Adorno: Tiểu luận như một hình thức
“Mệnh giời chỉ cho ta nhìn thấy những gì được soi tỏ, chứ không phải nguồn sáng."
Goethe, Pandora
Ở Đức, tiểu luận bị coi như một thứ lai căng; rằng nó thiếu đi một truyền thống thuyết phục; rằng những đòi hỏi khắt khe của nó hiếm khi được đáp ứng: tất cả những điều này đã thường được ghi nhận và khiển trách. "Hình thức tiểu luận, cho đến tận hôm nay, vẫn chưa đi hết con đường đến với sự độc lập mà người chị em của nó, thi ca, đã kinh qua lâu lắc; con đường phát triển từ một khối hợp nhất nguyên sơ, chưa phân định với khoa học, đạo đức và nghệ thuật." Nhưng cả nỗi bất mãn với tình thế này, lẫn nỗi bất mãn với não trạng phản ứng lại tình thế bằng cách rào nghệ thuật lại thành một khu bảo tồn cho những gì phi lý, đồng nhất tri thức với khoa học có tổ chức và loại trừ như một thứ ô uế bất cứ điều gì không phù hợp với phép đối nghịch đó: cả hai nỗi bất mãn đều chẳng thay đổi được gì trong định kiến quốc gia quen thuộc. Việc ban tặng vòng nguyệt quế "nhà văn" vẫn đủ để loại khỏi giới học thuật con người mà người ta đang ca ngợi. Bất chấp sự uyên bác nặng ký mà Simmel và Lukács thời trẻ, Kassner và Benjamin đã ký thác cho tiểu luận, cho cuộc điều tra tư biện về những đối tượng cụ thể, được định trước về mặt văn hóa, giới học thuật chỉ đủ kiên nhẫn cho thứ triết học tự khoác lên mình nét quý phái của phổ quát, của vĩnh cửu, và ngày nay nếu có thể thì cả của nguyên thủy; tạo tác văn hóa chỉ được quan tâm trong chừng mực nó phục vụ cho việc minh họa các phạm trù phổ quát, hoặc ít nhất là cho phép chúng tỏa sáng xuyên qua, chả cần biết cái đặc thù từ đó có được soi rọi chút nào hay không. Sự ngoan cố mà với nó, lối tư duy rập khuôn này tồn tại hẳn sẽ khó hiểu như chính sự bén rễ cảm tính của nó, nếu nó không được nuôi dưỡng bởi những động cơ mạnh hơn ký ức đau buồn về việc một nền văn hóa, mà về mặt lịch sử hầu như không công nhận homme de lettres (con người văn chương), đã thiếu đi bao nhiêu vun trồng. Ở Đức, tiểu luận gây ra kháng cự bởi nó gợi nhớ đến một thứ tự do trí tuệ mà, từ thời của một cuộc Khai sáng bất thành và nửa vời, kể từ thời của Leibniz, cho đến tận ngày nay, chưa bao giờ thực sự trỗi dậy, ngay cả trong những điều kiện của tự do hình thức; cuộc Khai sáng Đức luôn sẵn sàng tuyên bố, như mối quan tâm thiết yếu của mình, sự khuất phục dưới bất kỳ tòa án cao hơn nào.
Tiểu luận, tuy nhiên, không cho phép địa hạt của nó bị áp đặt. Thay vì đạt được điều gì đó theo lối khoa học, hay sáng tạo điều gì đó theo lối nghệ thuật, nỗ lực của tiểu luận phản ánh một tự do trẻ thơ, thứ tự do bùng cháy, không chút đắn đo, trên những gì người khác đã làm. Tiểu luận phản chiếu những gì yêu ghét thay vì trình hiện trí tuệ, theo mô hình của một thứ đạo đức lao động vô biên, như một creatio ex nihilo (sáng tạo từ hư vô). Luck and play là cốt yếu đối với tiểu luận. Nó không bắt đầu với Adam và Eve mà với những gì nó muốn bàn luận; nó nói những gì đang là vấn đề và dừng lại nơi nó cảm thấy mình trọn vẹn chứ không phải nơi chẳng còn gì để nói. Do đó nó được xếp vào hàng những của lạ. Các khái niệm của nó không được suy ra từ bất kỳ thứ đệ nhất nguyên lý nào và cũng không đi hết một vòng tròn để đến một nguyên lý sau rốt. Những diễn giải của nó không được tôi luyện và tỉnh táo về mặt ngữ văn, mà đúng hơn - theo phán quyết có thể đoán trước của lý tính cảnh giác và toan tính kia, thứ lý tính tự cho mình làm lính canh cho sự ngu độn để chống lại trí thông minh - nó diễn giải quá độ. Do nỗi sợ hãi tiêu cực tự thân, nỗ lực của chủ thể để xuyên phá những gì tự che đậy mình như là khách quan tính bị đóng dấu như sự lười biếng. Mọi thứ được cho là đơn giản hơn nhiều. Người diễn giải thay vì chấp nhận và phân loại một cách không nghi vấn thì lại bị tát vào mặt với cáo buộc trí thức hóa như thể bị gắn một ngôi sao vàng; trí thông minh lầm lạc và suy đồi của anh ta được cho là đã tinh vi hóa và phóng chiếu ý nghĩa vào nơi chẳng có gì để diễn giải. Kỹ thuật gia hay kẻ mộng mơ, đó là những lựa chọn thay thế nhau. Một khi người ta để mình bị khủng bố bởi lệnh cấm vượt ra ngoài ý nghĩa dự định của một văn bản nhất định, người ta trở thành kẻ bị lừa bởi ý hướng tính giả dối mà con người và sự vật tự chúng chứa đựng. Khi đó, sự thông hiểu chỉ còn là việc mở gói những gì tác giả muốn nói, hoặc, nếu cần, truy tìm những phản ứng tâm lý cá nhân mà hiện tượng đó chỉ ra. Nhưng cũng như việc hầu như không thể tìm ra những gì người nào đó đã cảm thấy và suy nghĩ vào một lúc hay một chỗ nhất định nào, những hiểu biết như vậy không thể hy vọng đạt được điều gì cốt yếu. Những thôi thúc của tác giả bị dập tắt trong thực thể khách quan mà chúng nắm bắt. Cái phong phú khách quan của các ý nghĩa được gói gọn trong mỗi hiện tượng tinh thần, nếu muốn tự bộc lộ, đòi hỏi từ người tiếp nhận chính sự tự phát của tưởng tượng chủ quan, thứ vốn bị trừng phạt nhân danh kỷ luật khách quan. Không có gì có thể được diễn giải ra khỏi một tác phẩm mà không đồng thời được diễn giải vào nó. Tiêu chí của quá trình này là sự tương thích của diễn giải với văn bản và với chính nó, và sức mạnh của nó trong việc giải phóng biểu cảm của đối tượng trong sự thống nhất của các yếu tố của nó. Tiểu luận nhờ đó có được một quyền tự trị thẩm mỹ, thứ dễ bị chỉ trích là chỉ vay mượn từ nghệ thuật, mặc dù nó tự phân biệt mình với nghệ thuật thông qua đặc tính khái niệm và yêu sách về chân lý thoát khỏi vẻ ngoài thẩm mỹ. Lukács đã không nhận ra điều này khi ông gọi tiểu luận là một hình thức nghệ thuật trong một lá thư gửi Leo Popper, lá thư đóng vai trò khai từ cho Tâm Hồn và Hình thức. Châm ngôn của chủ nghĩa thực chứng cũng chẳng hơn gì luận đề của Lukács, cụ thể là châm ngôn cho rằng những gì được viết về nghệ thuật không được đòi hỏi gì ở phương thức trình hiện của nghệ thuật, nghĩa là, không có gì về quyền tự trị hình thức của nó. Xu hướng thực chứng trong việc đặt mọi đối tượng có thể khảo sát trong sự đối lập cứng nhắc với chủ thể nhận thức vẫn - trong trường hợp này cũng như trong mọi trường hợp khác - bị cuốn vào sự phân ly cứng nhắc giữa hình thức và nội dung: vì hầu như không thể nói về thẩm mỹ một cách phi thẩm mỹ, bị tước bỏ mọi sự tương đồng với đối tượng của nó, mà không trở nên thiển cận và a priori mất đi mối liên hệ với đối tượng thẩm mỹ. Theo một quy trình thực chứng, nội dung, một khi được mô hình hóa cứng nhắc theo câu mệnh đề ghi nhận, sẽ phải thờ ơ với sự trình hiện của nó. Sự trình hiện phải mang tính quy ước, không phải do chính vấn đề đòi hỏi. Mọi thôi thúc biểu cảm - theo như bản năng của chủ nghĩa thuần túy khoa học lo ngại - đều gây nguy hiểm cho một khách quan tính được cho là sẽ nảy sinh sau khi trừ đi chủ thể; do đó, biểu cảm như vậy sẽ gây nguy hiểm cho tính xác thực của vật liệu, thứ được cho là sẽ tự chứng tỏ mình tốt hơn khi càng ít dựa vào hình thức, mặc dù thước đo của hình thức chính xác là khả năng của nó trong việc thể hiện nội dung một cách thuần túy và không thêm thắt. Trong sự dị ứng của mình với các hình thức, như những sự tình cờ thuần túy, đầu óc khoa học tiến gần đến đầu óc giáo điều một cách ngu xuẩn. Ngôn ngữ vụng về một cách vô trách nhiệm của chủ nghĩa thực chứng lại tự cho mình là khách quan có trách nhiệm và tương xứng với vấn đề đang bàn; sự phản tư về tinh thần trở thành đặc quyền của những kẻ vô hồn.
