favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Xuân 2026
Next

The Canterbury Tales: The General Prologue

10/03/2026 10:27

The General Prologue

- Geoffrey Chaucer

   Khi Tháng Tư sa cơn mưa ngọt

Xuyên hạn tháng Ba thấu tận rễ sâu,

Tưới mạch nhựa bằng dòng linh thủy,

Nhờ ơn ấy muôn đóa nở hoa đầu;

Khi Zephyrus1 thổi làn hơi dịu

Sinh khí tràn nội cỏ rừng sâu

Chồi mới nhú, dương quang còn trẻ

Đã chạy nửa vòng cung Dương Cưu,

Bầy chim nhỏ đồng thanh tấu khúc,

Suốt đêm ngủ mắt vẫn mở to

Tự nhiên giục giã trong lòng

Bấy giờ ai nấy rộn rực hành hương,

Kẻ hương khách tìm phương trời lạ,

Đến chốn thánh tích tận miền xa,

Vốn lừng danh khắp sơn hà.

Và nhất là từ các quận hạt,

Trong nước Anh họ tìm về Canterbury,

Đặng cầu Thánh Tử Đạo phúc lành,

Đấng cứu giúp thuở họ đau ốm.

   Bấy giờ vào một ngày trong tiết ấy,

Tại Southwark2, nơi quán trọ Tabard tôi dừng,

Sẵn chí hướng lên đường hương du

Đến Canterbury với lòng thành kính,

Đêm ấy nơi quán trọ kia

Có độ hai mươi chín người cùng tụ họp

Tình cờ hội ngộ, từ đủ mọi hạng

Kết bạn đồng hành, thảy là khách hành hương

Cùng hướng về Canterbury mà cưỡi ngựa.

Chuồng ngựa và phòng thảy đều rộng rãi,

Chúng tôi được đãi rất mực chu toàn.

Chẳng bao lâu khi dương quang tắt,

Tôi cùng họ đàm đạo từng người

Liền được nhập vào đoàn đồng lữ,

Và giao ước sớm mai cùng thức dậy,

Đặng lên đường như sau tôi xin kể.

   Song dẫu vậy, thời gian còn thong thả,

Trước lúc câu chuyện này tiến xa hơn,

Tôi thiết nghĩ lẽ thường cũng phải,

Kể chư vị nghe mọi điều về họ,

Từng người một, như mắt tôi thấy,

Họ là ai, thuộc phẩm trật nào

Cùng y phục họ mặc ra sao;

Vậy trước tiên xin khởi từ một hiệp sĩ.

   Có một hiệp sĩ, bậc trượng phu xứng đáng,

Từ thuở đầu xuất kỵ chiến chinh

Đã yêu mến tấm lòng đạo hiệp,

Giữ trung tín, danh dự, hào sảng và lễ nghĩa.

Trong chiến trận phụng sự chúa công,

Ông thực đáng danh bậc hiển đạt,

Và chẳng ai từng kỵ mã xa hơn thế,

Dẫu miền dị giáo hay cõi Ki-tô,

Nơi nào cũng được tôn xưng bởi đức hạnh.

   Khi thành bị hạ tại Alisaundre, ông có mặt;

Ngồi ở hàng thượng tịch nhiều phen,

Vượt trên chư quốc tại Pruce;

Từng xuất chinh nơi Lettow và Ruce,

Trong hàng Ki-tô chẳng ai ngang hàng.

Ở Granada khi Algeciras bị vây hãm,

Ông cũng có mặt và từng kỵ mã ở Morocco;

Tại Ayas, tại Adalia,

Khi các thành ấy bị chiếm và trên Đại Hải,

Ông từng dự nhiều đoàn quân hiển hách.

Trong mười lăm trận tử chiến ông dự phần,

Vì đức tin tại Tlemcen mà xuất chinh;

Ba phen giao đấu nơi trường kiếm,

Quân địch phen nào cũng hàng thua.

Vị hiệp sĩ xứng đáng ấy còn từng

Một phen đi theo chúa Palatye

Chống lại quân dị giáo ở Turkey,

Và đâu đâu cũng được tiếng cao trọng.

Dẫu hiển đạt, song vẫn khôn ngoan,

Phong nghi nhu thuận tựa người thiếu nữ,

Một lời thô thiển cũng chưa từng buông.

Trọn đời mình với tất thảy con người,

Chẳng khi nào thốt lời bất kính.

Quả thực một hiệp sĩ thanh quý xứng danh.

Để kể về phục sức của ông,

Ngựa thì tốt, song ăn vận kém cầu kỳ,

Chiến bào vải thô khoác trên mình.

Do áo giáp xích mà thành lấm lem

Vì chỉ vừa mới hồi từ chiến địa,

Đã tức thì lên đường hành hương.

   Đi cùng ông là người con trai, một Squire3 trẻ tuổi,

Bậc thiếu niên thanh tân ưa tình ái,

Tóc xoăn thành lọn tựa hồ khuôn đúc,

Theo tôi ước chừng khoảng độ đôi mươi.

Vóc người vừa tầm thân hình cân xứng,

Lực khí sung mãn, linh hoạt phi thường

Đã từng dự phần vào cuộc chinh kỵ.

Ở Flanders, Artois cùng Picardy,

Chàng chinh chiến và trong quãng ngắn ngủi

Nhất mực giữ gìn lễ tiết phong nghi,

Chờ đợi người yêu ban cho ân sủng.

Y phục chàng thêu tựa cánh đồng xuân

Ngập hoa tươi, trắng đỏ chen cài.

Chàng ngân nga huýt sáo không mệt,

Phơi phới tựa tiết trời vào buổi tháng Năm.

Chiến bào ngắn, tay áo chàng dài rộng,

Kỵ mã vững vàng, uyển chuyển dáng ngồi.

Chàng biết làm thơ lại khéo soạn nhạc

Biết đấu thương, khiêu vũ, thư bút và họa tranh.

Chàng yêu si mê đến độ đêm về

Ngủ chẳng nhiều hơn sơn ca là mấy.

Bản tính lễ độ, khiêm nhu và sẵn lòng phụng sự,

Thường hầu trước bàn, xẻ thịt dâng cha.

   Hiệp sĩ, không một người hầu, chỉ đem theo Yeoman4,

Bởi ông ưa lối lên đường giản tiện,

Người kia khoác áo và đội mũ lục sắc.

Một bó tên óng ánh lông công,

Được chàng giắt cẩn trọng nơi đai cài

Chàng biết soạn khí cụ cho phải phép:

Lông vũ chẳng rũ xuống mũi tên,

Và trên tay chàng cầm cây cung lớn.

Tóc cắt gọn, khuôn mặt sạm đen.

Nghề rừng núi chàng rất bề tường tận.

Trên cánh tay đeo giáp hộ cổ tay;

Một bên hông mang kiếm và thuẫn nhỏ,

Còn bên kia giắt dao găm chói ngời,

Trang bị chu toàn, bén tựa đầu thương.

Tượng Thánh Christopher bằng bạc trưng trước ngực;

Lại đeo cả tù và cùng dây quai xanh;

Đó là một lâm hộ, quả thực tôi đã nghĩ.

   Lại có nữ tu bậc Bề Trên,

Nụ cười hiền hòa thật kín đáo

Lời thề uy nhất chỉ nhân danh Thánh Loy

Đức Bà Tầm Xuân là tên bà được gọi.

Rất thuần thạo mỗi lần xướng kinh lễ,

Ngâm nga giọng mũi nghe êm tai;

Tiếng Pháp của bà thanh tao, kiểu cách

Theo lối của trường Stratford-atte-Bowe5

Bởi tiếng Pháp Paris hẵng còn xa lạ.

Phép bàn tiệc bà quả tinh thông:

Chẳng để chút vụn rơi khỏi miệng,

Hay nhúng ngón tay quá sâu vào sốt chấm,

Dè dặt mỗi lúc đưa miếng nhỏ lên môi,

Chẳng để giọt nhỏ rớt xuống trang phục.

