favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Albert Béguin: Lichtenberg

08/01/2026 00:16

Tiểu luận mở đầu cuốn sách lớn của Béguin về lãng mạn, Tâm hồn lãng mạn và giấc mơ, cho đến giờ vẫn là một trong những gì lớn lao và sâu sắc hơn cả bàn về lãng mạn, cho dù đã được in cách đây gần một trăm năm.

Thật lạ vì Béguin lại bàn về Lichtenberg, vốn dĩ không hề là nhà văn, trong cuốn sách về văn chương, nhất là thơ, của mình - nhưng điều này lại hết sức có lý, bởi khó có ai hơn so với Lichtenberg ở vai trò đi (ngay) trước chuyển động của lãng mạn, như thể thông báo nó.

 

Chương 1

Ngọn nến cháy

 

Những khi ông nói đùa, thì đấy là vì ở đó có một vấn đề bị giấu đi.

GOETHE.

Giữa duy lý và thời đại mới có một nhà văn dị thường, nhà bác học vật lý, người ngưỡng mộ Jean-Paul ở đoạn khởi đầu và một trong những người Đức đầu tiên đọc Jakob Boehme, một người cô lẻ và một người nhiều lo lắng, suốt cả cuộc đời săn đuổi các từ buồn cười, các nhận xét chế báng, những sự đặt cạnh nhau kỳ quái; được người đương thời biết tới do tính ghét người của ông; được các nhà tự nhiên luận nước ngoài coi trọng; bị các văn nhân lờ đi và không có tiếp xúc với họ: một con người, rốt cuộc, mà những gì xuất bản khi còn sống nhiều nhất thì cũng sẽ đảm bảo một ghi chú trong lịch sử khoa học, nhưng năm tập châm ngôn in sau khi chết đã đột nhiên đặt lên rất cao ngay vào đầu thế kỷ 19.

Georg-Christoph Lichtenberg, giáo sư ở Goettingue, có một tồn tại đặc trưng của người lập dị và người bị hành hạ. Dị hình, đau đớn vì nỗi xấu xí của mình, được thiên phú một nhục cảm nhiều đòi hỏi, ông đã sống cùng một người bạn đời không giá thú và chẳng mấy có năng lực, dường như vậy, trong việc tạo cho ông xã hội mà cuộc sống chung đó tước mất khỏi ông. Được nuôi dạy trong sự duy lý của thời ấy, ông đã không bao giờ dám hoàn toàn nhường bước trước một xu hướng thần bí vốn dĩ ở bên trong ông; và cho đến tận những quyển sổ lừng danh kia, nơi cho riêng mình, ông đã ghi chép hỗn độn các calembour, thú nhận, nghiền ngẫm cùng suy nghĩ khoa học, ông chỉ viết vào với cả nghìn sự thận trọng những khoảnh khắc đúng hơn cả nơi tồn tại cá nhân của ông, lúc nào cũng bọc chúng vào trong các dè chừng, nói đùa hoặc bình luận hoài nghi.

Nếu táo bạo hơn, hay ít nhạy cảm hơn, thì hẳn ông đã khinh bỉ những gì xung quanh trái ngược với mình, và có thể thuộc vào, giống một Restif de la Bretonne hoặc một Saint-Martin, một Hemsterhuis hoặc một Hamann, số những người, dưới thế kỷ 18 "triết học", duy trì chuỗi bí mật của những ai được khai trí, thông qua đó phi lý tính thần bí nhập vào với lãng mạn đang sinh ra. Nhưng, vốn dĩ yếu ớt và quá mức nhạy cảm, ông đã chỉ có thể đau đớn vì khác biệt của mình và vẫn cứ có chút xấu hổ với những chuyển động chân thực hơn cả của ông, với những "mê tín" của ông: luân hồi, khải hoàn của sự nhạy cảm, phác họa cho một lý tưởng luận theo kiểu Novalis ("Ở khởi đầu, thế giới đúng như tôi muốn"), cơn khát cuộc sống tình cảm và sự cuốn hút của cái chết. Một đoạn trong những quyển sổ của ông diễn tả theo lối đáng ngưỡng mộ trạng thái ấy của tâm hồn ông:

Đối với tôi luôn luôn dường như ý niệm bản sinh là một ý niệm vay mượn từ suy nghĩ của chúng ta; nếu không còn các tạo vật suy nghĩ và cảm thấy, thì chẳng gì nữa hết. Dẫu điều này có thể trông hết sức giản lược hóa, và cho dù tôi biết người ta sẽ chế nhạo tôi đến mức nào nếu tôi nói công khai những điều như vậy, thì tôi vẫn coi năng lực tạo ra các giả định như thế là một trong những đặc quyền lớn nhất và thực sự là một trong những cơ chế lạ thường hơn cả của tinh thần con người. Điều này lại có nhiều quan hệ với ý của tôi về sự di cư của các tâm hồn. Tôi nghĩ, hay chính xác hơn, tôi cảm thấy, về điều này, cả một đoàn lũ những điều mà tôi không có khả năng diễn tả, bởi chúng không thuộc con người theo lối chung và, do vậy, ngôn ngữ của chúng ta không được tạo ra để nói chúng. Mong Chúa muốn điều này không dẫn tôi tới sự điên, một ngày nào đó! Điều mà tôi cảm thấy rõ, ấy là, nếu tôi muốn viết về chuyện này, thì hẳn cả thế giới sẽ coi tôi bị điên; thế nên tôi im. Người ta không thể nói về cái đó, không hơn so với người ta chẳng thể nào chơi trên đàn violon, như là các nốt, những vết mực trên cái bàn của tôi được.

Bí mật được giữ rất chặt về những ý nghĩ yêu quý nhất của ông này, người ta chỉ có thể thấy ở đó triệu chứng quyết định cho một chứng nhiễu tâm, và các nhà tâm thần học thiếu tài liệu đã không để hụt mất điều đó. Nhưng, khi tìm thấy lại ở ngần ấy chỗ trong nhật ký của ông, giữa hai lý thuyết khoa học hay giữa hai trò chơi chữ, chỉ được nói một nửa, các ý, các mối bận tâm hoặc các mơ mẩn, vốn dĩ sẽ là những cái đó nơi các nhà lãng mạn, người ta tự nhủ rằng họ đã không e sợ diễn đạt chúng, biến chúng thành nguồn cho tồn tại cá nhân của họ, cho cuộc truy lùng tinh thần của họ và cho tác phẩm của họ. Đấy là vì tất tật họ, ở nhiều mức độ khác nhau, là những nhà thơ, tức là những người làm ra ngôn ngữ của mình và tạo ra biểu đạt mà họ cần; họ đã chế ra chính ngôn ngữ mà Lichtenberg than thở vì thiếu mất ấy; còn hơn nhiều, thông qua đó họ đã biến đổi bầu khí quyển chung, tận đến mức không chỉ các "mê tín" được Lichtenberg rụt rè thì thào đối với họ không còn có vẻ lố bịch nữa, mà, nếu tới sau họ, con người cô độc đó hẳn sẽ diễn tả mà không gặp vướng mắc gì. Vậy thì làm sao mà có thể bám vào lời giải thích theo ca bệnh học, và làm sao mà không tự nhủ rằng Lichtenberg bị bệnh vì khác biệt của ông với thời của ông, theo đúng nghĩa đen là bị ốm vì một hiện hình quá sớm trên một hành tinh nơi chỉ những kẻ mạnh nhất trong số những kẻ mạnh mới có thể hít thở trong nỗi cô đơn hoàn toàn của suy nghĩ? Nhất là khi ở Lichtenberg chúng ta nhận ra, nét lãng mạn đầu tiên, nhu cầu vĩnh viễn không được thỏa về một cộng đồng tinh thần và tình cảm, nhu cầu mà ông lại chỉ để lộ bằng những lời bị che kín và đầy mỉa mai, nhưng gây nhiều xúc động:

Con người yêu xã hội, dẫu cho đấy chỉ là xã hội với một ngọn nến cháy.