Không có đứa con nào của sự phẫn uất này lại hoàn toàn là phi chân lý. Nếu tiểu luận coi thường việc bắt đầu bằng cách suy ra các sản phẩm văn hóa từ một cái gì đó nằm dưới chúng, nó chỉ càng dấn sâu hơn vào công nghiệp văn hóa và sa vào sự hào nhoáng, thành công và uy tín của những sản phẩm được thiết kế cho thị trường. Các tiểu sử hư cấu và tất cả các bài viết thương mại liên quan không chỉ là sự thoái hóa đơn thuần mà là sự cám dỗ thường trực của một hình thức mà sự nghi ngờ đối với sự sâu sắc giả tạo không phải là một sự bảo vệ chống lại việc chính nó biến thành sự hời hợt khéo léo. Sự đầu hàng của tiểu luận đã hiển hiện ở Sainte-Beuve, người thực sự đóng vai trò làm nguồn cho thể loại tiểu luận hiện đại. Những tác phẩm như vậy - cùng với những sản phẩm như các bản phác thảo tiểu sử của Herbert Eulenberg, hình mẫu Đức cho một làn sóng văn chương rác rưởi về văn hóa, cho đến những bộ phim về Rembrandt, Toulouse-Lautrec, và Kinh thánh - đã thúc đẩy sự biến đổi trung hòa hóa các tạo tác văn hóa thành món hàng, một biến đổi mà, trong lịch sử văn hóa gần đây, đã chiếm đoạt một cách không thể cưỡng lại tất cả những gì mà ở khối phương Đông được gọi một cách vô sỉ là "di sản văn hóa". Quá trình này có lẽ nổi bật nhất trong trường hợp của Stefan Zweig, thời thanh niên đã viết một vài tiểu luận sâu sắc, và cuối cùng, trong cuốn sách về Balzac, đã đổ đốn đến mức mô tả tâm lý của người nghệ sĩ sáng tạo. Lối viết như vậy không chỉ trích các khái niệm trừu tượng cơ bản, những niên biểu vô hồn, những lời sáo rỗng cũ rích, mà một cách ngấm ngầm và do đó với sự đồng lõa lớn hơn, nó đã giả định trước chúng. Mảnh vụn của một thứ tâm lý học thông diễn được hợp nhất với các phạm trù thông thường rút ra từ Weltanschauung (thế giới quan) của những kẻ phàm phu tục tử, những phạm trù như nhân cách và phi lý. Những tiểu luận như vậy tự lầm mình với loại báo chí phơi-ơ-tông mà kẻ thù của hình thức nhầm lẫn với hình thức của tiểu luận. Bị xé nát, chính nó trở nên bất tự do và tự đặt mình vào việc phục vụ các nhu cầu được thực hiện về mặt xã hội của khách hàng. Khoảnh khắc vô trách nhiệm, tự thân nó là một khía cạnh của mọi chân lý không tự cạn kiệt trong trách nhiệm đối với hiện trạng, sẽ phải tự giải trình khi đối mặt với các nhu cầu của ý thức đã được thiết lập; những tiểu luận tồi tệ không kém phần tuân thủ so với những luận văn tồi tệ. Trách nhiệm, tuy nhiên, không chỉ tôn trọng các thẩm quyền và ủy ban mà còn tôn trọng chính đối tượng.
Tiểu luận tồi tán gẫu về con người thay vì mở ra vấn đề đang bàn; ở điểm này, hình thức tiểu luận có phần đồng lõa. Phân ly giữa tri thức và nghệ thuật là không thể đảo ngược. Chỉ có nét ngây thơ của nhà kinh doanh văn chương mới không nhận thấy phân ly này; anh ta tự cho mình ít nhất là một thiên tài tổ chức, và chỉ đơn giản là nhai ngấu nghiến những tác phẩm nghệ thuật hay thành những tác phẩm dở. Với sự khách thể hóa thế giới trong quá trình giải thần thoại hóa đang tiến triển, khoa học và nghệ thuật đã tách rời nhau. Một ý thức trong đó tri giác và khái niệm, hình ảnh và ký hiệu sẽ là một, không thể, nếu nó từng tồn tại, được tái tạo lại bằng một cái phất của đũa thần; sự phục hồi của nó sẽ là một sự trở lại hỗn loạn. Chỉ khi hoàn tất quá trình trung gian, một ý thức như vậy mới có thể tưởng tượng được, như một không tưởng cũng giống như cái mà các triết gia duy tâm kể từ Kant đã ban cho tên gọi trực giác sáng tạo, và cái đã phụ lòng họ mỗi khi tri thức thực tế kêu gọi đến nó. Khi triết học cho rằng bằng cách vay mượn từ nghệ thuật, nó có thể loại bỏ tư duy khách thể hóa và lịch sử của nó - với những gì thường được gọi là sự đối nghịch giữa chủ thể và khách thể - và thực sự mong đợi rằng bản thân tồn tại sẽ lên tiếng từ một sự lắp ghép thơ mộng của Parmenides và Jungnickel, nó chỉ tiệm cận một thứ giả văn hóa nhạt nhẽo. Với sự khôn lỏi nhà quê được hợp pháp hóa thành tính nguyên thủy, nó từ chối tôn vinh nghĩa vụ của tư duy khái niệm mà nó đã đăng ký ngay khi nó sử dụng các khái niệm trong các phát biểu và phán đoán. Đồng thời, yếu tố thẩm mỹ của nó vẫn là một hồi ức văn hóa cũ kỹ, loãng đi của Hölderlin hay Chủ nghĩa Biểu hiện, hoặc có thể là của art nouveau, đơn giản vì không có tư tưởng nào có thể ký thác mình cho ngôn ngữ một cách vô biên và mù quáng như ý tưởng về một phát ngôn nguyên thủy gợi ý một cách lừa dối. Từ bạo lực mà hình ảnh và khái niệm gây ra cho nhau trong những bài viết như vậy, nảy sinh biệt ngữ của tính chân thực, trong đó các từ ngữ run rẩy như bị chiếm hữu, trong khi vẫn giữ bí mật về những gì chiếm hữu chúng. Sự siêu việt đầy tham vọng của ngôn ngữ vượt ra ngoài ý nghĩa của nó dẫn đến một sự vô nghĩa có thể dễ dàng bị một chủ nghĩa thực chứng mà người ta tự cho mình là vượt trội hơn nắm bắt; và tuy nhiên, người ta trở thành nạn nhân của chủ nghĩa thực chứng chính xác thông qua sự vô nghĩa mà chủ nghĩa thực chứng chỉ trích và mà người ta chia sẻ với nó. Bài vở của cả hai đều giống nhau. Dưới sự phù phép của những phát triển như vậy, ngôn ngữ, nơi mà trong các ngành khoa học nó vẫn còn dám khuấy động, tiệm cận giả nghệ thuật; và chỉ có nhà khoa học nào, một cách cực đoan, chứng tỏ lòng trung của mình với thẩm mỹ, người nói chung chống lại ngôn ngữ và thay vì hạ cấp từ ngữ thành một diễn giải đơn thuần các tính toán của mình, lại ưa thích các biểu đồ, thứ thừa nhận một cách không nao núng sự vật hóa của ý thức và do đó tạo ra một loại hình thức cho sự vật hóa mà không cần đến bất kỳ sự vay mượn biện hộ nào từ nghệ thuật. Dĩ nhiên, nghệ thuật luôn luôn quyện chặt với xu hướng chủ đạo của Khai sáng đến nỗi nó đã, từ thời cổ đại, kết hợp các khám phá khoa học vào kỹ thuật của mình. Tuy nhiên, lượng trở thành chất. Khi kỹ thuật được tuyệt đối hóa trong tác phẩm nghệ thuật; khi cấu trúc trở nên toàn diện, loại bỏ những gì thúc đẩy nó và những gì chống lại nó, tức biểu cảm; khi nghệ thuật tự xưng là khoa học và lấy các tiêu chí khoa học làm tiêu chuẩn của mình, nó đã phê chuẩn một sự thao túng thô thiển tiền nghệ thuật đối với nguyên liệu thô, trống rỗng ý nghĩa như tất cả những lời bàn tán về "Tồn tại" (Seyn) trong các hội thảo triết học. Nó liên minh với sự vật hóa đó, thứ mà chức năng của nghệ thuật phi chức năng, ngay cả ngày nay, là cất lên tiếng phản kháng của riêng mình, dù câm lặng và bị khách thể hóa đến đâu.
