favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Thu 2026
Next

Adorno đọc Veblen (phần 1)

01/10/2026 09:45

Bài báo của Adorno ra đời năm 1941, khi Lý thuyết tầng lớp nhàn rỗi (1899) của Veblen, ra đời hơn bốn mươi năm trước đó, đã trở thành một kinh điển kinh tế - xã hội học. Lúc ấy Adorno mới sang Mỹ chừng ba năm - đến New York đầu năm 1938 để gia nhập Viện Nghiên cứu Xã hội, đồng thời làm việc cho Princeton Radio Research Project của Paul Lazarsfeld, một trong những trung tâm quan trọng của nghiên cứu truyền thông thực nghiệm. Sự va nhau giữa truyền thống Marx-Hegel của Frankfurt và thực dụng luận kiểu Dewey-James-Peirce hẳn là một trong các động lực cho tiểu luận này.

Trong số 9.3 của tạp chí Studies in Philosophy and Social Science ấy, bài Adorno đọc Veblen nằm ngay sau “The End of Reason” của Horkheimer, rồi Marcuse về công nghệ hiện đại, và Pollock về trật tự Quốc xã. Cảm tri sớm sủa về sự kinh hoàng trong kiến trúc thế kỷ XIX của Veblen, nơi nhà nuôi trẻ bị bỏ rơi khoác lên mình hình thức man rợ hung hãn của một pháo đài hiện ra ở đây như sự tiên tri về sự độc tài tàn bạo sẽ nuốt lấy thế kỷ XX - chính là lịch sử mà thế hệ Adorno phải gánh lấy.  

 

Cuộc tấn công của Veblen vào văn hóa 

- Theodor W. Adorno

Lý thuyết tầng lớp nhàn rỗi của Veblen nổi tiếng nhờ lý thuyết về tiêu thụ phô trương, theo đó, từ giai đoạn “săn mồi” rất sớm trong lịch sử cho đến hiện tại, việc tiêu thụ hàng hóa không nhằm thỏa mãn nhu cầu thực sự của con người hay mang lại điều mà Veblen muốn gọi là “sự viên mãn của đời sống” cho bằng nhằm duy trì uy thế xã hội - địa vị. Về mặt cảm năng, những kết luận Veblen rút ra từ việc phê phán tiêu thụ như sự khoe mẽ đơn thuần rất gần với chủ nghĩa công năng (functionalism) mà Adolf Loos đề xướng vào cùng giai đoạn ấy. Trong thực tiễn, chúng gần với các kết luận của chủ nghĩa kỹ trị (technocracy). Nhưng tuy đó là các yếu tố trong xã hội học Veblen đã phát huy tác động lịch sử, chúng vẫn chưa mô tả đầy đủ những xung lực khách quan trong tư tưởng ông, vốn nhằm chống lại tính chất man rợ của văn hóa. Ngay từ câu đầu tiên của tác phẩm, cụm từ “văn hóa man rợ” đã trở đi trở lại, bất động như một mặt nạ nghi lễ. Ông dùng thuật ngữ ấy để chỉ riêng một giai đoạn lịch sử, và quả thật là một giai đoạn rộng khác thường, kéo dài từ thợ săn và chiến binh cổ sơ đến lãnh chúa phong kiến và quân vương chuyên chế; ranh giới giữa giai đoạn ấy với thời kỳ tư bản chủ nghĩa được ông cố ý để mơ hồ. Tuy nhiên, ở vô số chỗ, ý định của ông rõ ràng là tố cáo hiện đại tính như một cái gì man rợ, chính tại những nơi nó khẳng định hùng hổ nhất rằng nó là văn hóa. Theo Veblen, chính những đặc điểm có vẻ chứng tỏ rằng hiện đại đã thoát khỏi nguyên tắc tất yếu trần trụi và trở nên nhân đạo lại là di tích của những thời đại lịch sử đã qua từ lâu. Với ông, sự giải phóng khỏi công dụng (utility) chẳng qua là dấu hiệu của một tình trạng vô mục đích nảy sinh từ việc các “thiết chế” văn hóa và đặc tính nhân học không biến đổi đồng thời và hài hòa với tư liệu sản xuất, mà tụt lại phía sau chúng và đôi khi công khai mâu thuẫn với chúng. Nếu đi theo hướng vận động của suy nghĩ Veblen, thay vì tập trung vào những diễn đạt dao động giữa cay độc và dè dặt của ông, ta sẽ đi đến hình dung rằng các đặc điểm văn hóa trong đó lòng tham, sự mưu cầu lợi riêng và tình trạng giam mình trong tính trực tiếp đơn thuần có vẻ đã được vượt qua thực ra chỉ là tàn dư của các hình thức lòng tham, tham vọng cá nhân và tính trực tiếp tồi tệ đã lỗi thời một cách khách quan. Chúng bắt nguồn từ nhu cầu chứng minh rằng người ta đã gạt bỏ những tính toán thực dụng thô thiển, đặc biệt là chứng minh rằng người ta có thể dành thời gian cho cái vô dụng để cải thiện vị trí của mình trong thứ bậc xã hội, gia tăng danh giá xã hội và củng cố quyền lực của mình đối với người khác. Văn hóa quay lưng với tính hữu ích để phục vụ một tính hữu ích qua trung gian. Nó mang dấu ấn của sự dối trá làm nền cho đời sống. Khi lần theo sự dối trá ấy, Veblen bộc lộ một sự bền bỉ không khác Freud, người cùng thời với ông, trong việc nghiên cứu “cặn của thế giới hiện tượng”. Dưới cái nhìn u ám của Veblen, bãi cỏ và gậy chống, trọng tài và vật nuôi trở thành những phúng dụ phơi bày sự man rợ của văn hóa.