Niềm vui lớn nhất dồn cả vào phép tắc.

Bà thường lau môi trên kỳ sạch bong,

Để trong chén chẳng vương vệt mỡ,

Hay một tì vết nhỏ lúc uống xong.

Mỗi khi đưa tay lấy miếng ăn thật nhã,

Phong thái bà quả thực đoan trang,

Dung nghi bà ôn nhu  ấm áp;

Lại dốc lòng học cung cách triều môn,

Gắng giữ mình trang trọng cho nên vẻ,

Cốt được người đời trọng vọng tôn vinh.

Song nói về lòng từ tâm của bà,

Bà vốn giàu cảm thông và bác ái;

Lệ tuôn trào hễ nhìn thấy con chuột,

Dù rướm máu hay chết do sa bẫy.

Bà nuôi bên mình vài con chó nhỏ,

Cho chúng ăn thịt, bánh trắng, sữa tươi;

Bà rơi lệ nếu một con qua đời,

Hoặc bị kẻ xấu dùng gậy mà đuổi đánh.

Thảy do mẫn cảm và lòng dạ yếu mềm.

Bà xếp nếp khăn chùm thật tinh tươm;

Mũi thanh tú, màu mắt xám pha lam

Miệng tươi hồng, mềm mại và nhỏ nhắn.

Cùng vầng trán quả vô cùng thanh quang,

Khoảng một gang tay, tôi ước chừng;

Thân hình bà không thuộc hàng thấp bé.

Bà vận chiếc áo choàng cao sang;

Chuỗi san hô điểm xen ngọc lục tròn

Đeo nơi cánh tay mà từ đó buông thõng

Trâm vàng rực chói, khắc bên trên

Một chữ A đội miện trước tiên,

Phía dưới đề: “Amor vincit omnia6.”

   Sơ lại có một nữ tu theo hầu

Ấy là chấp sự thân cận, cùng linh mục là ba7.

   Có một đan sĩ8 rất nổi bật,

Thường ra ngoài, mê thú đi săn;

Nam tử tráng kiện, xứng tầm viện chủ.

Chuồng ngựa ông không thiếu loài ngựa quý;

Khi rong vó ai nấy đều nghe tiếng dây cương

Vang trong gió, âm thanh sống động

To như chuông nhà nguyện ông coi sóc.

Luật Thánh Maurus hay Thánh Benedict

Bởi đã cổ và có phần gắt gao,

Ông ấy để chuyện cũ trôi qua,

Mà thuận sống theo lối tân thời.

Ông chẳng coi lời ấy đáng sợi lông gà,

Rằng kẻ đi săn không đáng mặt thánh nhân;

Cũng không tin tu sĩ buông lỏng giới luật,

Chẳng khác nào cá mà không có nước,

(Tức là sư mà xa rời tịnh viện);

Ông coi lời răn không đáng một con hàu;

Và tôi nói ông quả là chí lý.

Cớ gì học hỏi đến mê muội,

Miệt mài bên sách nơi tu viện,

Hay nhọc nhằn lao động bằng tay chân;

Như Thánh Augustin, làm sao vận hành thế giới?

Xin Thánh Augustin giữ việc khó lại cho mình!

Vậy nên ông cưỡi ngựa rất điêu luyện;

Chó ông nuôi nhanh như chim trời.

Phóng vó ngựa và săn thỏ ngoài đồng,

Là điều ham mê nhất, vung tiền chẳng tiếc tay.

Cổ tay áo ông viền lông, theo tôi thấy

Lông sóc xám, tinh tuyển nhất xứ này.

Để cố định mũ trùm ngay dưới cằm,

Ông cài trâm vàng chế tác kỳ công

Nút thắt tình yêu9 xoắn ở phía đầu.

Đầu ông nhẵn thín, sáng bóng như gương;

Mặt cũng bóng loáng như vừa xức dầu.

Là một viện chủ phốp pháp hồng hào đang độ sung mãn;

Đôi mắt trong hốc tinh anh và linh hoạt nhảy nhót,

Sáng rực tựa lò lửa cháy dưới vạc nung.

Ủng da mềm, ngựa cưỡi thượng hạng:

Quả là bậc giáo trưởng phương phi!

Chẳng héo hon như hồn ma bị đày đọa.

Trong món quay, ông mê nhất ngỗng béo.

Ngựa ông cưỡi nâu sẫm như quả mọng.

   Lại có một thầy dòng khất thực10 phóng túng và vui tươi,

Được phân địa phận hành khất, phong thái rất nghiêm trang.

Trong bốn dòng khất sĩ11 chẳng ai bì kịp

Lời lẽ tài tình cùng niềm hăm hở xã giao.

Ông đã lo liệu không ít cuộc hôn phối

Cho các thiếu nữ trẻ, tự xuất hầu bao.

Trong hội dòng là trụ cột cao quý.

Giao hảo rộng khắp và rất mực được lòng

Các hào điền sung túc trong xứ sở,

Cùng các phụ nhân danh giá ở trong thành.

Bởi ông có quyền ban phép giải tội,

Như ông tự xưng, hơn cả cha xứ,

Vì là người được hội dòng chuẩn nhận.

Nghe xưng tội dịu dàng biết bao,

Và phép giải tội ông ban thật khoan hòa;

Ông hào phóng khi định hình phạt

Ở những nơi biết được nhận hậu lễ,

Vì khi rộng tay bố thí cho dòng nghèo

Là dấu hiệu đã giải tội xong.

Nếu có dâng của, ông cả quyết

Rằng người ấy đã biết ăn năn.

Ngoài kia lắm kẻ chai sần lòng dạ

Chẳng nhỏ giọt lệ dẫu đau khổ giày xéo tâm can.

Vậy nên thay vì khóc lóc cầu đảo,

Hãy đem tiền bố thí dòng bần khất.

Ông nhét đầy dao nhỏ nơi tà áo

Cùng ghim cài tặng các bà vợ xinh.

Giọng của ông quả thật êm ái,

Thạo ca xướng và gảy đàn dây,

Ngâm truyện vần, ông là hàng thượng thừa.

Cổ ông trắng hơn loài hoa huệ,

Cơ thể vạm vỡ tựa võ sĩ đấu trường.

Ông tỏ tường mọi quán rượu trong thị trấn

Cùng chủ quán và những cô hầu rượu

Hơn cả kẻ phong cùi hay phụ nữ ăn xin.

Vì đối với bậc trọng vọng như ông,

Theo chức phận mà ông nắm giữ,

Sao có thể giao du với phường phong lậu hủi cùi.

Chẳng quang minh, chẳng đặng sinh lời

Khi giao thiệp với hạng bần dân,

Chỉ thân thiết phú hộ và những kẻ buôn thực phẩm12.

Và, phàm nơi nào thấy nảy sinh lợi lộc,

Ông thật khiêm cung, nhún nhường khéo phụng sự.

Chẳng thấy đâu người đức hạnh cho bằng.

Trong hội dòng, bậc đệ nhất hành khất,

Nộp tiền tô để bao trọn địa bàn,

Chẳng huynh đệ nào dám bén mảng phân ranh.

Góa phụ nghèo không có lấy đôi hài,

In principio13 thốt ra thật êm ái,

Thế là được đồng kẽm trước lúc đi.

Lộc bố thí hậu hĩnh hơn phần bổng;

Ông phơi phới, cồ quẹt như cún

Những ngày hòa giải14 hết mức dốc công,

Bởi lúc ấy nào giống người khổ tu

Với áo bào sờn như học trò nghèo,

Mà uy nghiêm như bậc tông sư, giáo chủ.

Trong áo choàng ngắn dệt sợi đôi thượng hạng,

Căng phồng như chuông vừa mới đúc.