Nhưng mặc dù nghệ thuật và khoa học đã tách rời nhau trong lịch sử, sự đối lập của chúng không nên bị bản thể hóa. Sự ghê tởm đối với chủ nghĩa chiết trung lỗi thời không thánh hóa một nền văn hóa được tổ chức theo chuyên môn hóa ngành dọc. Dù cần thiết cỡ nào, những phân chia này chỉ đơn giản là chứng thực một cách thể chế cho sự từ bỏ chân lý toàn thể. Lý tưởng về thuần khiết và sạch sẽ mang dấu ấn một trật tự đàn áp; những lý tưởng này được chia sẻ bởi sự nhộn nhịp của triết học chân chính nhắm đến các giá trị vĩnh cửu, một khoa học được niêm phong và tổ chức hoàn hảo, và một nghệ thuật phi khái niệm, trực giác. Tinh thần phải vượt qua một bài kiểm tra năng lực để đảm bảo rằng nó sẽ không vượt qua nền văn hóa chính thức hoặc vượt qua các biên giới được phê chuẩn chính thức của nó. Giả định là mọi tri thức đều có khả năng chuyển đổi thành khoa học. Các lý thuyết về tri thức phân biệt ý thức tiền khoa học với ý thức khoa học do đó đã nắm bắt sự phân biệt này chỉ là một sự phân biệt về mức độ. Thực tế là khả năng chuyển đổi này vẫn chỉ là một khẳng định và ý thức sống động chưa bao giờ thực sự được biến đổi thành ý thức khoa học, chỉ ra sự bấp bênh của chính sự chuyển đổi, đến một sự khác biệt về chất. Sự phản tư đơn giản nhất về đời sống của ý thức sẽ tiết lộ rằng các hành vi tri thức, vốn không chỉ là những linh cảm tùy tiện, có thể bị lưới khoa học bắt giữ hoàn toàn ít đến mức nào. Tác phẩm của Marcel Proust, không thiếu các yếu tố khoa học-thực chứng hơn của Bergson, là một nỗ lực duy nhất để thể hiện những nhận thức cần thiết và thuyết phục về con người và các mối quan hệ xã hội của họ mà khoa học đơn giản là không thể sánh kịp, trong khi đồng thời yêu sách về tính khách quan của những nhận thức này sẽ không bị giảm bớt cũng không bị bỏ mặc cho sự hợp lý mơ hồ. Thước đo của tính khách quan như vậy không phải là sự xác minh các luận điểm được khẳng định thông qua thử nghiệm lặp đi lặp lại, mà là kinh nghiệm cá nhân, được hợp nhất trong hy vọng và ảo mộng. Kinh nghiệm, khi hồi tưởng, mang lại chiều sâu cho các quan sát của nó bằng cách xác nhận hoặc bác bỏ chúng. Nhưng sự thống nhất được nắm bắt riêng lẻ của chúng, trong đó toàn thể chắc chắn xuất hiện, không thể bị chia cắt và tái tổ chức dưới các nhân vị và bộ máy riêng biệt của tâm lý học và xã hội học. Dưới áp lực của tinh thần khoa học và của một ham muốn luôn hiện hữu tiềm ẩn trong mọi nghệ sĩ, Proust đã cố gắng, bằng phương tiện của một kỹ thuật được mô hình hóa theo khoa học, một loại thử nghiệm, để cứu vớt hoặc tái tạo một hình thức của cái biết, vẫn được coi là hợp lệ trong những ngày của chủ nghĩa cá nhân tư sản khi ý thức cá nhân vẫn còn tin tưởng vào chính mình và chưa lo lắng về sự kiểm duyệt của tổ chức: tri thức của một con người từng trải, một homme de lettres (con người văn chương) đã tuyệt chủng, người mà Proust một lần nữa gợi lên như hình thức cao nhất của kẻ tài tử. Không ai có thể nghĩ đến việc loại bỏ như là không quan trọng, ngẫu nhiên hoặc phi lý những quan sát của một người từng trải chỉ vì chúng là của riêng ông ta và do đó không dễ dàng cho phép sự khái quát hóa khoa học. Những khám phá của ông ta lọt qua mắt lưới của khoa học chắc chắn cũng thoát khỏi chính khoa học. Khoa học, với tư cách là khoa học văn hóa (Geisteswissenschaft), phủ nhận những gì nó hứa hẹn với văn hóa: mở ra các tạo tác của nó từ bên trong. Nhà văn trẻ muốn lên giảng đường mà học về một tác phẩm nghệ thuật là gì, hình thức ngôn ngữ, chất lượng thẩm mỹ, thậm chí kỹ thuật thẩm mỹ là gì, sẽ chỉ tình cờ học được bất cứ điều gì về vấn đề này; tốt nhất anh ta sẽ nhặt nhạnh những thông tin đã được chọn lọc sẵn từ bất kỳ triết học thời thượng nào và được áp đặt một cách ít nhiều tùy tiện lên nội dung của các tác phẩm đang được thảo luận. Tuy nhiên, nếu anh ta quay sang mỹ học triết học, anh ta bị bao vây bởi những mệnh đề trừu tượng cao độ không có mối liên hệ nào với các tác phẩm anh ta muốn hiểu, cũng không với nội dung mà anh ta đang mò mẫm. Tuy nhiên, sự phân công lao động trong kosmos noetikos (thế giới khả niệm) thành nghệ thuật và khoa học không hoàn toàn chịu trách nhiệm cho tình huống này; các ranh giới nội tại giữa nghệ thuật và khoa học sẽ không bị xóa bỏ bởi thiện chí hay kế hoạch bao trùm. Đúng hơn, tinh thần được mô hình hóa một cách không thể cứu vãn theo khuôn mẫu kiểm soát tự nhiên và sản xuất vật chất đã từ bỏ cả việc hồi tưởng về bất kỳ giai đoạn nào đã bị vượt qua có thể hứa hẹn bất kỳ tương lai nào khác và bất kỳ sự siêu việt nào đối với các mối quan hệ sản xuất đã bị đóng băng; điều này làm tê liệt chính quy trình chuyên biệt của trí tuệ kỹ thuật một cách chính xác đối với các đối tượng cụ thể của nó.
Đối với quy trình khoa học và nền tảng triết học của nó như là phương pháp, tiểu luận, phù hợp với ý niệm của nó, rút ra những hệ quả đầy đủ nhất từ sự phê phán hệ thống. Ngay cả các học thuyết kinh nghiệm chủ nghĩa cấp ưu tiên cho kinh nghiệm mở, không lường trước được hơn là trật tự khái niệm vững chắc, vẫn mang tính hệ thống trong chừng mực chúng điều tra những gì chúng cho là các điều kiện tiên quyết ít nhiều không đổi của tri thức và phát triển chúng trong một bối cảnh liên tục nhất có thể. Kể từ thời Bacon, người chính ông cũng là một nhà tiểu luận, chủ nghĩa kinh nghiệm - không kém gì chủ nghĩa duy lý - đã là "phương pháp". Sự nghi ngờ về ưu tiên vô điều kiện của phương pháp đã được dấy lên, trong quá trình tư duy thực tế, hầu như chỉ bởi tiểu luận. Nó công bằng với ý thức về sự bất đồng nhất, mà không cần phải nói ra, cấp tiến một cách triệt để trong việc kiềm chế bất kỳ sự quy giản nào về một nguyên lý, trong việc nhấn mạnh sự phân mảnh, sự bộ phận hơn là toàn thể. "Có lẽ ngài Sieur de Montaigne vĩ đại đã cảm thấy điều gì đó tương tự khi ông đặt cho các tác phẩm của mình cái tên tuyệt vời thanh lịch và phù hợp là Tiểu luận. Sự khiêm tốn giản dị của từ này là một sự lịch thiệp kiêu hãnh. Nhà tiểu luận gạt bỏ những hy vọng tự hào của chính mình, những hy vọng đôi khi khiến ông tin rằng mình đã đến gần cái tận cùng: rốt cuộc, ông không có gì hơn để cống hiến ngoài những lời giải thích về những bài thơ của người khác, hoặc tốt nhất là về những ý tưởng của riêng mình. Nhưng ông thích nghi một cách mỉa mai với sự nhỏ bé này - sự nhỏ bé vĩnh cửu của công trình trí tuệ sâu sắc nhất trước cuộc đời - và thậm chí còn nhấn mạnh nó bằng sự khiêm tốn mỉa mai."
Tiểu luận không tuân theo các quy tắc của trò chơi khoa học và lý thuyết có tổ chức, theo nguyên tắc của Spinoza, rằng trật tự của sự vật đồng nhất với trật tự của ý niệm. Vì trật tự kín kẽ của các khái niệm không đồng nhất với tồn tại, chúng không phấn đấu cho một cấu trúc đóng, suy diễn hay quy nạp. Nó nổi dậy trên hết chống lại học thuyết đã ăn sâu từ thời Plato rằng những gì biến đổi và phù du là không xứng đáng với triết học; chống lại sự bất công cổ xưa đối với cái nhất thời, mà bởi đó nó một lần nữa bị nguyền rủa, về mặt khái niệm. Tiểu luận lảng tránh bạo lực của giáo điều, khỏi quan niệm rằng kết quả của sự trừu tượng hóa, khái niệm bất biến theo thời gian, thờ ơ với hiện tượng cá biệt bị nó nắm bắt, lại đáng được hưởng phẩm giá bản thể học. Ảo tưởng rằng ordo idearum (trật tự của ý niệm) phải là ordo rerum (trật tự của sự vật) dựa trên sự ám chỉ rằng cái được trung gian là cái không được trung gian. Cũng như một sự kiện đơn giản không thể được suy nghĩ mà không có khái niệm, bởi vì suy nghĩ về nó luôn đã có nghĩa là khái niệm hóa nó, thì cũng không thể suy nghĩ khái niệm thuần túy nhất mà không có tham chiếu đến thực tế. Ngay cả những sáng tạo của ảo tưởng được cho là độc lập với không gian và thời gian, cũng chỉ về sự tồn tại cá biệt - dù chúng có thể bị loại bỏ khỏi nó bao xa. Do đó, tiểu luận không bị đe dọa bởi sự sâu sắc suy đồi cho rằng chân lý và lịch sử là không tương thích. Nếu chân lý trên thực tế có một cốt lõi thời gian, thì nội dung lịch sử đầy đủ sẽ trở thành một khoảnh khắc không thể thiếu trong chân lý; a posteriori (cái hậu nghiệm) trở thành a priori (cái tiên nghiệm) một cách cụ thể, như chỉ được Fichte và những người theo ông đã sơ sơ quy định. Mối quan hệ với kinh nghiệm - và từ đó tiểu luận lấy được nhiều chất liệu như lý thuyết truyền thống lấy từ các phạm trù của nó - là một mối quan hệ với toàn bộ lịch sử; kinh nghiệm thuần túy cá nhân, trong đó ý thức bắt đầu với những gì gần gũi nhất với nó, bản thân nó được trung gian bởi kinh nghiệm bao trùm của nhân loại lịch sử; tuyên bố rằng các nội dung xã hội-lịch sử tuy nhiên được cho là chỉ quan trọng một cách gián tiếp so với cuộc sống trực tiếp của cá nhân là một sự tự lừa dối đơn giản của một xã hội và ý thức hệ cá nhân chủ nghĩa. Do đó, sự mất giá của những gì được sản sinh ra trong lịch sử, với tư cách là một đối tượng của lý thuyết, được tiểu luận hiệu chỉnh. Không có cách nào cứu vãn sự phân biệt giữa một triết học đệ nhất với một triết học văn hóa đơn thuần giả định cái trước và xây dựng trên nó, một sự phân biệt mà với nó, điều cấm kỵ đối với tiểu luận được hợp lý hóa về mặt lý thuyết. Quá trình trí tuệ phong thánh cho sự phân biệt giữa cái thời gian và cái phi thời gian đang mất đi thẩm quyền của nó. Các cấp độ trừu tượng cao hơn không mang lại cho tư tưởng một sự thánh thiêng lớn hơn cũng không phải nội dung siêu hình; đúng hơn, nội dung siêu hình bốc hơi cùng với sự tiến bộ của trừu tượng hóa, điều mà tiểu luận cố gắng đền bù. Lời trách móc thông thường đối với tiểu luận, rằng nó rời rạc và ngẫu nhiên, tự nó đã giả định sự cho sẵn của toàn thể và do đó là sự đồng nhất của chủ thể và đối tượng, và nó gợi ý rằng con người đang kiểm soát toàn thể. Nhưng khát vọng của tiểu luận không phải là tìm kiếm và lọc lựa cái vĩnh cửu ra khỏi cái nhất thời; đúng hơn, nó muốn làm cho cái nhất thời trở nên vĩnh cửu. Sự yếu đuối của nó chứng tỏ sự bất đồng nhất mà nó phải biểu đạt, cũng như sự dư thừa của ý hướng so với đối tượng của nó, và do đó nó chỉ đến không tưởng bị che khuất bởi sự phân loại thế giới thành cái vĩnh cửu và cái nhất thời. Trong tiểu luận nhấn mạnh, tư tưởng loại bỏ ý niệm truyền thống về chân lý.
