QUYỂN 2 - Phần 1 - Chương 2 (4)
4
Scobie để xe ngay cổng nhà Yusef: đó là cử chỉ khinh bỉ nhằm vào mặt Đổng lý thuộc địa. Ông nói với viên quản gia, ‘Tôi muốn gặp chủ anh. Tôi biết đường.’
‘Massa ra ngoài rồi.’
‘Vậy thì tôi sẽ đợi ông ấy.’ Ông đẩy viên quản gia qua một bên và bước vào. Bungalow được chia làm những phòng nhỏ nối tiếp bài trí hệt nhau, phòng nào cũng có sofa, ghế nệm và bàn thấp để chè chén, giống phòng nhà thổ. Ông đi từ phòng này qua phòng khác, hất rèm sang bên, cho đến khi tới một gian phòng rất nhỏ, nơi gần hai tháng trước ông đã đánh mất sự chính trực của mình. Yusef đang ngủ trên sofa. Ông ta nằm phưỡn bụng, quần đũi trắng, miệng há hốc, thở phì phò. Một cái ly đặt trên bàn bên cạnh, Scobie để ý thấy đáy ly còn đọng cặn trắng li ti. Yusef đã làm một liều bromide. Scobie ngồi cạnh ông ta, chờ đợi. Cửa sổ mở, nhưng mưa đã chặn bít không khí bên ngoài, bịt bùng chẳng khác nào một tấm rèm. Có lẽ sự trầm uất đang đè nặng ông chỉ là kết quả của sự bức khí, cũng có lẽ do ông quay lại hiện trường gây án. Thật vô ích khi cứ cố khăng khăng mình không phạm tội. Như một phụ nữ kết hôn không tình yêu, ông nhận ra, trong một căn phòng vô danh như mọi buồng ngủ khách sạn, ký ức cuộc ngoại tình.
Ngay trên cửa sổ có một cái máng hỏng, nước tuôn xối xả như một cái vòi, thành thử lúc nào cũng nghe được hai thứ tiếng mưa - rì rầm và ồng ộc. Scobie châm thuốc, nhìn Yusef. Ông không thể cảm thấy chút nào căm hận đối với con người này. Ông đã bẫy Yusef một cách tỉnh táo và hiệu quả, đúng như cách Yusef bẫy ông. Hôn sự tựu thành bởi cả hai người. Có lẽ sức mạnh của cái nhìn chằm chằm nơi ông đã xuyên thủng lớp sương mù bromide: cặp đùi béo núc khẽ cựa trên sofa. Yusef lầm bầm ‘ông bạn già’ trong giấc ngủ sâu và ngoẹo cổ qua bên, mặt đối mặt Scobie. Scobie lần nữa đăm đăm nhìn khắp phòng, nhưng hôm đến thu xếp khoản vay, ông đã quan sát kỹ: không có gì thay đổi - vẫn những tấm rèm màu quýt chín và ghế nệm lụa màu tím hoa cà gớm ghiếc - đường chỉ làm lộ rành rành những chỗ hơi ẩm ăn mòn vỏ gối. Đến ống xifông màu xanh để hút soda cũng ở nguyên chỗ cũ: tất thảy đưa lại cảm giác vĩnh cửu như một bài trí địa ngục. Không giá sách, vì Yusef không biết đọc: không bàn, vì ông ta không biết viết. Sẽ vô vọng nếu muốn tìm bất kỳ giấy tờ gì - giấy tờ là vô dụng đối với Yusef. Mọi thứ được chứa hết trong cái đầu La Mã vĩ đại ấy.
‘A...Thiếu tá Scobie...’ Đôi mắt choàng mở, tìm ánh mắt ông; mờ dại vì bromide, mắt khó mà nhìn rõ được.
‘Chào buổi sáng, Yusef.’ Lần đầu tiên Scobie đưa ông ta vào thế bất lợi, bị động.
Có khoảnh khắc tưởng như Yusef sẽ lại chìm vào cơn ngủ li bì; nhưng rồi ông ta ráng sức chống người dậy trên khuỷu tay.
‘Tôi muốn nói chuyện với ông về Tallit, Yusef.’
‘Tallit... thứ lỗi cho tôi, Thiếu tá Scobie...’
‘Và về kim cương nữa.’
‘Phát điên vì kim cương,’ Yusef khó khăn lắm mới bật ra được một tiếng lờ đờ ngái ngủ. Ông ta lắc đầu, làm mảng tóc trắng xòa xuống trán rồi mơ hồ giơ tay ra, quờ lấy ống xifông.
