favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN 1 - Phần 1 - Chương 1 (3)

3

Scobie đã bị hớt tay trên trong cuộc chiến giành nhà không hồi kết. Kỳ nghỉ phép trước, ông để mất căn bungalow ở Cape Station, khu châu Âu chính, vào tay một thanh tra vệ sinh cao cấp tên Fellowes; trở về, ông phát hiện mình bị đày tới một ngôi nhà hai tầng ban đầu được xây cho một thương nhân Syria trên vùng trũng phía dưới - miếng đất khi trước là đầm lầy và sẽ lại thành đầm lầy ngay khi trời đổ mưa. Từ cửa sổ, vượt lên dãy nhà của người Creole,[1] ông nhìn thẳng ra biển; bên kia đường, xe cam nhông đang lùi đỗ, nổ máy ầm ào trong khu tập trung xe quân sự, lũ kền kền nhẩn nha đi lại như gà tây trên bãi rác của trung đoàn. Trên rặng đồi thấp phía sau, các bungalow của Cape Station thấp thoáng giữa những tầng mây là là; ở đó phải thắp đèn cả ngày trong tủ búp phê, ủng thì chưa gì đã mốc - nhưng dẫu sao đó cũng là dạng nhà cho những người có vị trí như ông. Phụ nữ sống dựa nhiều vào lòng kiêu hãnh, kiêu hãnh vì bản thân họ, chồng họ, điều kiện sống của họ. Ông thấy họ dường như ít khi kiêu hãnh vì những điều vô hình.

‘Louise,’ ông gọi, ‘Louise.’ Chẳng có lý do gì phải gọi: nếu bà không có trong phòng khách thì sẽ chẳng thể ở đâu ngoài phòng ngủ (nhà bếp chỉ là một cái lán trong sân đối diện cửa sau), nhưng ông đã quen gọi to tên bà, thói quen hình thành từ những ngày còn yêu đương và khắc khoải. Càng ít cần Louise, ông càng ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với hạnh phúc của bà. Khi gọi tên bà, ông như Canute gào lên,[2] cố sức chặn cơn sóng đang ập tới - cơn sóng của sầu muộn và chán ngán nơi bà.

Ngày trước bà còn đáp lại, nhưng không như ông, bà không phải là một tạo vật gắn chặt vào thói quen - cũng ít giả dối hơn, đôi khi ông tự nhủ. Lòng tốt và sự thương hại chẳng có sức mạnh gì đối với bà; bà sẽ không bao giờ vờ một cảm xúc mình không có, và như một con vật, bà bất thần buông mình cho cơn bệnh thoáng qua, để rồi hồi lại cũng đột ngột y như vậy. Khi ông tìm thấy bà trong phòng ngủ, dưới lớp màn chống muỗi, bà làm ông nghĩ đến một con chó hay con mèo, rã rời xẹp lép, tóc bết rối, mắt nhắm nghiền. Ông đứng bất động như một gián điệp trên đất lạ, và quả thật giờ ông đang ở nơi đất lạ. Nếu đối với ông, nhà nghĩa là cắt giảm mọi thứ về mức tối thiểu thiết thân và bất biến, thì đối với bà, nhà là tích trữ. Bàn trang điểm chen chúc những ảnh và chai lọ - ảnh ông hồi trẻ trong bộ đồng phục sĩ quan của cuộc chiến trước, trông đã xa xôi lạ thường: vợ ông Chánh án mà có lúc bà xem là bạn: đứa con duy nhất của họ, qua đời trong một ngôi trường ở Anh ba năm trước - khuôn mặt nhỏ thành kính của cô bé chín tuổi choàng muslin trắng trong lễ ban Thánh Thể đầu tiên: vô số ảnh Louise, chụp cùng các nữ y tá, trong bữa tiệc của đô đốc ở bãi biển Medley, trên một truông ở Yorkshire cùng Teddy Bromley và vợ. Cứ như thể bà đang tích lũy bằng chứng rằng mình cũng có bạn bè như ai. Ông quan sát bà qua tấm màn muslin. Khuôn mặt ngả sắc ngà vì atabrine:[3] mái tóc từng vàng ngọt như mật ong giờ bết sẫm lại vì mồ hôi. Từng có những thời điểm xấu xí khi ông còn yêu bà, khi lòng thương hại và trách nhiệm còn đạt tới độ mãnh liệt của dục vọng. Lòng thương hại bảo ông đi đi: đừng đánh thức kẻ thù khủng khiếp nhất của mình, để yên cho Louise ngủ. Ông nhón chân ra, bước xuống cầu thang. (Thành phố toàn bungalow này chẳng tìm đâu được cầu thang trong nhà ngoại trừ ở Dinh toàn quyền, và bà đã cố biến nơi này thành một chốn đầy kiêu hãnh, trang hoàng nào thảm, nào tranh treo tường.) Trong phòng khách có giá đầy sách của bà, thảm trải sàn, mặt nạ bản địa Nigeria, và thêm một lô ảnh nữa. Sách phải được lau hằng ngày để khử ẩm, và bà không thành công lắm trong việc ngụy trang bằng rèm hoa chạn thức ăn bốn chân phải dìm trong những chậu nước nhỏ tráng men để ngăn kiến. Thằng nhỏ đang bày phần bữa trưa cho một người.