Đôi lúc nói ngọng ấy là vì lơi lả,

Cho tiếng Anh thêm ngọt khi thốt ra.

Trong tiếng đàn cầm, khi dứt khúc ca,

Đôi mắt sáng long lanh trong hốc,

Tựa tinh tú ngời sáng đêm sương lạnh

Huberd là tên bậc khất sĩ danh giá.

   Lại có gã khách thương với chòm râu chẻ,

Vận gấm ngũ sắc, ngất ngưởng lưng ngựa,

Mũ lông hải ly xứ Flanders đội đầu,

Ủng cài khóa gọn gàng tinh tươm.

Đàm luận điều gì cũng hết sức hùng hồn,

Luôn miệng nhắc chuyện bổng thu tăng tiến.

Gã mong hải hành được đảm bảo bằng mọi giá

Giữa hai bến Middelburgh và Orwell.

Gã sành nghề đổi chác những đồng khiên15.

Biết tận dụng trí khôn cho thật khéo

Không ai biết gã đang nợ nần,

Bởi phong thái gã đường hoàng biết bao.

Trong mọi áp phe và thủ thuật đổi chác,

Chính là bậc xứng danh hiển đạt.

Song thực lòng, tên gã tôi chẳng biết.

   Lại có một kẻ sĩ đất Oxford16 trong hội,

Sớm dấn mình vào nghiệp luận lý từ lâu.

Ngựa gầy trơ xương tựa cái cào,

Chủ cũng từa tựa, tôi dám chắc;

Diện mạo tiêu tao, dáng vẻ khiêm nhường.

Áo khoác sờn vai xơ xác chỉ,

Bởi bổng lộc giáo hội chưa tới phần

Lại chưa đủ thói đời đặng cầu một chức quan.

Thà rằng nơi đầu giường gối sách

Là hai mươi quyển đóng bìa đen hoặc đỏ,

Về Aristotle và triết học của ngài,

Còn hơn áo gấm, đàn cầm hay sáo thổi hào hoa.

Dẫu mang danh nhà triết học thông thái,

Trong rương anh chẳng có lấy phân vàng;

Vì có bao nhiêu vay mượn từ bằng hữu,

Đều dồn cả vào học vấn, kinh thư,

Rồi thành tâm cầu nguyện cho linh hồn

Những người đỡ đần tiền tầm sư.

Chuyện học hành là mối lo bậc nhất.

Chẳng buông nửa lời thừa khỏi môi,

Lời ngắn gọn, súc tích, thâm sâu,

Ngữ ngôn luôn thắm đượm đức luân thường,

Sẵn lòng học hỏi, hăm hở truyền giáo pháp.

   Lại có bậc Đại trạng sư17 thận trọng uyên bác,

Nơi hiên thánh18 thường ghé gót bàn luận,

Cũng là bậc đức hạnh vẹn toàn.

Kín kẽ nhường ấy, rất mực tôn nghiêm;

Lời lẽ khôn ngoan, nên nom là như vậy.

Án quan bao phen, kinh qua các phiên đình,

Nhờ chiếu chỉ cùng đặc quyền chuẩn nhận.

Bởi sở học cùng tiếng tăm lừng lẫy,

Nên bổng lộc, áo bào nhận không xiết.

Thâu tóm điền sản, chẳng ai bì kịp,

Đất đai qua tay, đều trở thành tư hữu.

Chẳng kẽ hở bẻ gãy được khế văn.

Thế gian không có ai bận bằng gã,

Thế mà gã dường bận hơn chính mình.

Gã nắm rõ mọi án lệ cùng phán quyết,

Kể từ thuở vua William19 lập quốc đến nay.

Lại thạo việc soạn thảo án văn và khế ước,

Chẳng ai bói ra được một lỗi mà bắt bẻ;

Mọi lề luật đều thuộc lòng như cháo chảy.

Gã cưỡi ngựa khoác áo gấm ngũ sắc,

Thắt đai lụa điểm sọc nhỏ li ti;

Tôi chẳng dông dài về phục sức gã thêm nữa.

   Đi cùng hội lại có gã Phú Hào20

Râu trắng phau như khóm cúc dại,

Da dẻ hồng hào, khí huyết sung mãn.

Bánh nhúng rượu là món khoái khẩu buổi sáng.

Sống đời hưởng lạc vốn thói thường,

Đích thị con dòng Epicurus,

Kẻ hằng tin rằng lạc thú trần gian,

Mới thực là cực lạc vẹn toàn.

Bậc chủ gia danh gia thế phiệt,

Xứ sở tôn gã làm Thánh Julian21.

Bánh và bia chẳng khi nào kém hạng,

Tàng rượu ngon nào mấy kẻ bì kịp.

Nhà chẳng thiếu những món nướng thơm lừng,

Đủ cá thịt, ê hề phong phú,

Tưởng như tuyết đổ toàn thức uống đồ ăn;

Mọi sơn hào hải vị đời mơ tưởng,

Tùy theo tiết mỗi độ trong năm,

Bữa sớm, tiệc chiều, gã đổi vị liên tục.

Chim đa đa béo múp nhốt đầy chuồng,

Cá măng, cá tráp trong ao quẫy vang.

Khốn cho tay đầu bếp của gã khi nước sốt

Chưa đủ cay nồng và khí cụ chưa sẵn sàng;

Nơi đại sảnh bàn ăn luôn bày sẵn22,

Trải khăn chờ đón khách suốt ngày dài.

Tại phiên đình gã giữ vai chủ tọa,

Bao phen là nghị viên đại diện vùng.

Một dao găm cùng túi lụa giắt bên hông,

Màu trắng muốt tựa dòng sữa sớm.

Từng làm quận trưởng, lại kiêm chức kiểm thuế,

Bậc hào phú quý hiển khó ai bì.

   Này ông Tạp hóa cùng với Thợ mộc,

Thợ dệt, thợ nhuộm và thợ dệt thảm hoa;

Thảy cùng khoác một sắc áo phường,

Thuộc hội đoàn nghiêm cẩn, bậc đại gia.

Đồ lề trau chuốt, vẻ mới tinh tươm;

Dao găm chẳng bịt đồng vàng tầm thường,

Mà thảy bằng bạc23, chạm trổ tinh vi,

Cả đai lưng lẫn túi tiền đều đồng màu.

Trông rõ mặt những thị dân hiển đạt,

Xứng đáng ngồi ghế cao nơi nghị sảnh.

Mỗi người, với trí tuệ sẵn trong mình,

Đều đủ tư cách làm bậc trưởng quan.

Bởi của cải ê hề, bổng lộc dư dả,

Mà các bà vợ cũng lấy bề đắc ý;

Chẳng thế thì quả thật đáng trách sao.

Thú gì bằng được gọi tiếng Phu nhân,

Dẫn đầu đoàn rước mỗi buổi nghi lễ,

Lại có kẻ nâng tà áo quý phái rồng bay24.

    Họ mang theo một gã Đầu bếp,

Chuyên ninh thịt gà với xương tủy béo thơm,

Gia vị cay nồng, riềng củ đậm đà.

Bia London nếm một ngụm đã biết.

Gã thạo nướng, luộc, chiên, xào các loại,

Ninh súp hầm, nướng bánh thơm ngon.

Đáng tiếc thay, đấy là tôi trộm nghĩ,

Ống chân gã, một vết loét đùn mủ tanh,

Bởi thế chẳng ai bì được món súp25 gã nấu.

   Lại có gã Thuyền trưởng tận miền Tây xa lắc;

Theo tôi biết, vốn người vùng Dartmouth.

Cưỡi ngựa thồ dáng điệu kém tự nhiên,

Khoác áo len thô dài quá gối đôi phần.

Dây thừng quàng cổ đeo con dao găm,

Thõng dưới nách, sẵn sàng lúc hữu sự.