‘Có phải ông bẫy Tallit không, Yusef?’
Yusef kéo ống xifông từ phía bên kia mặt bàn lại gần mình, làm đổ ly bromide; ông ta chĩa miệng ống lên mặt và kéo chốt. Soda phụt lên mặt, bắn tung tóe ra đám lụa tím hoa cà. Ông ta thở phào một hơi khoan khoái, như người tắm vòi ngày nực. ‘Là chuyện gì thế, Thiếu tá Scobie, có chuyện gì sao?’
‘Tallit sẽ không bị truy tố.’
Yusef như một người đã mệt rũ, đờ đẫn lê mình khỏi biển khi sóng vẫn nhằng nhẵng bám theo. Ông ta nói, ‘Ông phải thứ lỗi cho tôi, Thiếu tá Scobie. Tôi ngủ không tốt lắm.’ Ông lừ đừ trầm ngâm gật đầu lên xuống, như một người lắc lắc cái hộp xem có gì lọc xọc bên trong không. ‘Ông nói gì đó về Tallit, Thiếu tá Scobie,’ và giải thích lần nữa, ‘Hàng tồn kho ấy. Tất tật những số má phải nhớ. Ba bốn cửa hàng liền. Người ta cứ tìm cách lừa tôi vì mọi thứ đều chứa trong đầu tôi.’
‘Tallit,’ Scobie nhắc lại, ‘sẽ không bị truy tố.’
‘Chẳng sao. Sẽ tới ngày hắn bước hớ và đi quá xa.’
‘Đó có phải là kim cương của ông không, Yusef?’
‘Kim cương của tôi? Người ta đã làm ông nghi ngờ tôi rồi, Thiếu tá Scobie.’
‘Thằng nhỏ ăn tiền của ông phải không?’
Yusef lấy mu bàn tay quệt soda khỏi mặt. ‘Tất nhiên là vậy, Thiếu tá Scobie. Tôi lấy tin từ đó mà.’
Khoảnh khắc yếu thế đã qua; kẻ mạnh đã quẫy mình đánh bay tác động của bromide dẫu tứ chi vẫn ù lì dán vào sofa. ‘Yusef, tôi không phải kẻ thù của ông. Tôi quý ông.’
‘Khi ông nói vậy, Thiếu tá Scobie, tim tôi đập mạnh biết chừng nào.’ Ông ta kéo cổ áo, như thể để chứng tỏ chuyển động thực của trái tim, những dòng soda li ti chảy xuống từng búi rậm rạp lông đen trên ngực. ‘Tôi béo quá rồi,’ ông ta nói.
‘Tôi muốn tin ông, Yusef. Nói sự thật cho tôi. Kim cương là của ông hay Tallit?’
‘Tôi lúc nào cũng muốn nói sự thật với ông, Thiếu tá Scobie. Tôi chưa bao giờ bảo ông kim cương là của Tallit.’
‘Vậy là của ông?’
‘Phải, Thiếu tá Scobie.’
‘Ông đã biến tôi thành một thằng đần, Yusef. Gía tôi có nhân chứng ở đây, tôi sẽ cho ông đi đời.’
‘Tôi không định biến ông thành trò cười đâu, Thiếu tá Scobie. Tôi chỉ muốn Tallit bị tống cổ đi thôi. Hắn xéo đi thì tất cả mọi người đều được lợi. Chẳng ích gì khi người Syria chia làm hai phe như bây giờ. Nếu chỉ có một phe thì ông có thể đến chỗ tôi và nói, ‘Yusef, chính phủ muốn người Syria làm chuyện này chuyện kia,’ tôi có thể đáp ngay, “Được.”’
‘Và khi đó chuyện buôn lậu kim cương sẽ chỉ thu vào tay một người.’
‘Ôi, kim cương, kim cương, kim cương,’ Yusef mệt mỏi rên lên. ‘Tôi nói cho ông biết, Thiếu tá Scobie, đến cửa hàng nhỏ nhất một năm cũng đưa lại cho tôi nhiều hơn ba năm kiếm chác từ kim cương. Ông không hiểu được là cần hối lộ nhiều đến thế nào đâu.’