Lời đích thực của kẻ cô độc dẫu không muốn vậy, lời gợi lên những lần thức đêm nơi ông nghĩ đến cái chết: chẳng hề kèm chút bạc nhược thần kinh nào, với một khát khao bình lặng không có cả sự lớn lao lẫn tính cách đầy chủ ý như Nhật ký của Novalis, nhưng dẫu thế nào thì cũng làm người ta nghĩ đến thơ lãng mạn. Nỗi ám ảnh sự tự sát, thứ từng là ám ảnh của ông ngay từ lúc còn trẻ, chẳng hề có ý vị chết chóc. Ông nói về nó thật dài ở một trong những quyển sổ đầu tiên của mình (trước 1770) và về đó nêu lên một nhận xét về ngoài ý thức, nơi người ta ước lượng được toàn bộ khoảng cách phân tách ông với duy lý của thời ấy:

Tôi cần phải thú nhận rằng sự thuyết phục đinh ninh thiết thân theo đó cái này hay cái kia là đúng thường xuyên có nguyên nhân cuối cùng là một thực tại tối tăm, thật khó hay ít nhất dường như vô cùng khó để nói rõ ra: bởi, chính thế, mâu thuẫn mà chúng ta quan sát thấy giữa câu được diễn đạt rõ ràng và tình cảm thiếu rõ rệt của chúng ta khiến chúng ta tin là mình còn chưa hề tìm được biểu đạt đúng nghĩa. Một trong các mơ mẩn mà tôi thích nhất là nghĩ đến cái chết, và đôi khi ý nghĩ đó có thể chiếm lĩnh tôi tận tới nỗi tôi có vẻ cảm thấy thì đúng hơn là nghĩ; khi ấy các nửa giờ đối với tôi trôi qua như các phút. Đấy hoàn toàn không phải là một tra tấn bệnh hoạn trước đó tôi chịu thua dẫu không định thế; đấy là một nhục cảm thuộc tinh thần, mà dẫu không muốn tôi tận hưởng theo lối thật tiết kiệm, vì hay xảy đến với tôi chuyện e sợ từ đó sinh ra dục vọng nhuốm sầu muộn nào đó đối với những nghiền ngẫm của cú mèo.

Nhục cảm được chiêm ngưỡng cái chết đó không ngừng xuất hiện trở lại trong những quyển sổ ấy; hiển nhiên, Lichtenberg không có sức mạnh biểu đạt hẳn cần phải có đê trao cho nó độ rộng lớn nhiều sức giải phóng của bài thơ hay tông giọng của sự thú nhận đúng nghĩa; và một thiếu hụt về sự dạn dĩ ngăn trở ông trong các nghiền ngẫm của ông, chúng vẫn cứ bị biệt lập, không có các âm cộng hưởng rất xa xôi, không bao giờ mối bận tâm thấy rõ là trung tâm ở ông đó tô điểm được cho tất tật các ý nghĩ của ông, liên tục ngầm ẩn bên dưới chúng và mở cho ông những kho báu thuộc đêm nơi bản sinh của ông. Không vì thế mà ông bớt hình dung hư vô như "một nỗi sướng thân tương đương với hạnh phúc lớn lao của tất tật các thiên đường". Ông thích tự nhủ rằng hư vô đó chính là trạng thái nơi ông từng ở vào trước khi sinh ra trên cõi đời này:

Tôi không thể nào rũ bỏ đi cái ý theo đó tôi đã chết trước khi sinh ra, và nhờ cái chết tôi sẽ quay trở về cùng trạng thái ấy... Chết và tái sinh với kỷ niệm về tồn tại trước đó của mình, chúng ta gọi đấy là ngất đi; tỉnh dậy với những cơ phận khác, mà trước hết phải tái giáo dục, đấy là cái mà chúng ta gọi là sinh ra.

Nhưng ông nói thêm, bằng sự đúng đắn ấy, mà sự rụt rè của ông luôn luôn mang tới cho các táo bạo nơi nghiền ngẫm của ông:

Xét trên nhiều phương diện, thật may mắn vì ý đó không thể được đưa đến một sự sáng sủa toàn vẹn: dẫu cho con người rất có khả năng về đoán bí mật ấy của tự nhiên, hẳn sẽ đi ngược lại lợi ích của tự nhiên rất nhiều nếu anh ta có thể mang lại chứng cứ cho bí mật đó.