Chính phương pháp ấy, không kém gì nội dung lý thuyết của ông, đã khiến người ta bôi nhọ Veblen như một kẻ ngoài cuộc điên rồ và phá hoại. Khi làm giáo sư ở Chicago, ông thậm chí đã gây ra một vụ tai tiếng trong giới đại học, kết thúc bằng việc bị bãi nhiệm. Tuy vậy, đồng thời các lý thuyết của ông cũng đã được tiếp thu. Ngày nay chúng được chính thức thừa nhận rộng rãi, và cũng như thuật ngữ của Freud, các thuật ngữ gây ấn tượng của ông đã thâm nhập báo chí. Ở đây có thể thấy khuynh hướng khách quan muốn tước vũ khí của một đối thủ phiền toái bằng cách đón tiếp hắn thật nồng hậu. Tuy nhiên, tư tưởng Veblen không hoàn toàn bất tương hợp với cách tiếp nhận ấy; ông ít là người ngoài cuộc hơn vẻ bề ngoài lúc ban đầu. Khi truy tìm phả hệ tri thức của ông, cần kể đến ba nguồn. Nguồn thứ nhất và quan trọng nhất là thực dụng luận Mỹ (pragmatism). Veblen thuộc truyền thống cũ hơn trong đó, truyền thống có khuynh hướng Darwin. Chương trung tâm trong tác phẩm chính của ông mở đầu như sau: “Đời sống con người trong xã hội, cũng như đời sống của các loài khác, là một cuộc đấu tranh để tồn tại và do đó là một quá trình thích nghi mang tính chọn lọc. Quá trình tiến hóa của cấu trúc xã hội là kết quả của chọn lọc tự nhiên đối với các thiết chế. Sự tiến bộ đã và đang diễn ra trong các thiết chế và phẩm chất của con người có thể được coi, một cách khái quát, là kết quả của sự chọn lọc tự nhiên những thói quen tư duy phù hợp nhất cùng quá trình thích nghi bắt buộc của cá nhân với môi trường, vốn thay đổi liên tục cùng sự phát triển của cộng đồng và các thiết chế chi phối đời sống.” Khái niệm thích nghi hay thích ứng giữ vị trí trung tâm. Con người bị đặt dưới quyền đời sống như dưới những điều kiện thí nghiệm do một giám đốc phòng thí nghiệm vô danh nào đó quy định, và được trông đợi sẽ thích ứng với các điều kiện tự nhiên và lịch sử áp đặt lên mình sao cho có cơ hội sống sót. Tính chân thực của suy nghĩ được đánh giá theo việc nó có phục vụ sự thích nghi ấy và góp phần vào sự tồn tại của loài hay không. Phê phán của Veblen luôn bắt đầu ở những điểm mà sự thích nghi này chưa hoàn tất. Ông biết rõ những khó khăn mà lý thuyết thích nghi gặp phải khi xem xét địa hạt xã hội; ông biết rằng chính các điều kiện mà con người phải thích nghi cũng là sản phẩm của xã hội, rằng bên trong và bên ngoài tác động qua lại, và rằng sự thích nghi có thể củng cố những điều kiện đã bị vật hóa (reified). Nhận thức ấy buộc ông không ngừng tinh chỉnh và sửa đổi lý thuyết của mình, nhưng hiếm khi ông đi đến chỗ chất vấn tất yếu tuyệt đối của sự thích nghi. Tiến bộ là thích nghi, không gì khác. Veblen ngoan cố không chịu thấy rằng cấu trúc nội tại và giá trị của khái niệm này, trong trường hợp hữu thể có ý thức, có thể khác về chất so với trong thế giới tự nhiên mù, không ý thức. Sự hòa hợp giữa lập trường căn bản ấy và khí hậu tri thức mà Veblen sống trong đã tạo điều kiện thuận lợi đáng kể cho việc tiếp nhận các quan điểm dị giáo của ông.