‘Này, Yusef, tôi sẽ không lấy thêm tin gì từ ông nữa. Chuyện này kết thúc mối quan hệ của chúng ta. Mỗi tháng, tất nhiên, tôi sẽ vẫn gửi lãi cho ông.’ Ông thấy một cảm giác phi thực lạ lùng trong từng lời chính mình đang nói: những tấm rèm màu quýt chín nằm đó bất động. Có những chốn ta chẳng bao giờ dứt hẳn được; những rèm và đệm của căn phòng này thông với một buồng ngủ áp mái, một bàn làm việc dây mực, một bàn lễ phủ ren ở Ealing - chúng sẽ ở đó chừng nào ý thức còn tồn tại.
Yusef đặt chân lên sàn và dựng thẳng người dậy. Ông ta nói, ‘Thiếu tá Scobie, ông quá đặt nặng trò đùa nho nhỏ của tôi rồi.’
‘Tạm biệt, Yusef, ông không phải người xấu, nhưng tạm biệt.’
‘Ông sai rồi, Thiếu tá Scobie. Tôi là người xấu.’ Ông ta thống thiết, ‘Tình bạn tôi dành cho ông là điều tốt duy nhất trong trái tim đen này. Tôi không thể từ bỏ nó được. Chúng ta phải làm bạn mãi mãi.’
‘Tôi e là không được, Yusef.’
‘Nghe này, Thiếu tá Scobie. Tôi không đòi ông làm gì cho tôi ngoài việc - thỉnh thoảng, sau khi trời tối, có lẽ khi không ai thấy - đến thăm và nói chuyện với tôi. Không gì khác. Chỉ thế thôi. Tôi sẽ không đả động gì đến Tallit trước mặt ông nữa. Tôi sẽ không nói gì hết. Chúng ta sẽ ngồi đây với ống xifông và chai whisky thôi...’
‘Tôi không ngu đâu, Yusef. Tôi biết sẽ rất có lợi cho ông nếu người ta nghĩ chúng ta là bạn. Tôi không cho ông sự giúp đỡ ấy đâu.’
Yusef nhét một ngón tay vào lỗ tai và chùi soda khỏi đó. Ông ta trừng trừng nhìn Scobie, u ám, thách thức. Hẳn ông ta cũng nhìn viên quản lý cửa hàng cố lừa mình về những con số trong đầu như thế, Scobie nghĩ. ‘Thiếu tá Scobie, ông có nói cho Chánh thanh tra về giao dịch nho nhỏ của chúng ta không, hay đó chỉ là dọa bịp thôi?’
‘Ông tự đi mà hỏi ông ấy.’
‘Tôi nghĩ tôi sẽ làm vậy. Trái tim tôi cảm thấy bị bỏ rơi, trơ trọi, cay đắng. Nó giục tôi đến chỗ Chánh thanh tra và kể hết mọi chuyện cho ông ấy nghe.’
‘Hãy luôn tuân theo trái tim ông, Yusef.’
‘Tôi sẽ bảo ông ấy là ông ăn tiền của tôi, và chúng ta cùng nhau bày mưu bẫy Tallit. Nhưng ông không làm tròn phần mình nên tôi phải đến chỗ ông ấy để trả thù. Để trả thù,’ Yusef u ám nhắc lại, cái đầu La Mã của ông ta gục xuống, chìm vào bộ ngực núc ních.
‘Làm đi. Làm bất cứ điều gì ông muốn, Yusef.’ Nhưng ông vẫn không tin được cảnh nào đang diễn dù cố nhập tâm cho tròn vai đến mấy. Cứ như một cuộc cãi vã của cặp tình nhân. Ông không thể tin những lời đe dọa của Yusef, cũng chẳng chút nào tin sự bình thản của mình: ông thậm chí còn không tin lời tạm biệt. Chuyện xảy ra trong căn phòng màu quýt chín và tím hoa cà là quá quan trọng để có thể trở thành một phần của quá khứ khổng lồ được san bằng. Ông không ngạc nhiên khi Yusef ngẩng đầu lên nói, ‘Tất nhiên tôi sẽ không đi. Một ngày, ông sẽ trở lại và muốn tình bạn của tôi. Và tôi sẽ đón nhận ông.’
Liệu có đến lúc mình thực sự sẽ khốn cùng tới vậy hay không? Scobie tự hỏi, như thể trong giọng nói của người Syria, ông nghe thấy âm điệu đích thực của một lời tiên tri.
