Ghi Chú Và Phụ Lục (2)
NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THỰC
I
Đồng sinh ngày 8 tháng 7 năm 1931. Năm 1945 Đồng bắt đầu lên ban Trung học, theo học lớp đệ nhất niên cấp phổ thông tại trường Gia-Long Hà-nội. Bây giờ ngôi trường ấy đã chia thành nhiều gian cho thuê làm nhà ở. Mỗi lần qua đấy, Đồng vẫn liếc nhìn vào cái ngõ khuất khúc với cái cổng trường gồm hai cánh cửa gỗ đỏ đã phai màu nín lặng. Hình như tuổi ngây thơ của Đồng còn ở sau hai cánh cửa ấy, cái sân đất dơ bẩn về mùa mưa, cái hầm trú ẩn bằng xi-măng bỏ hoang nơi Đồng chơi đùa. Năm sau Đồng học lớp đệ nhị niên được hai tháng thì phải theo gia đình tản cư về quê ngoại ở Hà-đông. Cuộc chiến tranh vào cuối năm đưa đẩy gia đình Đồng lên tận miền rừng núi Phú-thọ. Những ngày đi bộ hàng vài chục cây số trên những bờ ruộng mấp mô, những khúc dốc trải đá qua những cơn mưa nắng thất thường dưới những bầu trời cháy nắng hay mù sương chỉ có thể khiến bà mẹ già của Đồng phải than thân trách phận mà thôi, còn đối với người con trai tuổi vừa mười lăm mười sáu thì là một cuộc phiêu lưu lãng mạn kỳ thú hơn hẳn sách vở. Đồng sống cực nhọc về vật chất không thể xóa mờ được vẻ thơ mộng của thời gian ấy. Tuổi mới lớn được đặt vào giữa một thế giới mộng tưởng có không gian bát ngát trong thân thể, có những hình bóng anh hùng ngay trước mắt, có lý tưởng để sống trong tầm tay mình. Tất cả cái lãng mạn của tâm hồn gặp dịp được mang tô lên trên mọi đổ vỡ trên mọi thảm khốc. Đến cái chết lúc bấy giờ cũng không còn là bi đát, nó trở thành hào quang của đời người. Cuộc chiến tranh khủng khiếp, đối với kẻ xâm lược là vô lý và hèn hạ, đối với kẻ chống cự là ý nghĩa cao quý của kiếp sống. Sức chịu đựng những đau đớn hành hạ tương đương với đức lớn của bậc thánh, cuộc kháng chiến cũng muốn chứng tỏ điều này.
Rừng núi miền thượng du là khung cảnh cho mối tình thứ nhất của Đồng. Đồng yêu Hà. Hai gia đình cùng tản cư và ngụ chung một nhà. Hà cùng tuổi với Đồng, nhưng con gái có những lúc trông vẫn người lớn hơn con trai. Đó là những khi bộ đội hay thương binh thuyên chuyển qua địa phương mà Hà được cử vào đoàn phụ nữ đón tiếp, hay những đêm diễn kịch thanh niên cán bộ vây quanh giọng hát của Hà—Hà có giọng hát thật hay. Trong những trường hợp ấy Đồng ghen tức bực dọc vì thấy mình còn nhỏ quá. Bởi vậy Đồng chưa bao giờ dám ngỏ một lời với Hà—và nghĩa là chẳng bao giờ nữa. Những phút sung sướng nhất của Đồng là được một mình với Hà, vì lúc đó Hà lại chỉ là một cô gái nhỏ ngây thơ. Hai người theo dân làng đi kiếm củi khô trong rừng hay lên đồi hái chè, khi rảnh rang Đồng mang ứng dụng những bài học về thảo mộc vào thực tế và giảng giải cho Hà nghe hay kể những câu chuyện vui khiến Hà cười ngặt nghẽo. Một buổi chiều hai người ngồi trên tảng đá bên bờ sông. Đồng mang kể Paul et Virginie với Hà. Hà im lặng rất lâu rồi ném những hòn đá nhỏ xuống giòng nước sông Thao đục ngầu. Hà hỏi:
— Ngày sau anh muốn làm gì?
Không suy nghĩ Đồng nói mộng tưởng của mình:
— Yên ổn về Hà-nội tôi sẽ cố học thành tài. Tôi muốn làm bác sĩ, có một căn trại ở thôn quê để trồng cây nuôi súc vật, rảnh rỗi tôi vẽ cảnh vật nơi tôi sống.
Hà không nói gì.
Đồng không bao giờ quên được những buổi tối an nhàn người ta quây quần ở ngoài sân bên đống dạ, Hà cất tiếng hát cho mọi người. Đồng và Hà thường ngồi trên đỉnh cao. Đồng nghĩ Hà hát cho một mình Đồng nghe mà thôi. Có những lúc Đồng thu hết can đảm nhìn xóng vào mắt Hà nhưng chỉ được vài giây. Hà hay hát bài Nhớ người thương binh của Phạm Duy. Đồng ấm ức vì Đồng không phải là thương binh, không phải là anh hùng.
Cuối năm 48 cả hai gia đình cùng hồi cư. Về Hà-nội, đời sống thành thị làm hai người xa cách nhau. Thỉnh thoảng gặp Hà ngoài phố trông vẻ mặt nghiêm trang lãnh đạm và người lớn của bạn, Đồng không muốn hỏi chuyện và cũng chẳng chào. Rồi Hà lấy chồng theo chồng vào Sài-gòn làm ăn. Mối tình thứ nhất âm thầm dụt dè chỉ còn lại những tiếc nhớ dại khờ. Đồng bắt đầu có cảm tưởng cuộc đời vượt khỏi tầm tay.