Vậy là nỗi hoảng sợ chặn ông lại và khiến ông ban phước cho nỗi vô tri nơi chúng ta ở vào theo điều kiện đích thực của mình; ông không thuộc vào số những người có sức mạnh để sống tốt hơn, vào lúc họ đã chiêm ngưỡng ngay trước nỗi hoảng. Nhưng ông quay trở lại đó, và không bao giờ suy nghĩ của ông từng dẫn ông tới gần với chính ông hơn so với ở những dòng ngắn ngủi sau đây, được viết vào khoảng năm 1790:

Giả dụ như chỉ cần điểm giới hạn đã được vượt qua! Chúa tôi, ham muốn trong tôi mới lớn làm sao về giây phút nơi đối với tôi thời gian sẽ ngừng là thời gian - nơi tôi sẽ được đón nhận vào bầu ngực mẫu tử của cái Toàn và của cái Vô nơi tôi từng ngủ khi... Épicure, Lucrèce, César từng sống và viết, vào lúc Spinoza nghĩ ý nghĩ lớn lao nhất từng có bao giờ đi vào một bộ não con người.

Khát khao tới sự quay về trong cái Vô và cái Toàn, sự loại bỏ Thời gian được hình dung như giải thoát và hân hưởng tối cao, ấy là những chuyển động của tâm hồn mà chúng ta sẽ còn thường xuyên gặp giữa những người kế tiếp Lichtenberg, mà các giấc mơ ban đêm của ông sẽ tạo cho chúng ta nhiều vọng âm. Bản thân sự hài hước của ông, chế báng của ông lúc nào cũng phải được đặt lại trên cái nền u tối ấy để hiện ra được trong ánh sáng đích thực của nó; sự mỉa mai hết sức đặc biệt của Lichtenberg kia hoàn toàn khác so với hài hước của một Sterne hay sự nghiêm khắc của một luân lý gia Pháp. Cần phải nghe thấy tiếng nhạc đệm âm âm của lời gọi đến với cái chết, của ham muốn được cuộn vào cái Vô, thì mới nắm bắt được sắc thái đúng nơi những đánh giá của ông về hoạt động của con người, hay ngay cả những châm ngôn kỳ quái nhất của ông:

Con người ấy từng trí tuệ đến mức ông ta chẳng còn làm được gì nữa tại thế giới này.

Ngay cả khi Tự nhiên đã chẳng hề trao cho con người năng lực đi bằng hai chân, thì chắc chắn đấy vẫn cứ là một sáng chế vinh danh nó!

Anh ta đã đặt tên cho hai cái giày păng túp của mình.

Tôi sẵn sàng cho đi cái gì đó để biết được chính xác vì ai mà những hành động được người ta tuyên bố công khai là đã được thực hiện cho tổ quốc kia đã thực sự được thực hiện.

Chẳng phải là người ta cảm thấy sự mỉa mai u ám của một điệu Nhảy của Người Chết cổ bên dưới bảy từ đơn giản sau đây, mà hẳn ông đã viết sau một mơ mẩn dài bên cây nến cháy của mình: "Giá treo cổ với cột thu lôi"?

Và người ta hiểu được niềm hào hứng mà, mặc cho những e dè mạnh mẽ, những tác phẩm đầu tiên của Jean-Paul đã gây cho ông; chẳng phải ông tìm thấy lại chính ông ở đó sao, không phải đúng như ông vốn dĩ, mà đúng như ông mơ về mình? Chẳng phải đây là một định nghĩa đích thực về lãng mạn mà ông mang tới, khi, vì ngưỡng mộ nơi Jean-Paul thứ hợp kim của trí tưởng tượng, tình cảm và tinh thần kia, mà ông so sánh với "sự hội tụ lớn lao trên bầu trời của các hành tinh", ông còn thêm:

Tôi chẳng hề biết nhà sáng tạo các hình ảnh nào lớn hơn. Dường như trong đầu óc ông đối tượng nào của tự nhiên hay của thế giới các vật thể cũng đều ngay lập tức cưới lấy tâm hồn đẹp nhất của vương quốc sự sống thuộc luân lý, của triết học hay của các nàng Grâce và tái xuất hiện như đã được hội tụ nhờ tình yêu với tâm hồn ấy.

(còn nữa)

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công