Nắng hè thiêu đốt da màu đồng cháy;

Quả là kẻ hảo hán phi phàm.

Rượu Bordeaux, gã lén chắt bao phen,

Trong lúc chủ buôn còn đang say giấc nồng.

Chút lương tâm đẹp đẽ gã không buồn bận lòng.

Hễ xáp trận mà giành quyền sinh sát,

Gã tiễn khách hồi hương ngả nước trôi.

Về kỹ nghệ, gã tường minh con nước,

Thấu hải lưu, tỏ mọi hiểm nguy cùng.

Rành bến bãi, nguyệt độ, thuật đạo hàng,

Từ Hull tới tận Carthage, chẳng ai bằng.

Gã can trường, lão luyện mọi phen nguy;

Râu đã bạc qua bao mùa bão nổi.

Mọi bến cảng, gã nằm lòng rành rẽ,

 Từ Gotland đến mũi Finisterre,

Mọi lạch lách vùng Tây Ban Nha, Brittany.

Thuyền của gã mang danh hiệu Magdalen.

   Đi cùng đoàn còn có viên Đốc-tờ y lý,

Khắp thế gian chẳng kẻ nào sánh ngang hàng.

Chuyện mổ xẻ, thuốc thang ông bàn kỹ,

Bởi thiên văn, tinh tượng vốn thông thạo.

Ông cẩn trọng canh bệnh nhân từng chút,

Đợi giờ lành, dùng đạo thuật tự nhiên.

Cung Mọc kia, ông tính chuẩn cung tiền,

Để đúc bùa giúp bệnh nhân thuyên giảm.

Mọi căn bệnh ông đều tường tận gốc,

Dẫu Nóng, Lạnh, Ẩm, hay Khô

Nảy sinh từ đâu, do dịch thể nào;

Quả bậc danh y, y lý bậc thầy,

Thấu rõ căn nguyên ngọn ngành bệnh lý,

Phương thuốc bốc sẵn cứu kẻ ốm đau.

Cánh thợ thuốc thường túc trực sẵn,

Cung phụng đủ thứ cao đơn tửu dược,

Kẻ tung người hứng, tiền bạc vào ra

Mối thâm tình này vốn đã lâu bền.

Ông thuộc làu sử xanh Aesculapius,

Cả Deyscorides và Rufus chẳng sai,

Hypocrat cổ, Haly cùng Galyen,

Rồi Serapion, Rhazes và Avycen,

Thêm Averroes, Damascien, Constantine,

Lẫn Bernard, Gaddesden tới Gilbertus.

Chuyện ăn uống ông giữ phần chừng mực,

Chẳng sa đà hay quá mức xa hoa.

Dùng đồ bổ, dễ tiêu, nuôi thân xác,

Riêng Kinh Thánh, ông chẳng mấy quan tâm,

Khoác áo đỏ và xanh lơ rực rỡ,

Lót lụa, dệt gấm, sang quý từng thớ vải,

Nhưng trong chi tiêu dè sẻn từng đồng.

Tiền kiếm thời dịch, ông giữ rịt vào trong.

Bởi vàng lỏng là linh đơn bổ cốt26,

Nên ông yêu vàng, tột cùng mến yêu.

   Vùng Bath có bậc phu nhân nức tiếng,

Tai hơi nghễnh, thật đáng tiếc làm sao!

Nghề dệt vải, tay nghề bà tuyệt kĩ,

Vượt xa đám thợ xứ Ypres và Ghent27.

Khắp xứ đạo, chẳng phu nhân nào dám,

Lấn bước bà lên cung hiến lễ đầu.

Kẻ nào dám, bà nổi cơn lôi đình,

Lòng bác ấy liền tan thành mây khói.

Khăn trùm đầu, sợi dệt mịn tinh khôi,

Tôi dám thề, nặng mười cân chẳng ít,

Mỗi Chúa nhật, bà đội lên khít khịt.

Tất đỏ thắm, dệt từ sợi len mịn,

Giày mới mềm thắt dải rất chỉn chu.

Mặt tươi rói, đỏ au đầy táo bạo.

Bậc nữ lưu danh giá suốt cuộc đời:

Năm đời chồng, cưới cửa giáo đường linh28,

Chưa kể thuở xuân xanh bao thâm tình,

Những chuyện này khoan đã hãy bàn tới.

Bà từng ghé  Jerusalem ba dịp,

Vượt bao biển lạ, bao con nước.

Dấu chân đã in lên Rome, Boulogne,

Galicia, Seint-Jame, Cologne cũng từng đến.

Chuyện đường xa bà am tường tất tật,

Hàm răng thưa, thực tình là như thế.

Ngồi ung dung trên ngựa phi nước kiệu,

Khăn quấn gọn gàng, mũ đội trên đầu,

Rộng tựa như khiên như thuẫn che đầu.

Váy rộng phủ mông, cặp hông nảy nở,

Gót chân mang theo đôi thúc nhọn hoắt.

Giữa đám người bà nói cười say sưa,

Thuốc trị tình yêu bà nắm thừa bí quyết,

Bởi điệu nhảy xưa29 bà đã quá thuần thạo.

   Có một bậc chân tu, đức độ vẹn toàn,

Một mục sư nghèo, coi sóc thị trấn nhỏ,

Dù thanh bạch nhưng giàu thiện tâm và công hạnh.

Cũng là bậc trí giả, học giả tinh thông,

Giảng truyền Phúc Âm một lòng chân thực,

Tận tụy dắt dìu giáo dân mộ đạo.

Lòng nhân từ đức cần mẫn xiết bao,

Gặp cảnh gian nan, nhẫn nại chẳng nao.

Đức tính ấy bao phen đà chứng thực.

Chẳng nỡ phạt răn vì nợ thuế mười,

Chỉ muốn cảm thông, không màng nghi ngại,

Vì những giáo dân nghèo khó quanh vùng,

Trích cả tiền dâng, lẫn tài sản riêng.

Vẫn thấy đủ đầy dù ít ỏi vật chất.

Xứ đạo rộng thênh, nhà cửa thưa thớt,

Nhưng chẳng quản ngại, dù mưa to sấm rền,

Lúc ốm đau hay khốn khó vẫn ghé thăm

Tới tận nẻo xa, dù kẻ hèn hay bậc quý,

Đi bộ bằng chân, tay cầm một cây gậy.

Làm gương sáng chói cho bầy con chiên,

Rằng trước khi dạy bảo, chính mình đã thực hành.

Từ trang Phúc Âm, ông chắt lọc lời hay,

Lại mượn thêm hình ảnh ví von:

Vàng mà đã gỉ, sắt làm sao giữ?

Nếu vị linh mục được tín nhiệm hóa suy đồi

Chẳng lạ khi kẻ phàm phu đổ đốn theo;

Thật nhục nhã thay nếu linh mục soi xét:

Kẻ chăn chiên vấy bẩn bên bầy chiên trong sạch.

Phận linh mục phải nêu gương đức độ,

Lấy nết thanh cao, chỉ lối sống cho bầy.

Chẳng đem bổng lộc chức vị cho thuê,

Bỏ mặc bầy chiên lún sâu bùn lầy,

Hay đến London, tới nhà thờ Thánh Paul,

Tìm chân cầu hồn nơi nhà nguyện tư,

Hoặc nhận việc bao thầu cho các phường hội;

Ông ở lại quê giữ gìn bầy chiên nhỏ,

Chẳng để sói rừng làm bầy tan tác;

Ông là mục tử, không phải kẻ chăn thuê.

Dù bản thân vẹn toàn đạo hạnh,

Với kẻ tội lỗi chẳng khinh khi,

Chẳng lời áp đặt hay lên giọng kiêu kỳ,

Mà khuyên răn bằng tình thương bác ái.

Dắt dìu giáo dân về cõi thiên bằng lòng nhân từ,

Lấy gương sáng làm sự nghiệp suốt đời.