Thằng nhỏ béo lùn có khuôn mặt to bành xấu xí và dễ chịu của người Temne. Chân trần của nó đập bèn bẹt trên sàn như đôi găng tay rỗng.

‘Missus[4] bị sao thế?’ Scobie hỏi.

‘Bụng humbug[5],’ Ali đáp.

Scobie lấy cuốn ngữ pháp Mende khỏi kệ: nó bị nhét xuống giá thấp nhất để giấu trang bìa cũ bẩn. Ở các giá trên là những tập èo uột các tác giả của Louise - những nhà thơ hiện đại chẳng còn trẻ trung gì và tiểu thuyết Virginia Woolf[6]. Ông không sao tập trung được: trời quá nóng, sự vắng mặt của vợ như khiến xuất hiện trong căn phòng một kẻ bám riết lắm lời, không ngừng nhắc ông về trách nhiệm. Một cái nĩa rơi xuống sàn; Ali lén chùi vào tay áo, ông nhìn nó trìu mến. Ông và nó đã bên nhau mười lăm năm - dài hơn cuộc hôn nhân của ông một năm - ít khi người ta giữ một người hầu bên mình lâu đến thế. Ban đầu nó chỉ là ‘thằng nhỏ,’ rồi khi nhà còn nuôi bốn người hầu, nó thành phó quản gia và giờ là quản gia ‘trơn’. Mỗi lần Scobie nghỉ phép trở về, Ali luôn đứng sẵn ở bến, đem theo ba bốn cái túi rách chờ mang hành lý. Những lần ông đi vắng, nhiều người cố kéo Ali về làm cho mình nhưng bao giờ nó cũng đợi được ông - trừ một lần phải ngồi tù. Ở đây ngồi tù chỉ là chuyện vặt không có gì phải xấu hổ, một thứ rắc rối ai cũng phải trải qua.

‘Ticki,’ giọng rền rĩ vang lên, Scobie đứng phắt dậy. ‘Ticki.’ Ông lên lầu.

Vợ ông đã ngồi dậy trong màn chống muỗi; nhìn bà, ông thoáng nghĩ tới một khúc xương dưới lớp màng bọc thịt. Nhưng lòng thương hại đã đuổi sát gót hình ảnh độc ác này và xua nó đi. ‘Em thấy khỏe hơn chưa, em yêu?’

Louise nói, ‘Bà Castle vừa tới.’

‘Đủ để làm bất kỳ ai phát ốm,’ Scobie nói.

‘Bà ấy nói về anh.’

‘Anh làm sao?’ Ông trưng ra cho bà nụ cười cường điệu; sống nhiều lúc chỉ là cố trì hoãn bất hạnh tới lần sau. Chẳng có gì vì trì hoãn mà mất hẳn. Ông lờ mờ nghĩ có lẽ nếu trì hoãn đủ lâu, sẽ đến lúc cái chết nhấc hết gánh nặng khỏi tay ông.

‘Bà ấy nói Chánh thanh tra chuẩn bị về hưu, và họ đã qua mặt anh để chọn người khác lên thay.’

‘Chồng bà ta nói mớ hơi nhiều rồi.’

‘Đúng là có chuyện này sao?’

‘Ừ, anh biết vài tuần rồi. Chẳng quan trọng gì, em yêu ạ, thật đấy.’

Louise nói, ‘Em sẽ không bao giờ có thể vác mặt đến câu lạc bộ nữa.’

‘Không tệ thế đâu. Chuyện như vậy vẫn xảy ra, em biết mà.’

‘Anh sẽ từ chức chứ, Ticki?’

‘Anh không nghĩ anh có thể làm vậy đâu.’

‘Bà Castle ở phe ta. Bà ấy giận điên lên. Bà ấy nói mọi người đều bàn tán về chuyện đó và nói đủ thứ. Anh yêu, anh không ăn tiền của bọn Syria chứ?’

‘Không em ạ.’

‘Em uất đến mức đã bỏ đi trước khi kết thúc Thánh lễ. Họ đê tiện quá, Ticki. Anh không thể cứ ngậm bồ hòn được. Anh phải nghĩ cho em nữa chứ.’

‘Có, anh nghĩ mà. Lúc nào cũng nghĩ.’ Ông ngồi lên giường và luồn tay xuống dưới tấm màn, chạm vào tay bà. Những giọt mồ hôi lấm tấm ứa ra nơi tiếp xúc da. Ông nói, ‘Anh có nghĩ về em, em yêu. Nhưng anh đã ở đây mười lăm năm rồi. Đi bất kỳ đâu anh cũng sẽ thấy lạc lõng, kể cả nếu họ cho anh một công việc khác. Bị qua mặt không phải chuyện vẻ vang gì, em biết mà.’

‘Ta có thể nghỉ hưu.’

‘Lương hưu không đủ sống.’