Tiểu luận đồng thời đình chỉ khái niệm truyền thống về phương pháp. Tư tưởng có được chiều sâu của nó từ việc thâm nhập sâu vào một vấn đề, chứ không phải từ việc quy chiếu nó về một cái gì khác. Ở điểm này, tiểu luận trở nên bút chiến bằng cách xử lý những gì thường được cho là phái sinh, mà không tuy nhiên theo đuổi sự phái sinh cuối cùng của nó. Tiểu luận tự do liên kết những gì có thể được tìm thấy liên kết trong đối tượng được lựa chọn tự do. Nó không khăng khăng một cách bướng bỉnh vào một lĩnh vực siêu việt mọi trung gian - và chúng là những trung gian lịch sử trong đó toàn bộ xã hội được trầm tích lại - mà đúng hơn, tiểu luận tìm kiếm các nội dung chân lý như là lịch sử trong chính chúng. Nó không quan tâm đến bất kỳ điều kiện nguyên thủy nào được cho là để chống lại tính xã hội giả tạo của xã hội, thứ tính xã hội, chỉ vì nó không dung thứ cho bất cứ điều gì không bị nó đóng dấu, cuối cùng không dung thứ cho bất cứ điều gì biểu thị sự toàn hiện của chính nó và nhất thiết phải trích dẫn, như là sự bổ sung ý thức hệ của nó, thứ tự nhiên mà chính thực tiễn của nó loại bỏ. Tiểu luận âm thầm từ bỏ ảo tưởng rằng tư tưởng có thể thoát khỏi thesis (luận đề) để vào physis (tự nhiên), thoát khỏi văn hóa để vào tự nhiên. Bị mê hoặc bởi những gì cố định và thừa nhận là được suy ra, bởi các tạo tác, tiểu luận tôn vinh tự nhiên bằng cách xác nhận rằng nó không còn tồn tại đối với con người. Chủ nghĩa Alexandria của tiểu luận đáp lại thực tế rằng, bằng chính sự tồn tại của chúng, cây tử đinh hương và chim sơn ca, bất cứ nơi nào lưới phổ quát cho phép chúng tồn tại, chỉ muốn đánh lừa chúng ta rằng sự sống vẫn còn sống. Tiểu luận từ bỏ con đường chính dẫn đến các nguồn gốc, con đường dẫn đến cái phái sinh nhất, đến tồn tại, ý thức hệ chỉ đơn giản là nhân đôi cái đã tồn tại; đồng thời tiểu luận không cho phép ý niệm về tính trực tiếp, được giả định bởi chính khái niệm trung gian, biến mất hoàn toàn. Mọi cấp độ của cái được trung gian đều trực tiếp đối với tiểu luận, trước khi sự phản tư của nó bắt đầu.
Cũng như tiểu luận phủ nhận bất kỳ sự cho sẵn nguyên thủy nào, nó cũng từ chối bất kỳ định nghĩa nào về các khái niệm của nó. Triết học đã hoàn thành sự phê phán đầy đủ nhất về định nghĩa từ những quan điểm đa dạng nhất, bao gồm cả của Kant, Hegel và Nietzsche. Nhưng khoa học chưa bao giờ tiếp thu sự phê phán này. Trong khi phong trào bắt đầu từ Kant, một phong trào chống lại các tàn dư kinh viện trong tư duy hiện đại, thay thế định nghĩa bằng lời bằng một sự hiểu biết về các khái niệm như một phần của quá trình trong đó chúng được hiện thân theo thời gian, các ngành khoa học cá biệt lại khăng khăng một cách bướng bỉnh vào công việc định nghĩa tiền-phê phán và làm như vậy vì lợi ích của sự an toàn không bị xáo trộn trong hoạt động của chúng. Về mặt này, những người theo chủ nghĩa thực chứng mới, những người đồng nhất triết học với phương pháp khoa học, đồng ý với Chủ nghĩa Kinh viện. Tiểu luận, ngược lại, đưa xung lực chống hệ thống vào chính quy trình của mình, và giới thiệu các khái niệm một cách trực tiếp, "tức thì", như nó tiếp nhận chúng. Chúng chỉ có được sự chính xác thông qua mối quan hệ của chúng với nhau. Tuy nhiên, trong điều này, tiểu luận nhận được một số hỗ trợ từ chính các khái niệm. Vì đó chỉ là một sự mê tín của một nền khoa học chỉ quan tâm đến việc chiếm đoạt nguyên liệu thô khi tin rằng các khái niệm tự chúng là không xác định, rằng chúng chỉ được xác định lần đầu tiên bởi định nghĩa của chúng. Khoa học yêu cầu hình ảnh của khái niệm như một tabula rasa (tấm bảng trống), để đảm bảo yêu sách thống trị của nó; yêu sách là quyền lực duy nhất đứng đầu bàn tiệc. Thực ra, tất cả các khái niệm đã được cụ thể hóa một cách ngầm ẩn thông qua ngôn ngữ mà chúng tồn tại trong đó. Tiểu luận bắt đầu với những ý nghĩa như vậy và, bản thân nó về cơ bản là ngôn ngữ, nó thúc đẩy những ý nghĩa này đi xa hơn; nó muốn giúp ngôn ngữ, trong mối quan hệ của nó với các khái niệm, nắm bắt các khái niệm này một cách phản tư theo cách chúng đã được đặt tên một cách vô thức trong ngôn ngữ. Nỗ lực đó đã được hình dung bởi quy trình phân tích ý nghĩa trong hiện tượng học; chỉ có ở đó mối quan hệ của các khái niệm với ngôn ngữ bị vật hóa. Tiểu luận vẫn hoài nghi về điều này cũng như về định nghĩa. Không chút biện hộ, tiểu luận tự rước lấy lời trách móc rằng nó không biết một cách chắc chắn những gì được hiểu là nội dung thực sự của các khái niệm. Bởi vì tiểu luận nhận thấy rằng khao khát những định nghĩa nghiêm ngặt từ lâu đã đưa ra, thông qua các thao tác cố định hóa ý nghĩa của các khái niệm, việc loại bỏ các yếu tố khó chịu và nguy hiểm của những sự vật sống trong các khái niệm. Tuy nhiên, tiểu luận không thể làm mà không có các khái niệm chung - ngay cả ngôn ngữ không vật hóa khái niệm cũng không thể làm mà không có khái niệm - cũng không đối xử với chúng một cách tùy tiện. Do đó, nó xem xét vấn đề trình hiện một cách nghiêm túc hơn những quy trình tách biệt phương pháp khỏi vật liệu và thờ ơ với cách chúng trình hiện các nội dung đã được khách thể hóa của chúng. Cái cách của biểu đạt nên cứu vớt, trong sự chính xác, những gì sự từ chối phác thảo hy sinh, mà không, tuy nhiên, phản bội vấn đề dự định cho sự tùy tiện của các ý nghĩa đã được định trước. Trong lĩnh vực này, Walter Benjamin là một bậc thầy vô song. Tuy nhiên, sự chính xác như vậy không thể vẫn còn mang tính nguyên tử. Không kém hơn, mà còn hơn cả quá trình định nghĩa, tiểu luận thúc đẩy sự tương tác tương hỗ của các khái niệm của nó trong quá trình kinh nghiệm trí tuệ. Trong tiểu luận, các khái niệm không xây dựng một chuỗi liên tục các hoạt động, tư tưởng không tiến theo một hướng duy nhất, mà các khía cạnh của lập luận đan xen vào nhau như trong một tấm thảm. Sự phong phú của các tư tưởng phụ thuộc vào mật độ của kết cấu này. Thực ra, người tư tưởng không ...nghĩ, mà đúng hơn là tự biến mình thành một trường đấu của kinh nghiệm trí tuệ, không hề giản lược nó. Trong khi ngay cả tư duy truyền thống cũng kín đáo múc lấy những xung lực của mình từ kinh nghiệm ấy, thì chính cái hình thức của tư duy đó lại xóa sạch đi ký ức về những xung lực này. Tiểu luận, mặt khác, lại lấy chúng làm khuôn mẫu cho mình, không chỉ đơn thuần bắt chước chúng như một hình thức phản chiếu; nó trung gian hóa chúng thông qua tổ chức khái niệm của riêng nó; nó tiến hành, có thể nói, một cách phi phương pháp một cách có phương pháp.