Song nếu gặp kẻ cứng đầu cố chấp,

Bất kể hạng người dù hèn hay sang,

Ông sẽ khiến trách thẳng thừng ngay lúc đó,

Chẳng nơi nào có bậc mục sư tốt hơn.

Không đợi rước đưa hay lễ nghi hào nhoáng,

Hay vẽ vời một lương tâm giả tạo,

Lời của Chúa và lời của mười hai Tông đồ,

Ông truyền dạy, song tự bước đầu tiên.

   Đi cùng ông là người em ruột, một thợ cày,

Từng thồ biết bao xe phân bón nhọc công;

Một người làm thuê chân chính, thiện lương,

Sống đời an lạc, giàu lòng nhân đức.

Tôn kính Chúa bằng trọn con tim mình,

Mọi nơi mọi lúc dù vui sướng hay khổ đau,

Và thương kẻ lân cận như thương chính mình.

Anh biết đập lúa, đào mương, cuốc đất.

Vì lòng kính Chúa, giúp những kẻ khó nghèo,

Chẳng lấy tiền công nếu việc vừa tầm sức.

Nộp thuế mười sòng phẳng và đầy đủ.

Cả từ công lao động lẫn của cải riêng.

Anh mặc áo chẽn thô cưỡi trên con ngựa cái.

   Lại có gã Cai điền, cùng một tay Xay bột,

Viên Đòi án giáo hội, gã Xá tội đồng hành,

Quản sự viện luật, và tôi - đoàn chỉ bấy nhiêu người.

   Gã Xay bột quả là tay thô kệch, vạm vỡ;

Bắp thịt từng thớ, xương cốt chắc nịch.

Chẳng đâu bằng gã, sức mạnh đã chứng bày,

Hễ đấu vật là rinh giải cừu đực ngay.

Vai ngắn, người ngang, một khối thịt vững chãi;

Chẳng cánh cửa nào gã không nhấc bổng bản lề,

Hay chỉ một cú húc là vỡ vụn nát tan.

Bộ râu đỏ rực như lông cáo hay lông heo nái,

Lại bè ra như lưỡi xẻng thô kệch.

Ngay trên chóp mũi gã nằm chình ình

Nốt mụn cóc mọc chùm lông tua tủa,

Đỏ như lông cứng trên tai heo nái;

Lỗ mũi gã đen ngòm và nở rộng.

Hông đeo thanh kiếm cùng khiên tròn.

Cái mồm rộng hoác như một lò nung.

Hắn là kẻ dông dài chuyên nói chuyện tào lao,

Toàn những chuyện tội lỗi, dâm ô và tục tĩu

Rành thói ăn bớt ngô và thu phí gấp ba;

Ấy vậy hắn lại có ngón tay cái bằng vàng30, thật đấy.

Gã vận chiếc áo khoác trắng và đội mũ trùm xanh.

Gã biết thổi kèn túi rất vang và điệu nghệ,

Và bằng tiếng kèn ấy, gã dẫn cả đoàn ra khỏi thị thành.

   Cũng có gã Quản sự hào hiệp của một viện luật,

Kẻ mà mọi người thu mua nên lấy đó làm gương

Để biết cách khôn ngoan khi sắm sửa nhu yếu phẩm;

Dù trả tiền mặt hay ghi sổ nợ,

Gã luôn canh chừng sát sao mỗi lần mua

Để bản thân dẫn đầu và ở thế thượng phong.

Chẳng phải là ân điển tuyệt vời của Chúa sao

Khi trí khôn của một kẻ mù chữ lại vượt xa

Sự thông thái của cả nhóm người có ăn học?

Gã phục vụ hơn ba mươi vị thầy trong viện luật,

Những bậc thầy về luật pháp, uyên bác và tinh thông,

Trong số đó có hàng tá người ở tòa nhà ấy

Xứng đáng làm quan cai quản điền sản và thuế  tô

Cho bất kỳ vị lãnh chúa nào khắp nước Anh,

Để giúp ông ta sống bằng tài sản riêng mình

Trong danh dự, không nợ nần (trừ phi ông ta hóa dại),

Hay sống cần kiệm theo đúng ý nguyện mình;

Và họ đủ sức giúp đỡ cả một giáo hạt

Trong mọi biến cố hay tình huống khó khăn.

Vậy mà gã Quản sự lại xỏ mũi được tất tật.

   Gã Cai điền gầy gò, một kẻ nóng nảy, cộc cằn;

Râu gã cạo sát lẹm, nhẵn nhụi hết mức;

Tóc cắt ôm sát tận mang tai;

Phía trước đỉnh đầu hớt ngắn như như linh mục.

Đôi chân gã dài ngoằng và khẳng khiu,

Như hai cái que chẳng thấy chút bắp thịt.

Gã rất sành việc quản lý kho vựa và bẫy rập;

Chẳng tay thanh tra nào bắt bẻ được việc gã.

Gã nhìn trời hạn, trông đất mưa mà đoán định

Năng suất của hạt giống và sản lượng mùa màng.

Cừu, bò, đàn bò sữa của lãnh chúa,

Lợn, ngựa, gia súc cùng bầy gia cầm

Thảy đều dưới quyền cai quản của gã;

Gã ký giao kèo quyết toán sổ sách sòng phẳng,

Kể từ khi lãnh chúa mới tròn hai mươi.

Chẳng ai bắt quả tang được gã nợ hay thiếu.

Từ quản lý, mục đồng đến kẻ làm thuê,

Chẳng ai có chiêu trò hay mánh khóe lọt mắt hắn;

Họ khiếp gã như khiếp dịch bệnh, cái chết.

Cơ ngơi gã nằm rất khéo trên gò hoang,

Rợp bóng cây xanh, mát rượi cả một vùng.

Gã giỏi tậu đất đai hơn lãnh chúa của mình.

Gã lẳng lặng tích trữ của cải mà giàu có.

Gã thừa khôn khéo để lấy lòng lãnh chúa,

Lấy chính của cải ông ta để đem tặng, đem vay,

Để được tạ ơn, lại còn được ban áo khoác và mũ trùm.

Thời trẻ gã đã học được một nghề tinh xảo:

Gã vốn là tay thợ mộc rất lành nghề.

Gã Cai điền này cưỡi con ngựa khá tốt,

Ngựa xám lốm đốm, Scot là tên gọi.

Gã vận chiếc áo khoác xanh thẫm dài thượt,

Và bên hông đeo một thanh kiếm gỉ.

Gã Cai điền tôi kể vốn là người vùng Norfolk,

Gần một thị trấn mà người ta gọi là Bawdeswell.

Áo gã xắn cao và thắt đai như tu sĩ,

Gã luôn cưỡi ngựa ở vị trí cuối đoàn.

   Cùng đi với chúng tôi còn có viên Đòi án,

Gương mặt đỏ rực như gương mặt thiên thần,

Bởi bệnh chốc lở cùng đôi mắt sưng ti hí.

Hừng hực dục vọng và dâm đãng như chim sẻ,

Với đôi mày đen đầy vảy nến và bộ râu rụng lổm chổm.

Trẻ con nhìn thấy mặt gã đều khiếp.

Chẳng có thủy ngân, bột chì, hay lưu huỳnh,

Hàn sa, chì trắng, hay dầu tartre,

Cũng không thuốc mỡ nào tẩy sạch hay ăn mòn,

Giúp được gã chữa khỏi mụn mủ trắng,

Hay những cục u sần sùi ốp trên má.

Gã cực kỳ mê tỏi, hành tây và hành tăm,

Lại thích uống vang mạnh, đỏ tươi như máu;

Khi ấy gã sẽ nói cười và gào rú lên như rồ.

Và khi đã ngấm men rượu say túy lúy,

Gã sẽ chẳng thốt ra từ nào ngoài tiếng La-tinh.

