quyền lực. Điều tương tự xảy ra khi ta cố hình dung một Chúa “hoàn hảo.” Hoàn hảo, nếu có nghĩa gì, thì chính là sự phát triển trọn vẹn của toàn bộ Tưởng tượng một con người. Đây chính là điều Giêsu muốn nói khi bảo: “Vậy hãy nên hoàn hảo.” Nhưng nhiều nhà trừu tượng rụt rè cảm thấy điều này là bất kính, và cho rằng sự hoàn hảo nằm ở mức độ hoàn tất của một phẩm tính trừu xuất khỏi một vật thực. Theo đó, Chúa được hình dung như “cái thiện thuần khiết.” Một Chúa như vậy không bao giờ có thể đã tạo ra Falstaff, kẻ mà đối với ông ta, Chúa sẽ thua kém rất xa. Nếu ý niệm về hoàn hảo “thuần khiết” này được đẩy thêm một chút, nó sẽ tan rã vào phủ định, như mọi ý niệm trừu tượng. Chúa là vô hạn, không thể dò xét, không thể hiểu thấu - toàn những từ phủ định; và sự hiệp thông phủ định với một điều gì không thể diễn tả được xem là mức phát triển cao nhất của nó. Quan điểm của Blake về chuyện này đã được đặt vào một trong những châm ngôn rực rỡ nhất của ông:

Chúa Hiển lộ & Chúa là Ánh sáng
            Với những linh hồn khốn khổ ngụ trong Đêm tối,
            Nhưng lại phô bày một Hình thức Con người
            Với kẻ sống trong Cõi ban ngày.

Là một ngụy biện cũ khi nói rằng Chúa không thể chuyển động, bởi chuyển động là thay đổi, và thay đổi sẽ làm suy giảm sự hoàn hảo của Ngài. Chừng nào đó còn được hiểu là hoàn hảo trừu tượng thì lập luận này không thể bị bác bỏ: một Chúa hoàn hảo theo nghĩa phủ định thì không phải là Đấng Sáng tạo.

Trong chương đầu Sáng thế ký, chúng ta đọc về một Chúa, hay các Chúa, được gọi là Elohim, một hình dung có thể điều hòa với Nguyên nhân Đệ nhất của triết học. Ngài là một Chúa của trật tự vô thức và tự động đến mức đã tạo ra mặt trời, mặt trăng và các vì sao chủ yếu để cung cấp một lịch nghi lễ cho Do Thái giáo, rồi nghỉ ngơi vào ngày Sabbath để thiết lập một luật nghi lễ. Sang chương kế tiếp, ta gặp một Chúa mang màu sắc dân gian tên là Jehovah: khó tính, hay quở trách, nóng nảy, nhưng nhân hậu: một vị thần ra lệnh cho những đứa con bất tuân của mình rời khỏi khu vườn, sau khi đã may quần áo cho chúng, nhấn chìm thế giới trong cơn giận rồi tái lập cư dân cho nó trong cơn hối hận. Một Chúa như thế còn nhiều điều phải học, nhưng đã gần hơn nhiều hình dung của Giêsu về một Người Cha so với Chúa kia, và vì thế chiếm một vị trí cao hơn tương ứng trong biểu tượng của Blake.