5
Trên đường về, Scobie dừng xe bên ngoài nhà thờ Công giáo và bước vào. Đó là ngày thứ bảy đầu tiên của tháng, ông luôn đi xưng tội vào ngày này. Nửa tá bà già, tóc búi như nhùi giẻ lau của người giúp việc đang chờ đến lượt: một cô y tá: một binh nhì mang phù hiệu Quân vụ Hoàng gia. Giọng Cha Rank thầm thì đều đều vẳng ra từ phòng xưng tội.
Scobie, mắt dán chặt vào thánh giá, cầu nguyện - Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Sám Hối. Cảm giác rời rã khủng khiếp của quy trình lặp lại phủ lên tâm hồn ông. Ông thấy mình như một khán giả - một trong đám người vây quanh thánh giá, những kẻ mà cái nhìn của Christ hẳn đã lướt qua, tìm khuôn mặt một người bạn hay một kẻ thù. Đôi khi ông thấy dường như nghề nghiệp và bộ đồng phục đã tàn nhẫn xếp mình chung với tất cả những người La Mã vô danh khi ấy phải thực hiện nghĩa vụ giữ gìn trật tự. Những bà già Kru lần lượt đi vào rồi bước ra khỏi phòng xưng tội, và Scobie cầu nguyện - mơ hồ, lan man - cho Louise, cầu cho bà được hạnh phúc, bây giờ và mãi mãi, cầu cho không chuyện xấu nào vì ông mà tìm đến với bà. Người lính bước ra khỏi phòng, ông đứng dậy.
‘Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Đức Thánh Linh.’ Ông nói, ‘Kể từ lần xưng tội cuối cùng của tôi cách đây một tháng, tôi đã bỏ lỡ một Thánh lễ Chủ nhật và một Lễ buộc.’
‘Ông có bị điều gì ngăn cản không?’
‘Có, nhưng chỉ cần cố gắng một chút là tôi có thể sắp xếp ổn thoả các nghĩa vụ của mình.’
‘Còn chuyện gì nữa?’
‘Cả tháng nay, tôi chỉ thực hiện mọi viêc ở mức tối thiểu. Tôi đã khắc nghiệt một cách không cần thiết với một trong những cấp dưới của mình...‘ Ông dừng một lúc lâu.
‘Chỉ có vậy thôi?’
‘Tôi không biết phải nói thế nào, nhưng tôi cảm thấy - mệt mỏi với đức tin của mình. Nó dường như chẳng còn ý nghĩa gì với tôi. Tôi đã cố gắng yêu Chúa, nhưng - ông làm một cử chỉ mà linh mục không thể thấy, xoay người qua một bên đằng sau rèm xưng tội. ‘Tôi thậm chí không chắc mình còn tin không.’
‘Thật dễ,’ linh mục nói, ‘để lo lắng quá nhiều về chuyện đó. Đặc biệt là ở đây. Nếu có thể, tôi sẽ giải tội cho rất nhiều người bằng cách cho họ nghỉ phép trong sáu tháng. Khí hậu này đánh gục ta. Rất dễ nhầm sự mệt mỏi, chán nản với - ừm, sự mất lòng tin.’
‘Tôi không muốn phiền Cha lâu. Có những người khác đang đợi. Tôi biết đây chỉ là ảo ảnh. Nhưng tôi cảm thấy - trống rỗng. Trống rỗng.’
‘Đó đôi khi chính là thời điểm Chúa chọn,’ linh mục nói. ‘Giờ hãy cầm tràng hạt, đọc bộ mười Kinh Mân Côi.’
‘Tôi không có tràng hạt. Ít nhất…’
‘Chà, vậy thì năm lần Kinh Lạy Cha và năm lần Kinh Kính Mừng.’ Linh mục bắt đầu đọc lời tha tội, nhưng vấn đề là, Scobie nghĩ, chẳng có gì để tha cả. Lời không mang lại cảm giác giải thoát vì chẳng có gì để giải. Chỉ là công thức: những từ Latinh xô đẩy nhau - chỉ là bùa chú, quỷ thuật. Ông bước khỏi phòng xưng tội, quỳ xuống lần nữa, đây cũng là một phần của quy trình. Trong khoảnh khắc, ông thấy Chúa như quá dễ tiếp cận. Đến gần Người chẳng khó khăn gì. Như một kẻ mị dân, rù quyến quần chúng, Người mở rộng cửa cho cả kẻ thấp nhất trong đám tín đồ, bất cứ khi nào. Nhìn lên thánh giá, ông nghĩ, đến cả sự chịu đựng của Người cũng chường ra không che chắn: thống khổ công khai.