Cái cách mà tiểu luận chiếm dụng các khái niệm có thể so sánh dễ dàng nhất với hành vi của một kẻ buộc phải nói tiếng xứ người, thay vì chắp vá nó từ những mẩu vụn như thuở cắp sách tới trường. Kẻ ấy sẽ đọc mà không cần từ điển. Nếu y đã nhìn vào cùng một từ ba mươi lần, trong những văn cảnh không ngừng biến đổi, y sẽ nắm bắt nó một cách sáng tỏ hơn là tra cứu tất cả các nghĩa của từ; những nghĩa thường quá hẹp, xét rằng chúng thay đổi tùy thuộc vào văn cảnh, và quá mơ hồ khi nhìn vào những sắc thái mà văn cảnh thiết lập trong mỗi trường hợp riêng lẻ. Cũng như việc học như vậy luôn phơi mình trước sai lầm, tiểu luận với tư cách là hình thức cũng vậy; nó phải trả giá cho sự gần gũi của mình với kinh nghiệm trí tuệ rộng mở bằng việc thiếu đi sự an toàn, một sự thiếu hụt mà chuẩn mực của tư duy đã được thiết lập sợ hãi như sợ cái chết. Không phải tiểu luận phớt lờ sự chắc chắn không thể chối cãi, mà là nó bãi bỏ lý tưởng đó. Tiểu luận trở nên chân thực trong sự tiến triển của nó, thứ thúc đẩy nó vượt ra ngoài chính nó, chứ không phải trong một nỗi ám ảnh tích trữ những điều cơ bản. Các khái niệm của nó nhận được ánh sáng từ một terminus ad quem (điểm đến) ẩn giấu đối với chính tiểu luận, chứ không phải từ một terminus a quo (điểm xuất phát) hiển nhiên. Trong điều này, chính phương pháp của tiểu luận đã biểu đạt ý hướng không tưởng. Tất cả các khái niệm của nó đều có thể trình bày theo cách chúng hỗ trợ lẫn nhau, mỗi khái niệm tự khớp nối theo cấu hình mà nó tạo thành với những khái niệm khác. Trong tiểu luận, các yếu tố được tách biệt một cách kín đáo đi vào một văn cảnh có thể đọc được; nó không dựng lên giàn giáo, không xây nên lâu đài. Thông qua chuyển động của riêng mình, các yếu tố kết tinh thành một cấu hình. Nó là một trường lực, cũng như dưới cái nhìn của tiểu luận, mọi tạo tác trí tuệ phải tự biến mình thành một trường lực.
Tiểu luận nhẹ nhàng thách thức những lý tưởng về clara et distincta perceptio (tri giác rõ ràng và phân minh) và về sự chắc chắn tuyệt đối. Nhìn chung, nó có thể được diễn giải như một sự phản kháng chống lại bốn quy tắc mà Discours de la Méthode (Luận về Phương pháp) của Descartes đặt ra ở buổi đầu của khoa học phương Tây hiện đại và lý thuyết của nó. Quy tắc thứ hai, việc phân rã đối tượng thành "càng nhiều phần càng tốt và càng cần thiết cho giải pháp thỏa đáng của nó", đã công thức hóa sự phân tích các yếu tố mà dưới dấu hiệu của nó, lý thuyết truyền thống đánh đồng một trật tự khái niệm với cấu trúc của tồn tại. Nhưng đối tượng của tiểu luận, tức tạo tác, từ chối mọi sự phân tích các yếu tố của nó và chỉ có thể được cấu trúc từ ý niệm đặc thù của nó; không phải ngẫu nhiên mà Kant đã xử lý các tác phẩm nghệ thuật và các sinh vật một cách tương tự, mặc dù đồng thời ông nhấn mạnh, chống lại mọi chủ nghĩa tối nghĩa lãng mạn, việc phân biệt chúng. Toàn thể cũng ít được bản thể hóa thành một nguyên lý đệ nhất như sản phẩm của sự phân tích, tức các yếu tố. Đối lập với cả hai, tiểu luận được thông báo bởi ý niệm về sự tương tác đó, thứ trên thực tế dung thứ cho câu hỏi về các yếu tố cũng ít như câu hỏi về cái cơ bản. Các yếu tố đặc thù cũng không được phát triển một cách thuần túy từ toàn thể, và ngược lại. Tạo tác là một đơn tử, nhưng nó lại không phải; các yếu tố của nó, với tư cách là một loại khái niệm, chỉ ra bên ngoài đối tượng đặc thù nơi chúng tụ hội. Nhưng tiểu luận không đi theo các yếu tố này đến điểm mà chúng tự hợp pháp hóa mình, ở phía bên kia của đối tượng đặc thù; nếu không nó sẽ biến thành một loại vô hạn tồi tệ. Thay vào đó, tiểu luận đến rất gần với cái tại đây và bây giờ của đối tượng, đến điểm mà đối tượng đó, thay vì chỉ đơn giản là một đối tượng, tự phân ly thành những yếu tố mà trong đó nó có sự sống của mình.
Quy tắc thứ ba của Descartes, "dẫn dắt tư tưởng của tôi theo một trật tự sao cho, bằng cách bắt đầu với những gì đơn giản nhất và dễ biết nhất, tôi có thể đi lên từng chút một, từng bước một, đến tri thức về những gì phức tạp hơn", bị hình thức của tiểu luận phản bác một cách sắc bén ở chỗ nó bắt đầu với cái phức tạp nhất, chứ không phải cái đơn giản nhất, thứ trong mọi trường hợp đều là cái quen thuộc. Tiểu luận với tư cách là hình thức sẽ là một người dẫn đường tốt cho kẻ mới bắt đầu nghiên cứu triết học, và trước mắt kẻ đó, ý niệm về triết học bằng cách nào đó đã hiện diện. Kẻ ấy sẽ khó mà bắt đầu bằng việc đọc những tác giả dễ nhất, những người mà lẽ thường của họ sẽ lướt trên bề mặt nơi cần có chiều sâu; kẻ ấy sẽ tìm đến những tác giả được cho là khó, những người soi sáng những gì đơn giản và làm nó tỏ tường như một "lập trường của tâm trí đối với khách quan tính". Sự ngây thơ của người sinh viên, kẻ mà đối với nó, cái khó và đáng gờm có vẻ đủ tốt, lại khôn ngoan hơn sự mô phạm của người lớn, thứ cảnh cáo tư tưởng bằng một ngón tay đe dọa phải hiểu cái đơn giản trước khi mạo hiểm với sự phức tạp, thứ duy nhất lôi cuốn nó. Sự trì hoãn tri thức như vậy chỉ ngăn cản tri thức. Đối lập với lời sáo rỗng về "sự dễ hiểu", cái quan niệm về chân lý như một mạng lưới nhân quả, tiểu luận nhấn mạnh rằng một vấn đề phải được xem xét, ngay từ đầu, trong toàn bộ sự phức tạp của nó; nó chống lại sự sơ khai chai cứng luôn liên minh với hình thức hiện hành của lý tính. Trong khi khoa học xử lý những khó khăn và phức tạp của một thực tại đối kháng và bị chia cắt theo kiểu đơn tử theo sự mong đợi của xã hội này bằng cách quy giản chúng thành những mô hình đơn giản hóa rồi sau đó phân biệt chúng một cách muộn màng bằng những vật liệu bịa đặt, thì tiểu luận rũ bỏ ảo tưởng về một thế giới đơn giản, về cơ bản là logic, thứ hoàn toàn phù hợp với việc bảo vệ hiện trạng. Sự phân biệt của nó không phải là một sự bổ sung, mà là phương tiện của nó. Tư duy đã được thiết lập sẵn sàng quy sự phân biệt đó cho tâm lý đơn thuần của tác giả và rồi nghĩ rằng nó đã xử lý thỏa đáng vấn đề. Những phản đối khoa học khoa trương đối với sự quá tinh vi thực ra không nhắm vào phương pháp trơ tráo không đáng tin cậy mà vào các khía cạnh khó chịu của đối tượng mà tiểu luận tiết lộ.
Quy tắc thứ tư của Descartes rằng người ta "trong mọi trường hợp nên thiết lập những sự liệt kê đầy đủ và những cuộc khảo sát tổng quát như vậy" để người ta "chắc chắn không bỏ sót điều gì" - nguyên tắc tối hậu này của tư duy hệ thống - tái xuất hiện không thay đổi trong cuộc bút chiến của Kant chống lại tư duy "ngẫu hứng" của Aristotle. Quy tắc này tương ứng với sự phản đối đặc biệt đối với tiểu luận rằng, theo lời của vị hiệu trưởng, nó không đầy đủ, trong khi rõ ràng là mọi đối tượng, và trên hết là một đối tượng văn hóa, bao hàm vô số khía cạnh, sự lựa chọn giữa chúng chỉ có thể được quyết định bởi ý hướng của người nhận thức. "Cuộc khảo sát tổng quát" sẽ chỉ có thể thực hiện được nếu nó được xác định trước rằng đối tượng đang được đề cập có thể được nắm bắt hoàn toàn bởi các khái niệm xử lý nó; rằng không còn sót lại gì mà không thể được dự liệu bởi những khái niệm này. Theo giả định đó, quy tắc yêu cầu liệt kê đầy đủ các yếu tố riêng lẻ tuyên bố rằng đối tượng có thể được trình bày trong một hệ thống suy diễn kín kẽ: một giả định của một triết học đồng nhất. Với tư cách là một kỹ thuật tư duy thực tiễn, ví dụ như trong sự nhấn mạnh vào định nghĩa, quy tắc của Descartes đã tồn tại lâu hơn định lý duy lý mà nó được thành lập trên đó: một cái nhìn tổng quan toàn diện và một sự liên tục trong trình bày được thúc ép ngay cả đối với quy trình khoa học mở về mặt kinh nghiệm. Theo cách này, lương tâm trí tuệ, thứ mà trong triết học của Descartes, lẽ ra phải canh giữ sự cần thiết của tri thức, bị biến đổi thành sự tùy tiện của một "khung tham chiếu". Để thỏa mãn một nhu cầu phương pháp luận và để hỗ trợ sự hợp lý của toàn thể, nó trở thành một học thuyết tiên đề được thiết lập như cánh cổng dẫn vào tư duy trong khi không còn khả năng chứng minh tính hợp lệ hay bằng chứng của chính nó. Hoặc, trong phiên bản tiếng Đức, nó trở thành một "dự án" (Entwurf), với tuyên bố đầy cảm xúc về việc vươn tới tồn tại, chỉ đơn giản là đàn áp các điều kiện chủ quan của nó. Sự khăng khăng về tính liên tục của quá trình tư duy có xu hướng tạo ra định kiến về sự mạch lạc bên trong của đối tượng, sự hài hòa của chính nó. Một trình bày liên tục sẽ mâu thuẫn với vật liệu đầy rẫy những đối kháng chừng nào nó không đồng thời định nghĩa sự liên tục như là sự gián đoạn.