Gã có dắt lưng vài thuật ngữ, chừng hai hay ba câu,

Mà gã học lỏm từ một sắc lệnh nào

Cũng chẳng lạ vì gã nghe chúng suốt ngày;

Và quý vị cũng thừa biết loài chim giẻ cùi

Có thể vẹt lại tên “Walter” giỏi chẳng kém Đức Giáo hoàng31.

Nhưng nếu ai thử gạn hỏi gã sang chuyện khác,

Gã sẽ lập tức cạn sạch vốn liếng ngay;

Và luôn mồm gào: Vấn đề là, luật pháp nào quy định?

Gã là một tên khốn hào hiệp và tử tế;

Chẳng tìm đâu ra một bạn đường tốt hơn.

Chỉ cần đổi một bình rượu vang gã sẽ 

Mặc gã nhân tình chung đụng một nàng hầu

Suốt mười hai tháng trời rồi bao che cho sạch tội;

Gã cũng lén lút thực hiện những trò gian dâm vụng trộm.

Và nếu gã bắt gặp một tay bạn tốt nào ở đâu,

Sẽ dạy bạn đừng khởi chút mảy may lo sợ

Trước lời nguyền rủa hay án thông tri của vị Tổng phó tế,

Trừ phi linh hồn của kẻ đó nằm trong túi tiền;

Vì gã bảo kẻ đó sẽ bị trừng phạt ngay tại túi tiền của mình.

“Túi tiền chính là địa ngục của Tổng phó tế,” gã nói.

Nhưng tôi biết thừa gã nói dối trắng trợn;

Mọi kẻ có tội đều nên sợ hãi án thông tri,

Vì lời nguyền rủa sẽ giết chết linh hồn như sự xá tội cứu rỗi họ,

Và cũng hãy coi chừng lệnh bắt giữ Significavit32.

Gã nắm giữ trong tay tùy ý gã điều khiển,

Những nam thanh nữ tú khắp giáo phận,

Gã biết rõ bí mật từng người và dẫn dắt tất cả.

Gã đội một vòng hoa lớn trên đầu,

To bằng biển hiệu trước quán rượu.

Gã còn tự chế một chiếc khiên bằng ổ bánh lớn.

   Cùng đi với gã là viên Xá tội hào hiệp,

Đến từ Rouncivale, một cặp bài trùng thiết thân,

Kẻ vừa từ tòa thánh Rome trở về thẳng đường.

Gã oang oang hát: “Lại đây với ta, hỡi tình yêu!”

Viên Đòi án họa theo bằng giọng trầm hùng hổ;

Chẳng tiếng kèn nào vang động bằng một nửa âm thanh ấy.

Mái tóc gã vàng óng như sáp ong,

Mượt mà rũ xuống tựa sợi lanh một mớ;

Những lọn tóc thưa thớt xõa từng mảng,

Phủ lên đôi vai rộng của gã;

Chúng mỏng manh rủ xuống từng sợi một.

Vì muốn làm dáng, gã chẳng thèm trùm mũ,

Hắn tống nó vào trong túi dặm đường.

Gã ngỡ mình đang cưỡi ngựa theo mốt thời thượng nhất;

Đầu trần xõa tóc, chỉ đội độc mũ ca-lô.

Đôi mắt lồi, hau háu như mắt thỏ.

Một huy hiệu Thánh Veronica được khâu ngay trên mũ.

Chiếc túi dặm đường đặt trên đùi, ngay trước mặt,

Đựng đầy bùa xá tội từ Rome vừa xuất xưởng.

Giọng gã thanh và mỏng như giọng dê.

Gã không có râu và cũng chẳng bao giờ mọc nổi;

Mặt gã nhẵn thín như vừa mới cạo.

Tôi đồ rằng gã là một con ngựa thiến, hoặc một con ngựa cái33.

Nhưng bàn về ngón nghề, từ Berwick cho đến Ware

Chẳng tìm đâu ra viên Xá tội thứ hai như gã.

Trong túi gã đựng chiếc vỏ gối thô,

Mà gã rêu rao là tấm khăn trùm của Đức Mẹ;

Gã bảo mình có một mảnh buồm cũ kỹ

Của Thánh Peter, từ dạo ngài còn dong buồm

Trên biển cả, cho đến khi được Chúa Giê-su thu nhận.

Gã có một cây thập tự bằng đồng thau nạm đá vụn,

Và trong chiếc lọ thủy tinh gã đựng đầy xương lợn.

Nhưng với những thánh tích ấy hễ khi nào gã gặp

Một vị mục sư nghèo ở tận vùng quê hẻo,

Chỉ trong một ngày gã đã vơ vét rất nhiều tiền

Hơn cả vị mục sư kiếm được trong hai tháng trời;

Và thế là bằng trò nịnh hót và bịp bợm,

Gã biến vị mục sư và giáo dân thành những con khỉ ngu ngơ.

Nhưng để nói cho thật lòng sau tất thảy,

Trong thánh đường gã là vị chức sắc thanh cao.

Gã rất rành cách đọc một bài kinh hay kể một câu chuyện thánh,

Nhưng xuất sắc nhất phải là lúc hát dâng lễ;

Vì gã thừa biết khi lời hát vang lên,

Gã sẽ phải thuyết giáo và mài giũa lưỡi cho thật khéo

Đặng thu về những đồng bạc trắng như gã vốn rất rành;

Thế nên tiếng hát ngày một vang và hớn hở.

   Giờ đây tôi đã kể cho quý vị chân thực và ngắn gọn,

Về địa vị, y phục, số lượng và cả nguyên cớ

Tại sao nhóm này lại tụ về đây

Tại Southwark, trong quán trọ khang trang này

Có tên là Tabard, nằm sát bên quán Bell.

Nhưng giờ là lúc để tôi kể cho quý vị

Cách chúng tôi đã cư xử đêm hôm ấy,

Khi chúng tôi nghỉ chân ở quán trọ;

Sau đó sẽ thuật lại hành trình của chúng ta

Cùng phần còn lại của chuyến hành hương này.

Nhưng trước hết, xin quý vị hãy rộng lòng,

Đừng quy kết tôi là kẻ bất nhã,

Nếu tôi nói năng quá trần trụi về chuyện này,

Để thuật lại lời lẽ và cung cách họ,

Hoặc khi dùng nguyên văn từ ngữ họ.

Bởi quý vị hẳn hiểu rõ như tôi:

Bất kỳ ai thuật lại câu chuyện của kẻ khác,

Phải thuật lại sát sao nhất trong khả năng mình

Từng câu từng chữ, nếu điều đó nằm trong quyền hạn,

Dẫu nói năng thô lậu và phóng túng đến đâu,

Nếu không, gã sẽ thuật câu chuyện sai sự thật,

Hoặc thêu dệt chuyện, hoặc nhét vào từ ngữ mới.

Gã không được né tránh, dù kẻ đó là anh em ruột;

Gã phải thuật lại từ này cũng như từ kia.

Chính Chúa cũng phán rất trần trụi trong Kinh Thánh,

Và quý vị hiểu đấy không phải thô lỗ.

Plato cũng nói hễ ai đọc được ông,

Rằng lời nói là họ hàng với hành động.

Tôi cũng xin quý vị hãy lượng thứ,

Nếu tôi không xếp mọi người đúng phẩm hàm

Trong câu chuyện này, như vị thế họ vốn đứng.

Trí tuệ tôi nông cạn, hẳn quý vị thừa hiểu.

   Chủ quán tiếp đãi từng người thật nồng hậu,

Và lập tức xếp cả đoàn vào bàn tiệc tối.

Ông dâng lên những thức ngon vật lạ;

Rượu vang mạnh và chúng tôi uống say sưa.

Chủ quán quả là người đàn ông đường bệ,

Xứng đáng làm quản gia điều phối một đại sảnh.