Nội dung cụ thể của lý thuyết thích nghi, tuy thế, còn có một nguồn nữa: trong một biến thể cũ hơn của thực chứng luận (positivism): trường phái Saint-Simon, Comte và Spencer. Theo Veblen, thế giới mà con người phải thích nghi là thế giới của kỹ thuật công nghiệp. Cùng với Saint-Simon và Comte, Veblen tuyên bố tính tối cao của nó. Cụ thể, với ông, tiến bộ có nghĩa là làm cho các hình thức ý thức và “đời sống”, tức lĩnh vực tiêu thụ kinh tế, thích nghi với các hình thức của kỹ thuật công nghiệp. Phương tiện của sự thích nghi này là khoa học. Ông quan niệm khoa học như sự áp dụng phổ quát nguyên tắc nhân quả, đối lập với thuyết vật linh (animism) còn sót lại. Với ông, tư duy nhân quả là thắng lợi của những quan hệ khách quan, định lượng, được mô phỏng theo sản xuất công nghiệp, trước những quan niệm quy về nhân cách và mang tính nhân hình (anthropomorphic). Trên hết, ý niệm mục đích luận bị loại trừ nghiêm ngặt. Quan niệm về lịch sử như một quá trình tiến bộ chậm chạp và không đều đặn nhưng liên tục về bản tính trong việc thích ứng với thế giới và giải huyền bí nó tương ứng với một lý thuyết phân loại các giai đoạn không khác lý thuyết của Comte. Trong bối cảnh ấy, thỉnh thoảng Veblen lại cho thấy ông trông đợi giai đoạn sắp tới sẽ chứng kiến việc xóa bỏ sở hữu tư nhân. Điều này trỏ tới Marx - nguồn thứ ba. Thái độ của Veblen đối với chủ nghĩa Marx là vấn đề còn phải tranh luận. Đối tượng phê phán của ông không phải là kinh tế chính trị của xã hội bourgeois xét từ các nền tảng của nó mà là đời sống phi kinh tế của xã hội ấy. Việc ông liên tục viện đến tâm lý học và “thói quen tư duy” để giải thích các sự kiện kinh tế không tương thích với lý thuyết giá trị khách quan của Marx. Tuy vậy, Veblen đã đưa vào lập trường thực dụng căn bản của mình nhiều nhất có thể các lý thuyết thứ cấp của chủ nghĩa Marx. Các phạm trù cụ thể như sự lãng phí phô trương và sự thoái lui cũng có nguồn gốc ở đó. Ý về một kiểu tiêu thụ tồn tại không vì bản thân nó mà như phản chiếu các phẩm tính xã hội của những vật được trao đổi có liên hệ với lý thuyết của Marx về sự sùng bái hàng hóa. Luận đề về sự thoái lui mang tính cưỡng bách về những hình thức ý thức lỗi thời dưới áp lực của các điều kiện kinh tế, mang ơn Marx. Ở Veblen cũng như ở Dewey, nỗ lực nắm bắt quá trình thích nghi của con người, được quan niệm theo tinh thần thực dụng luận, sản sinh ra các mô-típ biện chứng. Tư tưởng ông là một hợp chất của thực chứng luận và vật chất luận lịch sử.