Một cách vô thức và xa rời lý thuyết, nhu cầu nảy sinh trong tiểu luận với tư cách là hình thức để hủy bỏ các yêu sách lỗi thời về mặt lý thuyết của tính toàn thể và tính liên tục, và làm như vậy trong quy trình cụ thể của trí tuệ. Nếu tiểu luận đấu tranh một cách thẩm mỹ chống lại phương pháp thiển cận không muốn bỏ sót điều gì, nó đang tuân theo một động cơ nhận thức luận. Quan niệm lãng mạn về mảnh vỡ như một tạo tác không hoàn chỉnh trong chính nó nhưng vươn mình một cách cởi mở vào vô hạn thông qua sự tự phản tư, đã biện hộ cho động cơ chống duy tâm này ngay cả giữa lòng chủ nghĩa duy tâm. Ngay cả trong cách thức trình bày của nó, tiểu luận cũng từ chối hành xử như thể nó đã suy ra đối tượng của mình và đã vét cạn chủ đề. Sự tự tương đối hóa là nội tại trong hình thức của nó; nó phải được cấu trúc theo cách mà nó luôn luôn, và tại bất kỳ điểm nào, cũng có thể ngắt quãng. Nó suy nghĩ theo từng mảnh vỡ cũng như thực tại bị phân mảnh và chỉ đạt được sự thống nhất của nó bằng cách di chuyển qua các kẽ nứt, thay vì lấp liếm chúng. Sự nhất trí của trật tự logic lừa dối chúng ta về bản chất đối kháng của cái mà nó đã được áp đặt lên một cách ngạo mạn. Sự gián đoạn là cốt yếu đối với tiểu luận; mối bận tâm của nó luôn là một xung đột được đưa đến chỗ bế tắc. Trong khi tiểu luận điều chỉnh các khái niệm cho phù hợp với nhau nhờ vào chức năng của chúng trong hình bình hành của các lực của vật liệu, nó co rúm lại trước khái niệm bao trùm mà các khái niệm cụ thể phải bị phụ thuộc vào; những gì khái niệm bao trùm chỉ giả vờ hoàn thành, phương pháp của tiểu luận nhận ra là không thể giải quyết được trong khi vẫn cố gắng hoàn thành nó. Từ "tiểu luận" trong đó không tưởng của tư duy về việc bắn trúng hồng tâm hợp nhất với ý thức về sự sai lầm và tính chất tạm thời của chính nó cho thấy một điều gì đó, giống như hầu hết các thuật ngữ tồn tại trong lịch sử, về hình thức, tầm quan trọng của nó được khuếch đại bởi thực tế là nó không phải là kết quả của một chương trình mà là một đặc điểm của ý hướng dò dẫm của hình thức. Tiểu luận phải để cho toàn thể tỏa sáng trong một trong những đặc điểm được chọn lựa hoặc tình cờ của nó nhưng không khẳng định rằng toàn thể hiện diện. Nó sửa chữa các khía cạnh cô lập và ngẫu nhiên của những hiểu biết của mình bằng cách cho phép chúng nhân lên, xác nhận và tự hạn chế - dù trong tiến trình riêng của tiểu luận hay trong mối quan hệ giống như tranh khảm của nó với các tiểu luận khác; và nó làm như vậy không phải bằng cách trừu tượng hóa các đặc điểm từ những hiểu biết của mình. "Vì vậy, tiểu luận tự phân biệt mình với một chuyên luận khoa học. Kẻ viết một cách tiểu luận là kẻ viết trong khi thử nghiệm, kẻ lật qua lật lại đối tượng của mình, kẻ chất vấn nó, cảm nhận nó, kiểm tra nó, phản tư kỹ lưỡng về nó, tấn công nó từ các góc độ khác nhau, và trong mắt tâm trí mình thu thập những gì y thấy, và đặt thành lời những gì đối tượng cho phép được nhìn thấy dưới các điều kiện được thiết lập trong quá trình viết." Sự bất mãn với quy trình này, cảm giác rằng nó có thể tiếp diễn vô tận, có chân lý và phi chân lý của nó. Chân lý của nó, bởi vì trên thực tế, tiểu luận không đi đến kết luận cuối cùng và làm rõ sự bất lực của mình trong việc làm như vậy bằng cách nhại lại chính cái a priori (tiên nghiệm) của nó; sau đó nó bị gán cho cái lỗi mà thực ra thuộc về những hình thức xóa sạch mọi dấu vết của tùy tiện. Tuy nhiên, sự bất mãn đó với tiểu luận đồng thời cũng là phi chân lý bởi vì, với tư cách là một chòm sao, tiểu luận không phải là tùy tiện theo cách mà nó có vẻ như đối với một chủ nghĩa chủ quan triết học, thứ dịch các yêu cầu của đối tượng thành các yêu cầu của tổ chức khái niệm của nó. Tiểu luận được quyết định bởi sự thống nhất của đối tượng của nó, cùng với sự thống nhất của lý thuyết và kinh nghiệm đã di cư vào đối tượng. Sự cởi mở của tiểu luận không phải là một cởi mở mơ hồ của cảm giác và tâm trạng, mà có được đường nét của nó từ nội dung của nó. Nó chống lại ý niệm về kiệt tác, thứ phản ánh ý niệm về sáng tạo và tính toàn thể. Hình thức của nó tuân theo tư tưởng phê phán rằng con người không phải là đấng sáng tạo, rằng không có gì thuộc về con người là sáng tạo. Tiểu luận, luôn hướng tới các tạo tác, không tự trình diện mình như một sáng tạo; nó cũng không khao khát một cái gì đó bao trùm tất cả, cái toàn thể của nó sẽ giống như sáng tạo. Tính toàn thể của nó, sự thống nhất của một hình thức được cấu trúc kỹ lưỡng trong chính nó, là thống nhất của phi-toàn thể; một thống nhất mà ngay cả với tư cách là hình thức cũng không khẳng định luận đề về sự đồng nhất của tư tưởng và sự vật, luận đề mà trong chính nội dung của nó, tiểu luận đã bác bỏ. Sự tự do khỏi áp lực của đồng nhất thỉnh thoảng mang lại cho tiểu luận (và điều này thiếu trong tư duy chính thức) một khía cạnh không thể xóa nhòa, một màu sắc không thể dập tắt. Ở Simmel, một số từ nước ngoài nhất định - cachet, attitude (phong thái, thái độ) - đã phản bội ý hướng này, mà không được xử lý về mặt lý thuyết như vậy.
Tiểu luận vừa cởi mở hơn vừa khép kín hơn những gì tư duy truyền thống mong muốn. Nó cởi mở hơn ở chỗ, thông qua bản chất bên trong của nó, nó phủ nhận bất cứ điều gì có hệ thống và tự thỏa mãn tốt hơn khi nó loại trừ hệ thống một cách nghiêm ngặt hơn; những tàn dư của hệ thống trong tiểu luận như sự xâm nhập của các nghiên cứu văn học với những lời sáo rỗng triết học có sẵn, lan rộng, mà các nghiên cứu này cố gắng làm cho mình trở nên đáng kính, không có giá trị gì hơn những điều tầm thường về tâm lý. Mặt khác, tiểu luận khép kín hơn ở chỗ nó lao động một cách nhấn mạnh vào hình thức trình bày của nó. Ý thức về sự bất đồng nhất giữa trình bày và vật liệu được trình bày buộc hình thức phải nỗ lực không giới hạn. Chỉ riêng ở khía cạnh đó, tiểu luận mới giống nghệ thuật; mặt khác, do các khái niệm xuất hiện trong nó và chúng không chỉ mang theo ý nghĩa mà còn cả các khía cạnh lý thuyết của chúng, tiểu luận nhất thiết liên quan đến lý thuyết. Chắc chắn, tiểu luận tự liên hệ với lý thuyết một cách thận trọng như với khái niệm. Nó không suy diễn một cách cứng nhắc từ lý thuyết - lỗi cốt tử của tất cả các tác phẩm tiểu luận sau này của Lukács - cũng không phải là một khoản trả trước cho các tổng hợp trong tương lai. Thảm họa đe dọa kinh nghiệm trí tuệ khi nó càng cố gắng hóa thạch thành lý thuyết và hành động như thể nó đang nắm giữ hòn đá của nhà giả kim trong tay. Và tuy nhiên, chính kinh nghiệm trí tuệ tự nó phấn đấu theo bản chất của nó hướng tới sự khách thể hóa như vậy. Đối nghịch này được phản chiếu bởi tiểu luận. Cũng như nó hấp thụ các khái niệm và kinh nghiệm, nó cũng hấp thụ các lý thuyết. Tuy nhiên, mối quan hệ của nó với chúng không phải là của một lập trường. Nếu sự thiếu lập trường này không còn ngây thơ và phụ thuộc vào sự nổi bật của các đối tượng của nó; nếu tiểu luận đúng hơn sử dụng mối quan hệ với các đối tượng của nó như một vũ khí chống lại sự mê hoặc của những khởi đầu, nó nhại lại một cách hài hước cuộc bút chiến vốn yếu ớt của cái nghĩ chống lại triết học lập trường đơn thuần. Tiểu luận nuốt chửng những lý thuyết ở gần; xu hướng của nó luôn hướng tới việc thanh lý ý kiến, ngay cả ý kiến mà từ đó nó lấy xung lực của chính mình. Tiểu luận vẫn là những gì nó vốn có, hình thức phê phán hoàn hảo; cụ thể, nó cấu trúc sự phê phán nội tại của các tạo tác văn hóa, và nó đối chất cái mà các tạo tác đó là với khái niệm của chúng; đó là sự phê phán ý thức hệ. "Tiểu luận là hình thức của phạm trù phê phán của tâm trí chúng ta. Vì bất cứ ai phê phán đều nhất thiết phải thử nghiệm; người đó phải tạo ra các điều kiện mà dưới đó một đối tượng được nhìn nhận mới mẻ, và người đó phải làm như vậy theo một cách khác với của một tác giả sáng tạo. Trên hết, sự mong manh của đối tượng phải được thăm dò, thử nghiệm; đây chính xác là ý nghĩa của sự biến đổi nhỏ mà một đối tượng trải qua trong tay nhà phê bình của nó."