‘Em chắc chắn mình có thể viết lách kiếm thêm. Bà Castle nói em phải biến viết thành nghề. Với tất cả những kinh nghiệm mà em có,’ Louise nói, đăm đăm nhìn xuyên qua tấm màn muslin trắng, thẳng tới bàn trang điểm: ở đó, một khuôn mặt cũng choàng muslin trắng chằm chằm nhìn lại, và bà quay đi. Bà nói, ‘Giá ta có thể đến Nam Phi. Em không thể chịu được người ở đây.’

‘Chắc anh có thể sắp xếp cho em đi một chuyến. Đường đến đó gần đây không đắm tàu nhiều. Em cũng nên đi nghỉ.’

‘Từng có lúc anh cũng muốn về hưu mà. Anh còn đếm từng năm một. Anh đã lên kế hoạch - cho cả hai.’

‘À, ai rồi cũng khác mà,’ ông nói.

Bà buông lời cay đắng, ‘Lúc đó anh đã không nghĩ sẽ phải một mình ở cùng em.’

Ông siết tay bà trong bàn tay đẫm mồ hôi. ‘Em nói linh tinh gì thế, em yêu. Em phải dậy ăn chút gì...’

‘Anh có yêu ai không, Ticki, ngoài bản thân anh?’

‘Không, anh chỉ yêu mình anh, chỉ vậy thôi. Cả Ali nữa. Anh quên mất Ali. Tất nhiên anh cũng yêu nó. Nhưng em thì không,’ ông tiếp tục lời giễu cợt máy móc đã dùng đến rã rời, vuốt tay bà, mỉm cười, xoa dịu…

‘Còn em gái Ali?’

‘Nó có em à?’

‘Bọn chúng phải có chị em chứ, đúng không? Sao hôm nay anh không dự Thánh lễ?’

‘Anh có ca trực sáng, em yêu. Em biết còn gì.’

‘Anh có thể đổi với người khác mà. Anh chẳng có mấy tín niệm, phải không Ticki?’

‘Em có đủ cho cả hai em ạ. Nào, dậy ăn gì đi.’

‘Ticki, đôi khi em nghĩ anh trở thành người Công giáo chỉ để cưới em. Chuyện đó đối với anh chẳng ý nghĩa gì, đúng không?’

‘Nghe này, em yêu, em biết em cần gì không? Đầu tiên xuống lầu ăn gì đó. Rồi lái xe dọc bãi biển hít thở không khí trong lành.’

‘Ngày hôm nay lẽ ra đã có thể khác biết bao,’ bà kêu lên, đờ đẫn trông ra khỏi màn, ‘nếu anh về nhà và nói, ‘Em yêu, anh sẽ là Chánh thanh tra.’

Scobie chậm rãi nói, ‘Em biết đấy, em yêu, ở một nơi như thế này trong thời chiến - một cảng quan trọng - quân Pháp Vichy ngay bên kia biên giới - rồi nạn buôn lậu kim cương từ xứ Bảo hộ, họ cần một người trẻ hơn.’ Ông chẳng mảy may tin những gì mình đang nói.

‘Em chưa nghĩ tới chuyện đó.’

‘Đó là lý do duy nhất. Em không thể trách cứ ai cả. Tại chiến tranh thôi.’

‘Chiến tranh làm hỏng mọi sự, phải không?’

‘Chiến tranh trao cơ hội cho những người trẻ hơn.’

‘Anh, có lẽ em sẽ xuống lầu dùng ít thịt nguội’

‘Vậy mới phải chứ, em yêu.’ Ông rút tay lại: bàn tay đẫm mồ hôi. ‘Anh sẽ bảo Ali.’

Xuống lầu, ông nhằm hướng cửa sau lớn giọng gọi, ‘Ali.’

‘Massa?’[7]

‘Bày hai phần ăn. Missus đỡ rồi.’

Cơn gió nhẹ đầu tiên của ngày thổi lên từ biển, len giữa những bụi cây, qua dãy nhà Creole. Một con kền kền đập cánh nặng nề nhấc mình khỏi mái tôn rồi lại sà xuống sân nhà bên. Scobie hít một hơi sâu, đắm mình trong cảm giác kiệt sức và chiến thắng: ông đã thuyết phục được Louise ăn chút thịt. Trách nhiệm của ông là bảo đảm hạnh phúc của những người ông yêu. Một người giờ đã an toàn, vĩnh viễn an toàn, người còn lại chuẩn bị dùng bữa.

 


[1] Con lai Âu-Phi.

[2] Canute Đại đế (995-1035), vua của Anh, Đan Mạch và Na Uy. Truyện “Vua Canute và cơn sóng” (King Canute and the Tide) được Henry of Huntingdon ghi lại vào thế kỷ 12.

[3] Atabrine: một loại thuốc điều trị sốt rét.

[4] Bà, sẽ giữ nguyên trong bản dịch.

[5] Humbug: một từ đặc trưng được dùng rất nhiều trong văn bản và sẽ được giữ nguyên trong bản dịch, ở đây có thể hiểu đơn giản là bụng dở chứng, đau bụng.

[6] Virginia Woolf (1882-1941): nữ văn sĩ người Anh.

[7] Ông, sẽ giữ nguyên trong bản dịch

Thêm vào giỏ hàng thành công