Tuy nhiên, một công thức như thế đem lại tương đối ít hiểu biết về cốt lõi lý thuyết Veblen. Điều quyết định là sức mạnh đã đẩy những mô-típ ấy lại với nhau trong lý thuyết của ông. Có thể gọi kinh nghiệm căn bản của Veblen là kinh nghiệm về tính độc nhất giả tạo. Khi việc sản xuất hàng loạt và phân phối tập trung những hàng hóa về cơ bản giống nhau tiến triển, và khi khuôn khổ kỹ thuật, kinh tế của đời sống ngày càng loại trừ sự cá biệt hóa của cái ở đây và lúc này dựa trên sản xuất thủ công, thì vẻ ngoài của cái ở đây và lúc này - cái không thể bị thay thế bởi vô số vật khác - trở thành một trò mạo nhận. Dường như khi tự nhận mình đặc biệt và độc nhất - một lời tự nhận phải không ngừng được phóng đại vì mục đích bán hàng - mỗi vật đều chế giễu tình trạng trong đó tất cả con người bị khuất phục trước một trật tự lấy việc lặp lại mãi cái giống nhau làm nguyên tắc. Veblen không chịu nổi sự chế giễu ấy. Đầy cay đắng, ông đòi thế giới phải tự trình hiện trong sự đồng nhất trừu tượng các vật, vốn đã được điều kiện kinh tế nền tảng quy định trước. Khi biện luận cho việc tổ chức tiêu thụ một cách hợp lý, thực ra Veblen đòi hỏi không ít hơn việc sản xuất hàng loạt - đối với nó người mua ngay từ đầu đã là một đối tượng tính toán - phải lộ nguyên hình trong địa hạt tiêu thụ. Ngày nay, khi những cụm từ như “khác biệt thú vị” và “cổ kính độc đáo” đã trở thành công thức quảng cáo tiêu chuẩn, nhận thức của Veblen đã thành hiển nhiên. Nhưng ông là người đầu tiên tự mình đi đến nhận thức ấy. Ông nhận ra tính cá biệt giả tạo của vật từ rất lâu trước khi kỹ thuật dập tắt tính cá biệt thực sự. Ông nhìn thấy tính độc nhất vờ vĩnh ngay trong sự bất nhất nội tại của vật, trong mâu thuẫn giữa hình thức và chức năng của chúng. Có thể nói, chấp nhận nguy cơ cường điệu, rằng kitsch của thế kỷ XIX, dưới hình thức phô trương,[1] đã hiện ra trước mắt ông như hình ảnh của nền bạo chính tương lai. Ông nhìn thấy một mặt của kitsch mà các nhà phê bình cảm năng (aesthetics) đã bỏ qua, nhưng mặt ấy giúp giải thích biểu hiện thảm họa mà ngày nay biết bao công trình và nội thất thế kỷ XIX đã mang lấy - cái vẻ áp bức kinh hoàng ấy.