Ngay cả khi ta cố nghĩ về cái siêu-con-người theo các phạm trù trí năng và tưởng tượng, ta vẫn gặp khó khăn. Tồn tại là được tri nhận, và ta không tri nhận điều gì cao hơn con người. Một điểm chắc chắn có thể rút ra từ điều này là: ta không thể hình dung một tưởng tượng mang bản tính siêu-con-người, và những khi nào ta cố tưởng tượng cao hơn bản tính con người, ta luôn luôn tưởng tượng thấp hơn nó. Đã từng có người nói rằng châu chấu giống các vị thần ở chỗ chúng không có máu hay cảm giác. Những vị thần như thế thấp kém con người, giống như châu chấu thấp kém hơn con người. Chúng ta có thể tưởng tượng những con người làm những điều mà ta không thể: bay, tiết mồ hôi thay vì bài tiết thức ăn, giao tiếp bằng trực giác thay vì lời nói. Nhưng đó là khác biệt về thuộc tính chứ không phải về bản thể: một bản thể khác thì ta không thể tưởng tượng. Trong Blake, không có nhân vật nào vượt trội về mặt phẩm chất so với con người, theo cách mà con người vượt trội con cá. Không có “chuỗi hữu thể” trong Blake và không có dấu vết của bất kỳ thụ tạo nào do những kẻ tin vào chuỗi hữu thể bịa ra: không thần linh, không aeon, không phát lưu [emanation] (theo nghĩa Ngộ đạo; cách Blake dùng thuật ngữ này rất khác), không linh hồn-thế-giới, không các trí năng thiên thần bị trói vào guồng quay của tất yếu. Nếu có trí năng, thiên thần hẳn sẽ bước khỏi guồng quay ấy, như con người đã bước khỏi guồng quay của tự nhiên.

Điều này quan trọng ở chỗ soi sáng ý của Blake về linh hứng [inspiration]. Quả thật, Blake thường đưa ra những nhận xét hàm ý một tác nhân tinh thần bên ngoài. Chẳng hạn, ông nói về các bài thơ của mình như “được đọc cho chép” và gọi mình là “thư ký” của chúng. Nhưng thông thường, các thuật ngữ “thiên thần” hay “tinh thần” ở Blake, khi không được dùng theo nghĩa mỉa mai, có nghĩa là Tưởng tượng đang vận hành như linh hứng; và việc linh hứng thường tự mang lấy một mục đích riêng, dường như độc lập với ý chí, là điều quen thuộc với mọi nghệ sĩ sáng tạo. Blake nói, chẳng hạn: “Khuynh hướng chủ đạo của mỗi con người nên được gọi là Đức hạnh dẫn đường và Thiên thần tốt của người ấy.” Điều này cũng đúng với “sự đọc cho chép” trong thơ của ông:

“Khi những câu thơ này được đọc cho tôi chép lần đầu, tôi đã cho rằng một Nhịp Đơn điệu… là một phần tất yếu và không thể thiếu của Thơ. Nhưng chẳng bao lâu tôi nhận ra…”

Nếu linh hứng là điều gì đó ngoại tại đối với Blake thì ông sẽ không có sự lựa chọn nào trong chuyện ấy. “Tinh thần là những con người được tổ chức,” ông nói; và ông cũng sẽ đồng ý với Phaolô rằng “tinh thần của các ngôn sứ tùy thuộc vào chính các ngôn sứ.”

Tuy nhiên, tinh thần, vốn là con người đã được tổ chức, cũng có thể chính là tưởng tượng đã tự gỡ mình khỏi thế giới hiện tại, thông qua tiến trình mà ta gọi là chết. Tưởng tượng không thể tồn tại nếu không mang một hình thức thân thể, nhưng thân thể chỉ là điều mà những kẻ khác, ở cùng một bình diện tồn tại, nhìn thấy nơi linh linh hồn hay tinh thần. Vì thế, khi tưởng tượng thay đổi thế giới của nó, nó cũng có thể thay đổi hình thức thân thể một cách triệt để, giống như các loài cánh vảy - vốn đã gợi nên phần lớn những hình ảnh về bất tử. Kitô giáo luôn nhấn mạnh sự phục sinh của thân thể, mặc dù hai sự vị, rằng thân thể phục sinh là mang tính tinh thần, và rằng nó vẫn là một thân thể, rất khó để giữ đồng thời trong ý thức. Mọi niềm tin vào ma quỷ, bóng vía, hay bất cứ hình thức tinh thần nào được hình dung như kém hơn thân thể, đều là mê tín: không có animula vagula blandula trong Blake.

(còn nữa)

Anh Hoa dịch

 

Lãng mạn

Hoffmann, Kleist và La Motte-Fouqué

Sự sống của một con người đích thực phải là một biểu tượng thuần nhất

Lãng mạn Mỹ?

không Lãng mạn

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công