Ông vạm vỡ với đôi mắt sáng quắc

Chẳng tìm đâu ra một thị dân cừ hơn ở khu Cheapside

Lời lẽ bạo dạn, khôn ngoan và được giáo dưỡng kỹ,

Chẳng thiếu phẩm chất nào của bậc nam nhi.

Và hơn thế lại là người rất niềm nở;

Sau bữa tối, ông bắt đầu khuấy động không khí,

Ông nói những chuyện hân hoan cùng nhiều điều khác,

Khi mọi khoản tiền được thanh thỏa xong xuôi,

Ông nói thế này: “Này các quý ngài, thật lòng mà nói,

Tôi hết sức chân thành chào đón mọi người ở đây;

Bởi lẽ tôi thề bằng danh dự, không dám dối trá,

Suốt cả năm nay tôi chưa thấy đoàn khách nào vui vẻ

Cùng lúc tụ họp tại quán trọ như lúc này.

Tôi rất muốn làm quý vị vui lòng, nếu tôi biết cách.

Và ngay bây giờ tôi vừa nghĩ ra một trò,

Mang lại khoái chí lại chẳng tốn đồng xu.

   Chư vị lên đường tới Canterbury - nguyện Chúa hộ trì,

Cầu vị thánh tử đạo hiển linh ban phúc báo cho lòng thành chư vị!

Và tôi biết khi đồng hành trên dặm dài thiên lý,

Chư vị tất sẽ định bụng kể chuyện và vui vầy để giải khuây;

Bởi thực tình chẳng có chút hân hoan hay thư thái

Nếu cứ rong ruổi ngựa mà câm lặng như đá;

Thế nên tôi muốn bày ra trò tiêu khiển,

Như tôi đã nói lúc trước, để mang lại niềm vui.

Và nếu chư vị đồng lòng nhất trí

Chấp thuận sự phán định và điều hành của tôi,

Cũng như làm theo những gì tôi sẽ bảo,

Vào ngày mai, khi chúng ta cùng ruổi ngựa dặm dài,

Thì đây, nhân danh linh hồn người cha quá cố của tôi,

Nếu chư vị không thấy vui, tôi xin dâng cái đầu này làm lễ!

Hãy giơ tay lên biểu quyết, không cần bàn cãi thêm.”

   Chẳng lâu la chúng tôi liền đồng lòng nhất trí.

Thấy chẳng đáng phải tỏ vẻ uyên thâm hay lưỡng lự,

Nên chấp thuận lời ông mà không cần bàn bạc,

Và mời ông tùy ý đưa phán quyết sau cùng.

“Thưa chư vị,” ông nói, “giờ hãy nghe điều tốt nhất;

Nhưng khẩn cầu chư vị chớ khinh rẻ lời tôi.

Đây là mấu chốt, tôi xin nói thật vắn tắt,

Rằng để rút ngắn dặm dài hành trình của chúng ta,

Trên chuyến đi này, mỗi người sẽ kể hai câu chuyện

Hướng về Canterbury, ý tôi muốn nói là như thế,

Và trên đường trở về, người ấy lại kể tiếp hai chuyện nữa,

Về những chuyến phiêu lưu đã xảy ra từ thuở xưa.

Và ai trong chư vị là người thể hiện xuất sắc hơn cả

Tức là trong cuộc vui này, người nào kể được

Những chuyện giàu ý nghĩa đạo lý và hân hoan nhất

Sẽ được đãi bữa tiệc chiều do tất cả chúng ta chung tiền thiết đãi

Ngay tại nơi này, bên chính cây cột này đây,

Khi chúng ta quay trở về từ Canterbury.

Và để chư vị thêm phần phấn chấn,

Tôi sẽ đích thân cưỡi ngựa đồng hành cùng chư vị,

Tự thân chi trả phí tổn và làm kẻ dẫn đường;

Và hễ ai dám phản kháng lại phán quyết của tôi,

Người đó sẽ phải trả toàn bộ chi phí dọc đường cho cả đoàn.

Và nếu chư vị bằng lòng để mọi sự diễn ra như thế,

Hãy bảo tôi ngay, đừng lời ra tiếng vào,

Để tôi sớm sửa soạn hành trang cho kịp lúc.”

   Điều này đã được chuẩn thuận và lời thề được lập

Với lòng dạ hân hoan; chúng tôi cũng khẩn cầu ông

Hãy rộng lòng ưng thuận thực thi đúng như thế,

Rằng ông sẽ là vị thống đốc của chúng tôi,

Là vị quan tòa và người lĩnh xướng ghi chép các chuyện kể,

Lại ấn định mức phí cho bữa tiệc chiều kia,

Chúng tôi sẽ tuân theo mọi sắp đặt

Dù trong việc lớn hay việc nhỏ; và thế là bởi sự đồng lòng,

Chúng tôi nhất trí phục tùng phán quyết.

Và rồi rượu vang lập tức được mang ra;

Chúng tôi uống cạn, rồi ai nấy đi nghỉ,

Chẳng còn nấn ná hay chậm trễ gì thêm.

   Sáng hôm sau, khi ngày vừa hửng rạng,

Chủ quán thức giấc, làm gà trống gọi tất cả chúng tôi,

Ông tập hợp mọi người lại thành đoàn,

Và chúng tôi cùng ruổi ngựa thong dong

Đến tận nơi dừng chân uống nước của Thánh Thomas;

Tại đó, Chủ quán cho dừng ngựa

Và nói: “Thưa chư vị, xin hãy lắng nghe, nếu chư vị muốn.

Chư vị đã rõ lời giao ước và tôi xin nhắc lại.

Nếu lời kinh tối và lời kinh sớm vẫn hòa hợp,

Hãy xem xem ai sẽ là người kể câu chuyện đầu.

Cũng như tôi đã từng được nếm vị rượu vang và rượu mạnh,

Hễ ai phản kháng lại phán quyết của tôi

Sẽ phải chi trả toàn bộ phí tổn dọc đường cho cả đoàn.

Giờ hãy rút thăm, trước khi chúng ta tiến xa hơn;

Ai rút được cọng ngắn nhất sẽ là người bắt đầu.

“Thưa Hiệp sĩ,” ông nói, “vị chủ nhân và lãnh chúa của tôi,

Mời ngài rút thăm vì đó là quyết định.

Xin lại gần đây,” ông nói, “thưa Đức bà.”

Và cả ngài nữa, thưa học giả, đừng e dè,

Cũng đừng suy tính chi; thưa chư vị, mỗi người hãy thò tay vào!”

Tức thì, mọi người bắt đầu rút thăm,

Và nói vắn tắt sự tình diễn ra khi ấy,

Dù là do vận may, định mệnh hay ngẫu nhĩ,

Sự thực là thế này: thăm đã rơi vào tay vị Hiệp sĩ,

Điều đó khiến ai nấy vui sướng hân hoan;

Và ông phải kể câu chuyện của mình theo lẽ,

Theo đúng lời giao ước và thỏa thuận đã lập,

Như quý vị đã nghe; cần gì phải bàn luận thêm nữa?

Và khi con người đạo cao đức trọng ấy thấy sự thể như vậy,

Với tư cách một người thông tuệ và tuân thủ

Để giữ trọn lời giao ước bằng sự tự nguyện của mình,

Ông nói: “Vì tôi phải là người mở đầu cuộc chơi,

Thì đây, xin đón nhận quẻ thăm này, nhân danh Chúa!

Giờ hãy cùng lên đường và xin nghe tôi nói.”

Vừa dứt lời chúng tôi cùng ruổi ngựa tiến xa,

Và ngài bắt đầu bằng khí độ hân hoan

Kể chuyện của mình ngay lúc ấy, như quý vị bây giờ sẽ được nghe.