Trong mắt Veblen, sự trang trí trở thành đe dọa khi ngày càng giống những mẫu hình đàn áp cũ. Không ở đâu ông chỉ ra điều này rõ ràng hơn khi bàn về những tòa nhà của các cơ sở từ thiện: “Việc chuyển hướng chi tiêu sang các hình thức phô trương danh giá trong những trường hợp như vậy không hiếm đến mức gây kinh ngạc, thậm chí còn chẳng đủ để khiến người ta bật cười. Một phần đáng kể của quỹ thường được sử dụng để xây dựng một tòa nhà với lớp đá ốp mặt tiền đắt đỏ nhưng kém thẩm mỹ, được trang trí bằng những chi tiết kỳ dị và lạc lõng, với các bức tường có lỗ châu mai, tháp canh, cổng vào đồ sộ gợi nhắc các phương thức chiến tranh man rợ xa xưa.”[1]  Veblen nhấn mạnh vào mặt đe dọa của vẻ tráng lệ và sự trang trí để củng cố triết học lịch sử của mình. Đối với niềm tin vào tiến bộ của ông, những hình ảnh man rợ hung hãn mà ông thấy trong kitsch thế kỷ XIX, đặc biệt là trong những nỗ lực trang trí sau năm 1870, là di tích của các thời đại trước hoặc dấu hiệu thoái lui (regression) của những kẻ không sản xuất ra gì, những kẻ được miễn tham gia quá trình lao động công nghiệp. Nhưng những gì Veblen gọi là đặc điểm cổ sơ đồng thời cũng là dấu hiệu của sự kinh hoàng đang ló dạng. Sự cảm ứng buồn bã nơi ông phủ nhận cái nhìn lạc quan của chính ông. Hình thức lịch sử nhân loại hiện ra trước mắt ông báo trước giai đoạn khủng khiếp nhất của nó. Nỗi sững sờ của ông khi thấy nhà nuôi trẻ bị bỏ rơi trở nên giống một pháo đài đã trở thành một lực lịch sử trong Columbus House, phòng tra tấn phong cách tân công năng (neo-functional) của Quốc xã. Veblen tuyệt đối hóa sự thống trị toàn diện. Với ông, toàn bộ văn hóa đã trở thành hình ảnh méo mó của nỗi kinh hoàng trần trụi. Nỗi mê hoặc của tai họa đang lừ lừ đến giải thích và biện minh cho sự bất công của ông đối với văn hóa. Văn hóa, ngày nay đã mang tính chất quảng cáo, đối với Veblen chưa bao giờ là gì ngoài quảng cáo, sự phô bày quyền lực, chiến lợi phẩm và lợi nhuận. Với lòng ghét người tuyệt diệu, ông bỏ qua mọi thứ vượt quá đó. Cái dằm trong mắt ông trở thành phương tiện để nhận ra những dấu vết đẫm máu của bất công ngay trong các hình ảnh hạnh phúc. Nhân danh quyền tùy ý định đoạt không giới hạn đối với lịch sử nhân loại, đại đô thị thế kỷ XIX đã lắp ghép một bộ sưu tập giả trá gồm những cột đền Attica, những nhà thờ lớn Gothic và những cung điện ngạo nghễ của các thành bang Ý. Veblen trả đũa: đối với ông, ngay cả những ngôi đền, cung điện và nhà thờ lớn đích thực cũng đã thành giả dối như các bản sao. Lịch sử thế giới là hội chợ thế giới. Veblen giải thích văn hóa bằng kitsch, chứ không phải ngược lại. Khái quát hóa của ông về tình trạng trong đó văn hóa bị quảng cáo nuốt chửng đã được Stuart Class diễn đạt ngắn gọn: “Những người sống trên mức sinh tồn tối thiểu, trong thời đại này và mọi thời đại trước, không dùng phần thặng dư mà xã hội đã trao cho mình chủ yếu vào các mục đích hữu ích.” “Mọi thời đại trước” có nghĩa là tất cả những gì khác với nền văn hóa kinh doanh (business) của thời đại gần đây nhất: lòng tin vào sức mạnh thực của các thực hành nghi lễ, xung lực tính dục và hệ biểu tượng của nó (tính dục không được nhắc tới lấy một lần trong toàn bộ Lý thuyết tầng lớp nhàn rỗi), thôi thúc biểu đạt nghệ thuật, khát vọng thoát khỏi tình trạng nô lệ cho tính hữu ích. Trái với ý muốn của mình, nhà thực dụng luận (pragmatist), kẻ thù không đội trời chung của tư biện mục đích luận, cuối cùng lại vận hành theo sơ đồ của một thứ mục đích luận ma quỷ. Trí tuệ tài tình của ông không ngần ngại dùng duy lý (rationalism) thô sơ nhất để phơi bày sự thống trị phổ quát của vật bái (fetish) trước địa hạt được cho là tự do. Dưới cuộc tấn công của Veblen, cái cụ thể hóa vốn áp đặt một tính thống nhất lên sự đơn điệu của đời sống còn bị ràng buộc vào tự nhiên bị lột trần thành một món hàng sản xuất hàng loạt, trơ tráo và giả dối tự nhận mình là cái cụ thể.

Anh Hoa dịch

[1] Cần xác định chính xác cơ sở kinh tế của nó. Kiểu tự trình bày ấy rất có thể bắt nguồn từ sự cần thiết phải thể hiện mình như một đối tượng tín dụng ít rủi ro, có mức tín nhiệm cao. Sự cần thiết này có thể phản ánh tình trạng khan hiếm tư bản trong các thời kỳ mở rộng.

 

Lý thuyết tầng lớp nhàn rỗi

John Dos Passos về Thorstein Veblen

Xã hội tiêu thụ: kịch về nhàn rỗi

Khác thời đại

Minima moralia

 

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công