Nếu tiểu luận bị cáo buộc là thiếu lập trường và có xu hướng tương đối luận vì nó không công nhận lập trường nào nằm ngoài chính nó, thì cáo buộc đó ngầm chứa quan niệm về chân lý như một cái gì đó "có sẵn", một hệ thống cấp bậc các khái niệm, một hình ảnh về chân lý mà Hegel đã phá hủy trong sự không ưa của ông đối với các lập trường: ở điểm này, tiểu luận chạm đến cực đối lập của nó, triết học về tri thức tuyệt đối. Tiểu luận muốn chữa trị cho tư tưởng khỏi sự tùy tiện của nó bằng cách đưa sự tùy tiện vào quy trình của chính nó một cách phản tư thay vì che đậy nó như là sự tự phát.
Triết học Hegel chắc chắn vẫn bị mắc kẹt trong sự mâu thuẫn rằng nó đã chỉ trích khái niệm trừu tượng, bao trùm, cái "kết quả" đơn thuần, nhân danh một quá trình gián đoạn bên trong, trong khi đồng thời, trong truyền thống duy tâm, lại nói về phương pháp biện chứng. Do đó, tiểu luận biện chứng hơn cả phép biện chứng khi nó tự trình bày. Tiểu luận nắm bắt logic Hegel ngay từ lời nói của nó: chân lý của toàn thể không được đem ra đối chọi ngay lập tức với các phán đoán cá nhân, cũng không được quy giản chân lý về các phán đoán cá nhân; đúng hơn, yêu sách của cái đặc thù đối với chân lý được thực hiện một cách nghĩa đen đến mức có bằng chứng về sự phi chân lý của nó. Khía cạnh mạo hiểm, dự đoán trước và chưa được cứu chuộc hoàn toàn của mọi chi tiết trong tiểu luận kéo theo các chi tiết khác như là sự phủ định; sự phi chân lý mà tiểu luận cố ý vướng vào chính là yếu tố của chân lý của nó. Sự phi chân lý chắc chắn cũng nằm trong hình thức cơ bản của tiểu luận, trong mối quan hệ của nó với những gì được định hình và phái sinh về mặt văn hóa như thể nó là một cái gì đó tự thân. Nhưng tiểu luận càng mạnh mẽ đình chỉ khái niệm về một nguyên lý đệ nhất nào đó, nó càng từ chối kéo sợi văn hóa ra khỏi tự nhiên, nó càng nhận ra một cách cơ bản hơn bản chất tự nhiên không ngừng của chính văn hóa. Cho đến ngày nay, một sự kết nối tự nhiên mù quáng, một huyền thoại, tự duy trì trong văn hóa. Chính điều này là cái mà tiểu luận phản tư: chủ đề riêng của nó là mối tương quan giữa tự nhiên và văn hóa. Không phải ngẫu nhiên mà, thay vì "quy giản" tạo tác, tiểu luận lại đắm mình vào các hiện tượng văn hóa như vào một tự nhiên thứ hai, một sự trực tiếp thứ hai, để thông qua sự kiên trì loại bỏ ảo tưởng về sự trực tiếp. Tiểu luận tự lừa dối mình cũng ít như triết học về các nguồn gốc về sự khác biệt giữa văn hóa và cái nằm bên dưới nó. Tuy nhiên, đối với tiểu luận, văn hóa không phải là một hiện tượng phụ được chồng lên trên tồn tại phải bị loại bỏ, mà đúng hơn những gì nằm bên dưới chính nó là nhân tạo (thesei), một xã hội giả dối. Do đó, đối với tiểu luận, các nguồn gốc không có ưu tiên hơn cấu trúc thượng tầng. Tiểu luận có được sự tự do trong việc lựa chọn các đối tượng, chủ quyền của nó đối với mọi ưu tiên của sự kiện hoặc lý thuyết là nhờ vào hoàn cảnh mà đối với nó, tất cả các đối tượng đều gần trung tâm như nhau, gần nguyên lý phù phép lên mọi thứ. Tiểu luận từ chối tôn vinh sự quan tâm đến cái nguyên thủy như một cái gì đó nguyên thủy hơn sự quan tâm đến cái được trung gian, bởi vì đối với tiểu luận, chính sự ưu tiên là một đối tượng của sự phản tư, một cái gì đó tiêu cực. Nó tương ứng với một tình huống trong đó cái nguyên thủy, với tư cách là một lập trường của tâm trí trong thế giới bị xã hội hóa một cách giả dối, trở thành một lời nói dối. Nó bao trùm một lãnh thổ rộng lớn từ việc tôn thờ như những từ nguyên thủy các khái niệm lịch sử được chiết xuất từ các ngôn ngữ lịch sử, đến việc giảng dạy học thuật về "viết sáng tạo"; từ sự nguyên thủy của cửa hàng thủ công đến sáo recorder và vẽ bằng ngón tay: trong mọi trường hợp, sự cần thiết sư phạm tự đặt mình lên như một đức hạnh siêu hình. Tư tưởng không được miễn trừ khỏi cuộc nổi loạn của Baudelaire trong thi ca chống lại tự nhiên như một khu bảo tồn xã hội. Ngay cả những thiên đường của tư tưởng cũng chỉ là nhân tạo, và trong đó tiểu luận tự thưởng thức. Vì, theo châm ngôn của Hegel, không có gì giữa trời và đất mà không được trung gian, tư tưởng chỉ có thể giữ đúng với ý niệm về tính trực tiếp thông qua cái được trung gian, nhưng nó trở thành con mồi của cái được trung gian ngay khi nó nắm bắt trực tiếp cái không được trung gian. Một cách khôn khéo, tiểu luận tự ổn định trong các văn bản, như thể chúng chỉ đơn giản ở đó và có thẩm quyền; không có ảo tưởng về cái nguyên thủy, nó có được dưới chân mình một nền tảng, dù đáng ngờ, có thể so sánh với sự thông diễn thần học trước đây về các văn bản thánh. Tuy nhiên, xung lực của tiểu luận hoàn toàn ngược lại với thần học; nó mang tính phê phán: thông qua sự đối chất của các văn bản với khái niệm nhấn mạnh của chính chúng, với chân lý mà mỗi văn bản hướng tới ngay cả khi bất chấp chính nó, để phá tan yêu sách của văn hóa và thúc đẩy nó nhớ lại sự phi chân lý của mình - sự phi chân lý của mặt tiền ý thức hệ đó, thứ tiết lộ sự ràng buộc của văn hóa với tự nhiên. Dưới cái nhìn của tiểu luận, tự nhiên thứ hai trở nên ý thức về chính nó như là tự nhiên thứ nhất.
Nếu chân lý của tiểu luận có được động lực của nó thông qua sự phi chân lý của nó, thì chân lý của nó không phải được tìm kiếm trong sự đối lập đơn thuần với những gì thấp hèn và bị cấm đoán trong nó, mà trong chính những điều này: trong sự linh động của nó, sự thiếu vắng cái vững chắc mà khoa học đòi hỏi, chuyển nó, có thể nói, từ các mối quan hệ sở hữu sang trí tuệ. Những kẻ tin rằng họ phải bảo vệ trí tuệ chống lại cáo buộc thiếu vững chắc chính là kẻ thù của trí tuệ: bản thân trí tuệ, một khi được giải phóng, là linh động. Ngay khi nó muốn nhiều hơn là sự lặp lại hành chính và trình bày bị thao túng của những gì đã tồn tại, nó bằng cách nào đó bị phơi bày; chân lý bị cuộc chơi từ bỏ sẽ không gì khác hơn là một sự lặp thừa. Do đó, về mặt lịch sử, tiểu luận có liên quan đến tu từ học, thứ mà tâm thức khoa học, kể từ Descartes và Francis Bacon, luôn muốn loại bỏ; tức là, cho đến khi, một cách thích hợp trong thời đại khoa học, tu từ học suy tàn và trở thành một khoa học sui generis (độc đáo), khoa học về giao tiếp. Dĩ nhiên, tu từ học luôn là một hình thức tư duy tự điều chỉnh cho phù hợp với ngôn ngữ giao tiếp. Nó hướng đến cái không được trung gian: sự thỏa mãn thay thế của khán giả. Tuy nhiên, tiểu luận bảo tồn trong chính quyền tự trị của sự trình bày của nó, thông qua đó nó tự phân biệt mình với phương thức giao tiếp khoa học, những dấu vết của tính giao tiếp mà khoa học đã loại bỏ. Những thú vui mà tu từ học muốn cung cấp cho khán giả của nó được thăng hoa trong tiểu luận thành ý niệm về niềm vui của sự tự do đối với đối tượng, sự tự do mang lại cho đối tượng nhiều hơn chính nó so với việc nó bị kết hợp một cách không thương tiếc vào trật tự của các ý niệm. Ý thức khoa học, thứ hướng chống lại bất kỳ ý niệm nhân hình nào, luôn gắn bó chặt chẽ với nguyên tắc thực tại và tương tự như vậy thù địch với hạnh phúc. Trong khi hạnh phúc được cho là mục tiêu của mọi sự thống trị đối với tự nhiên, nó luôn xuất hiện trước nguyên tắc thực tại như sự thoái lui về tự nhiên đơn thuần. Điều này có thể được nhìn thấy ngay cả trong các triết học cao nhất, bao gồm cả của Kant và Hegel. Lý tính, trong ý niệm tuyệt đối của nó mà các triết học này có được sự nồng nhiệt, bị chính họ tố cáo là một cái gì đó vừa hỗn xược vừa thiếu tôn trọng ngay khi nó thách thức hệ thống giá trị đã được thiết lập. Chống lại xu hướng này, tiểu luận cứu vớt một yếu tố ngụy biện. Sự thù địch với hạnh phúc của tư duy phê phán chính thức có thể được cảm nhận đặc biệt trong phép biện chứng siêu nghiệm của Kant: nó muốn