Thanh Nghi dịch

Chú thích:

1. Gió Tây.

2. Southwark là một khu vực nằm ở phía nam sông Thames, đối diện thành phố London trung cổ.

3. Thanh niên quý tộc đang tập sự để trở thành hiệp sĩ.

4. Một gia nhân, phẩm trật nhỉnh hơn kẻ giữ ngựa một bậc; người này xem ra là kẻ trông rừng.

5. Theo lối tiếng Anh, như cách nói ở Stratford-at-Bow - vùng ngoại ô phía đông London độ hai dặm, nơi đặt tu viện nữ dòng Biển Đức Thánh Leonard.

6. Tình yêu chiến thắng tất cả.

7. Nguyên gốc That was hir chapeleyne, and Preestes three: Cụm hir chapeleyne  gây băn khoăn liệu đây là danh xưng thứ hai của vị Nữ tu vừa nhắc tới hay là một người hầu cận khác. Cụm Preestes three tương tự, tạo ra những cách hiểu khác nhau. Nếu hiểu là có Ba vị linh mục thì tổng số người hành hương sẽ lệch với con số tác giả đề cập ở đầu tác phẩm; cũng có thể hiểu là một vị linh mục cộng với Nữ tu và nữ chấp sự tạo thành bộ ba tùy tùng của Nữ tu bề trên. Những kẽ hở này có thể là lỗi bản thảo nhưng cũng có thể là dụng ý của Chaucer.

8. Là tu sĩ sống trong tu viện. Ở đây thuộc dòng Thánh Benedict, dòng cổ xưa nhất của  giáo hội Công giáo.

9. Love-knot.

10. Friar là dòng tu sĩ hành khất, được Giáo hội thành lập vào thế kỷ 13. Vào thời Chaucer họ còn tương đối mới. Dòng Franciscan được thành lập bởi Thánh Francis thành Assisi, lý tưởng của ông là nghèo khó, theo đuổi đời sống khổ hạnh nên tu sĩ dòng này sống bằng cách xin bố thí. Về mặt kỹ thuật họ không nhận tiền mặt. Họ ra ngoài giảng đạo và có một cậu bé hoặc ai đó đi phía sau cầm một cái túi để người dân dâng thức ăn và bỏ vào túi.

11. Bốn dòng tu khất thực: Franciscan, Dominican, Carmelite và Augustinian.

12. Nhóm thương nhân giàu có nắm giữ quyền độc quyền thực phẩm và ảnh hưởng chính trị lớn tại London thế kỷ 14. Họ đại diện cho tầng lớp trung lưu mới nổi, thường xuyên mâu thuẫn với giới thợ thủ công về vấn đề giá cả và kiểm soát thị trường. Trong bối cảnh văn chương Chaucer, nhóm này phản ánh rõ nét sự phân hóa quyền lực và những biến động kinh tế đô thị đương thời.

13. Cụm từ Latinh khởi đầu sách Sáng Thế và Phúc âm Gioan, tượng trưng cho quyền năng sáng tạo của Ngôi Lời. Trong xã hội Trung cổ, đây là lời chào cửa miệng của giới tu sĩ khất thực nhằm khẳng định thẩm quyền tôn giáo và sự thông tuệ.

14. Những ngày được ấn định để giải quyết các tranh chấp pháp lý hoặc mâu thuẫn cá nhân một cách hữu nghị.

15. Bản gốc dùng từ sheeldes là cách gọi các đồng tiền vàng écus của Pháp, vốn có hình chiếc khiên trên mặt tiền. Cụm từ này ám chỉ việc nhân vật Thương gia tham gia vào thị trường hối đoái, mua bán ngoại tệ để hưởng lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá. Trong xã hội thời Chaucer, hành vi này thường bị coi là lách luật hoặc phi pháp, nhấn mạnh sự nhạy bén nhưng cũng đầy mánh khóe tài chính của gã để che đậy các khoản nợ cá nhân.

16. Là một người thuộc giáo hội nhưng ở cấp bậc thấp, chủ yếu dành toàn bộ thời gian cho việc học tại Oxford. Anh ta là một học giả, một sinh viên thần học và triết học.

17. Là cấp bậc luật sư cao quý nhất thế kỷ 14, được Nhà vua bổ nhiệm và nắm giữ đặc quyền tranh tụng tại các tòa án quan trọng nhất của Anh. Nhân vật này đại diện cho tầng lớp tinh hoa pháp lý giàu có, sở hữu trí tuệ uyên bác và khả năng thao túng các thủ tục sở hữu đất đai.

18. Hành lang (hoặc hiên) của Nhà thờ Chính tòa Thánh Paul, một địa điểm tụ họp quen thuộc của giới trạng sư.

19. Kể từ Cuộc chinh phạt của người Norman (1066).

20. Là chủ đất tự do, không thuộc dòng dõi quý tộc nhưng sở hữu lượng tài sản và đất đai đáng kể; không phải tá điền phục vụ lãnh chúa mà là những ông chủ tự thân ở nông thôn.

21. Thể hiện lòng hiếu khách.

22. Ở thời này hầu hết các gia đình thường dùng loại bàn ghép từ những tấm ván và sau khi dùng bữa sẽ dọn dẹp để lấy chỗ sinh hoạt. Chỉ những ai cực kỳ giàu có và hiếu khách mới để sẵn một bàn ăn cố định.

23. Theo “Luật tiết kiệm” (Sumptuary Laws) thời trung đại, việc dùng bạc để trang trí vũ khí hay phụ kiện vốn là đặc quyền của giới quý tộc hoặc hiệp sĩ.

24. Việc mặc áo choàng có tà dài đến mức cần người nâng sau lưng vốn là đặc quyền của hoàng gia hoặc đại quý tộc.

25. Blankmanger: món hầm kem màu trắng làm từ thịt gà xé, gạo, sữa và đường, vốn là món ăn thanh tao và đắt đỏ trong ẩm thực Trung cổ.

26. Một cách nhắc đến đầy châm biếm về vàng lỏng (aurum potabile) – loại dược liệu được bào chế từ vàng ròng, vốn được coi là "linh đơn diệu dược" có khả năng trị bách bệnh.

27. Ypres và Ghent (thuộc vùng Flanders, Bỉ ngày nay) là hai trung tâm dệt may lừng lẫy nhất châu Âu thời Trung cổ, nơi sản xuất ra những loại vải vóc thượng hạng.

28. Theo phong tục thời bấy giờ, nghi thức hôn lễ trung cổ thường được vị linh mục cử hành ngay tại tiền sảnh hoặc cổng vào của giáo đường. Sau đó, đoàn người mới tiến vào bên trong để cử hành thánh lễ hôn phối.

29. Olde daunce: ẩn dụ kinh điển trong văn học Trung cổ để chỉ nghệ thuật yêu đương, sự quyến rũ và những mưu mẹo trong đời sống phòng the.

30. Ngụ ý rằng một người xay bột lương thiện là điều không tưởng, cũng hiếm hoi và phi thực tế như việc sở hữu một ngón tay bằng vàng.

31. Chim giẻ cùi (jay) là loài vật nổi tiếng với khả năng bắt chước tiếng người một cách máy móc, tương tự như cách viên Đòi án vẹt lại các thuật ngữ pháp lý La-tinh mà không hề hiểu ý nghĩa thực sự của chúng. Watte (tên gọi tắt của Walter) là một cái tên cực kỳ phổ biến thời bấy giờ, tượng trưng cho những kiến thức sơ đẳng nhất mà ngay cả một con chim cũng có thể học thuộc.

32. Lệnh bắt giam do chính quyền thế tục ban hành theo yêu cầu của giáo hội đối với những kẻ đã bị thông tri quá 40 ngày mà vẫn ngoan cố không chịu hối cải.

33. Trong khi “ngựa thiến” gợi lên hình ảnh một hoạn quan bị tước bỏ khả năng duy trì nòi giống, thì “ngựa cái” lại mỉa mai sự nữ tính hóa và những lệch chuẩn về tính dục trong quan niệm Trung cổ.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công