vĩnh cửu hóa ranh giới giữa lý tính và tư biện, và, theo ẩn dụ đặc trưng của nó, để ngăn chặn bất kỳ "sự lang thang trong các thế giới khả niệm". Trong khi lý tính tự phê phán, theo Kant, nên giữ cả hai chân trên mặt đất, thực sự nên tự nền tảng hóa mình, nó tuân theo nguyên tắc sâu xa nhất của nó và tự niêm phong mình chống lại bất cứ điều gì mới cũng như chống lại sự tò mò, nguyên tắc khoái lạc của tư duy, thứ cũng bị bản thể học hiện sinh khiển trách. Cái mà trong nội dung tư tưởng của mình Kant phóng chiếu như mục tiêu của lý tính, không tưởng, sự sản sinh ra nhân loại, bị hình thức tư tưởng của ông, lý thuyết về tri thức, ngăn cấm; nó cấm lý tính vượt ra ngoài lĩnh vực kinh nghiệm, thứ, bị mắc kẹt trong bộ máy của vật chất đơn thuần và các phạm trù không thể thay đổi, bị quy giản thành cái đã luôn luôn là. Nhưng đối tượng của tiểu luận là cái mới như một cái gì đó thực sự mới, như một cái gì đó không thể dịch ngược lại thành sự cũ kỹ của các hình thức đã tồn tại. Bằng cách phản chiếu đối tượng mà không gây bạo lực cho nó, tiểu luận âm thầm than thở về sự thật rằng chân lý đã phản bội hạnh phúc và do đó phản bội chính nó; lời than thở này kích động cơn thịnh nộ chống lại tiểu luận. Trong tiểu luận, khía cạnh thuyết phục của giao tiếp, tương tự như sự biến đổi chức năng của nhiều đặc điểm trong âm nhạc tự trị, bị tha hóa khỏi mục tiêu ban đầu của nó và được chuyển đổi thành sự khớp nối thuần túy của sự trình bày trong chính nó; nó trở thành một cấu trúc hấp dẫn không muốn sao chép đối tượng, mà muốn tái cấu trúc nó từ những membra disjecta (mảnh vỡ) khái niệm của nó. Nhưng những sự chuyển tiếp đáng chê trách trong tu từ học, trong đó sự liên kết, sự mơ hồ của từ ngữ, sự bỏ qua tổng hợp logic đều làm cho người nghe dễ dàng, tròng ách họ vào ý muốn của người nói: tất cả những điều này được hợp nhất trong tiểu luận với nội dung chân lý của nó. Những sự chuyển tiếp của nó phủ nhận sự suy diễn cứng nhắc vì lợi ích của việc thiết lập các kết nối chéo bên trong, một cái gì đó mà logic diễn ngôn không dùng đến. Nó sử dụng sự nước đôi không phải vì cẩu thả cũng không phải vì không biết đến sự cấm đoán của khoa học, mà để làm rõ những gì thường vẫn còn tối tăm đối với sự phê phán sự nước đôi và sự phân biệt ý nghĩa đơn thuần của nó: bất cứ khi nào một từ có nhiều nghĩa, sự khác biệt không hoàn toàn rõ rệt, vì sự thống nhất của từ chỉ đến một sự thống nhất nào đó, dù ẩn giấu đến đâu, trong chính sự vật; tuy nhiên, rõ ràng không phải là trường hợp mà sự thống nhất này, như các triết học phục hồi đương đại tuyên bố, tự nó có thể được coi đơn giản là một sự thống nhất của các mối quan hệ ngôn ngữ. Ở đây cũng vậy, tiểu luận gần gũi với logic của âm nhạc, nghệ thuật chuyển tiếp nghiêm ngặt nhưng phi khái niệm; nó nhằm mục đích chiếm đoạt cho ngôn ngữ biểu cảm một cái gì đó mà nó đã đánh mất dưới sự thống trị của một logic diễn ngôn không thể bị phá vỡ, nhưng có thể bị qua mặt trong chính hình thức của nó bởi sức mạnh của một biểu hiện chủ quan xâm nhập. Bởi vì tiểu luận không nằm trong sự đối lập đơn giản với quy trình diễn ngôn. Nó không phi logic; đúng hơn nó tuân theo các tiêu chí logic ở chỗ toàn bộ các câu của nó phải khớp nhau một cách mạch lạc. Những mâu thuẫn đơn thuần có thể không tồn tại, trừ khi chúng được đặt nền tảng trong chính đối tượng. Chỉ là tiểu luận phát triển các tư tưởng khác với logic diễn ngôn. Tiểu luận không suy diễn từ một nguyên lý cũng không rút ra kết luận từ các quan sát riêng lẻ mạch lạc. Nó phối hợp các yếu tố, thay vì phụ thuộc chúng; và chỉ có bản chất của nội dung của nó, chứ không phải cách thức trình bày của nó, là tương xứng với các tiêu chí logic. Nếu, nhờ vào sự căng thẳng giữa trình bày và cái được trình bày, tiểu luận - so với các hình thức truyền tải chiếu lệ một nội dung có sẵn - năng động hơn tư duy truyền thống, thì đồng thời, với tư cách là một sự đặt cạnh nhau được cấu trúc của các yếu tố, nó lại tĩnh hơn tư duy truyền thống. Chỉ riêng điều đó đã tạo nên sự gần gũi của tiểu luận với hình ảnh thị giác; ngoại trừ việc tính tĩnh của tiểu luận tự nó được cấu thành từ những căng thẳng, có thể nói, đã được đưa đến chỗ đứng yên. Phẩm chất hơi mềm dẻo của tư duy của nhà tiểu luận buộc y phải có cường độ lớn hơn những gì tư duy diễn ngôn có thể cung cấp; bởi vì tiểu luận, không giống như tư duy diễn ngôn, không tiến hành một cách mù quáng, tự động, mà ở mọi thời điểm nó phải phản tư về chính nó. Tuy nhiên, sự phản tư này không chỉ mở rộng đến mối quan hệ của tiểu luận với tư duy đã được thiết lập, mà còn đến mối quan hệ của nó với tu từ học và giao tiếp. Nếu không, tiểu luận, trong khi tự cho mình là siêu khoa học, sẽ trở nên tiền khoa học một cách vô ích.
Cái xác đáng của tiểu luận là cái xác đáng của một điều lỗi thời. Thời thế đối với nó còn bất lợi hơn bao giờ hết. Nó đang bị nghiền nát giữa một bên là một nền khoa học có tổ chức, trong đó mọi người đều tự cho mình quyền kiểm soát mọi người và mọi thứ khác, và loại trừ, với lời khen ngợi đạo đức giả về "trực giác" hay "kích thích", bất cứ điều gì không phù hợp với hiện trạng; và, mặt khác, bởi một triết học chỉ làm việc với những tàn dư trống rỗng và trừu tượng bị bộ máy khoa học bỏ lại, những tàn dư sau đó trở thành, đối với triết học, đối tượng của các hoạt động cấp hai. Tuy nhiên, tiểu luận lại liên quan đến cái mù quáng trong các đối tượng của nó. Về mặt khái niệm, nó muốn thổi tung những gì không thể bị hấp thụ bởi các khái niệm, hoặc những gì, thông qua các mâu thuẫn mà các khái niệm tự vướng vào, phản bội sự thật rằng mạng lưới khách quan tính của chúng chỉ là một sự sắp đặt hoàn toàn chủ quan. Nó muốn phân cực cái mờ đục, để giải phóng các sức mạnh tiềm ẩn trong nó. Nó cố gắng cụ thể hóa nội dung như được quyết định bởi không gian và thời gian; nó cấu trúc những đan xen của các khái niệm theo cách mà chúng có thể được tưởng tượng như là chính chúng đan xen trong đối tượng. Nó tự giải phóng mình khỏi quy định của những thuộc tính mà kể từ định nghĩa trong Symposium đã được gán cho các ý niệm; cách hiểu rằng các ý niệm "tồn tại vĩnh cửu và không sinh ra cũng không mất đi, không thay đổi cũng không suy tàn"; "Một tồn tại được tạo ra vĩnh cửu trong chính nó và cho chính nó"; và tuy nhiên tiểu luận vẫn là ý niệm, ở chỗ nó không đầu hàng dưới gánh nặng của tồn tại đơn thuần, không cúi đầu trước những gì chỉ đơn thuần là. Nó không đo lường cái là bằng một tiêu chuẩn vĩnh cửu nào đó, mà bằng một fragment đầy nhiệt huyết của Nietzsche về cuối đời:
"Nếu chúng ta khẳng định một khoảnh khắc duy nhất, chúng ta do đó không chỉ khẳng định chính mình mà còn khẳng định tất cả sự tồn tại. Vì không có gì là tự đủ đầy, cả trong chúng ta lẫn trong sự vật: và nếu linh hồn chúng ta đã run rẩy vì hạnh phúc và vang lên như một dây đàn hạc chỉ một lần, cả vĩnh cửu đã cần thiết để tạo ra một sự kiện này và trong khoảnh khắc khẳng định duy nhất này, cả vĩnh cửu đã được gọi là trác việt, được cứu chuộc, được biện minh, và được khẳng định."
Chỉ có điều, tiểu luận không tin tưởng vào sự biện minh và khẳng định như vậy. Đối với hạnh phúc mà Nietzsche coi là thánh thiện, tiểu luận không có tên gọi nào khác ngoài cái tiêu cực. Ngay cả những biểu hiện cao nhất của trí tuệ thể hiện hạnh phúc cũng luôn luôn đồng thời bị mắc kẹt trong tội lỗi cản trở hạnh phúc chừng nào chúng vẫn còn là trí tuệ đơn thuần. Do đó, quy luật của hình thức sâu thẳm nhất của tiểu luận là dị giáo. Bằng cách vi phạm sự chính thống của tư tưởng, một cái gì đó trở nên hữu hình trong đối tượng mà mục đích bí mật của sự chính thống là giữ cho vô hình.
Ngô Dao Phương Lan dịch