Sau đó ba năm liền miệt mài với sách vở rút ngắn ban Trung-học vào ba kỳ thi liên tiếp. Xong Tú tài thì Đồng đau ngực phải tạm nghỉ. Trong niên học sửa soạn thi phần thứ nhất, Đồng yêu Phương, cô bạn cùng lớp. Phương cũng có cặp mắt tinh nghịch, giọng nói thanh cao và khổ người mảnh khảnh như Hà. Phương lại có cùng những ước vọng như Đồng. Phương muốn trở thành bác sĩ sống ở thôn quê và được nghe âm nhạc. Mối tình thứ hai cũng chưa kịp ngỏ. Đỗ phần thứ nhất Phương được gia đình gửi sang Pháp. Hôm Phương đi, Đồng đưa tiễn Phương ra sân bay, Phương khóc mắt đỏ hoe—ồ người đàn bà nào chẳng khóc trong bất cứ cuộc chia ly nào—Đồng nắm lấy tay Phương hay Phương nắm lấy tay Đồng? Hay là một cái bắt tay thường tình không biết. Nhưng Đồng bồi hồi và nghe cay ở khóe mắt. Phương nói:
— Phương sẽ viết thư cho anh địa chỉ và anh phải viết thư luôn cho Phương.
Nửa tháng sau Đồng nhận được tấm bưu thiếp của Phương khi vừa đặt chân xuống Paris. Một tháng sau một bức thư. Hai tháng sau, khi bắt đầu nhập học. Và cái hạc bay lên vút tận trời. Trời đất từ nay...
Khi được bác sĩ bảo cho biết mình mắc bệnh phổi, Đồng tưởng chừng tuyệt vọng. Hai mối tình tan vỡ—tại sao không cứ cho là thế?—một thể xác bệnh hoạn, đời sống còn lại của Đồng chẳng còn nghĩa gì. Lúc bấy giờ cuộc chiến tranh chống Pháp đã chuyển từ du kích sang trận địa. Những chiến thắng liên tiếp ở Cao Bắc Lạng dồn quân Pháp xuống đồng bằng và hy vọng tổng phản công về Hà-nội sắp thực hiện nay mai. Đồng thấy mình thừa, vô ích và phi lý. Đồng dọn về Thụy-khê ở với mẹ và em trai nhỏ xa lánh bè bạn chờ chết; trước kia Đồng ở trên nhà người anh mở hiệu xe đạp ở khu chợ Hôm. Đồng có ba đứa bạn thân: Thạch, An và Cảnh. An là con bác sĩ Trần-quang Tân, một ông bác sĩ thích làm chính trị hơn hành nghề, một nhà chính trị “quốc gia”. An học luật. Thạch và Cảnh cả hai đứa gia đình đều còn ở hậu phương phải tự mưu sinh để theo học. Cảnh theo khoa toán học, còn Thạch lận đận mãi với phần thứ hai. Đồng thân với Thạch hơn cả.
Trong một năm vừa qua nghỉ nhà tĩnh dưỡng chữa bệnh Đồng đọc rất nhiều sách. Đồng thường ngồi hàng buổi sau đình Thụy-khê trông ra mặt hồ Tây nước rộng để nghiền ngẫm tư tưởng. Cùng với thể xác đau ốm, cuộc đời như tách lìa khỏi Đồng đứng trên một bờ vực. Thế giới mộng tưởng đã tan vỡ, lý tưởng sống không còn ở trong tầm với. Những giây phút hoang mang chóng mặt vì tương lai ám ảnh thường trực. Đồng không thấy được vị trí của mình ở hiện tại, nói gì đến tương lai. Đồng đã hỏi Thạch:
— Tại sao mình lại đi đến cực tả?
— Không biết.
— Tôi cho là tại mình không tham dự kháng chiến, và mình đọc sách. Cuộc kháng chiến không phải là công trình của thế hệ chúng ta, mà mỗi thế hệ muốn có một công trình độc đáo góp vào lịch sử nên chúng ta muốn vượt trước cuộc kháng chiến bằng cực tả. Ngay cả vấn đề Cộng-sản cũng vậy. Những kẻ đã trói mình bằng hành động vào công trình của họ không bao giờ muốn thay đổi cả. Rồi khi hành động chúng ta cũng như thế.
— Cũng có lẽ. Chúng ta đi tìm ý nghĩa của thế hệ chúng ta, nhưng vấn đề Cộng-sản thì khác.
Thạch ngừng lại để suy nghĩ trước khi tiếp lời:
— Tôi thành thực mà nói chính khi tôi sinh ra đã là Cộng-sản rồi. Bản chất của tôi không thể nào thích hợp được với cái xã hội này. Cứ nói ngay thằng An là bạn thân mà vẫn có lúc tôi không thể chịu nổi—rất tự nhiên, tôi cần nói rõ sự thù hằn hồn nhiên—cái dáng dấp quý phái của nó. Tôi không thể bước chân vào một nơi sang trọng mà không thấy lạc lõng bực dọc, suốt đời tôi chỉ muốn sống chui rúc bẩn thỉu như loài chuột. Tôi là type mà Dostoïewski đã nói: không thể an tâm khi biết còn một người chịu đau khổ trên thế gian. Nhưng cũng chính khởi đi từ cái khát vọng tuyệt đối không tưởng ấy mà tôi lại không thể theo được Cộng-sản. Cái khổ tâm của tôi là tôi phải đứng vào hàng ngũ những người tôi không ưa để chống lại những người đáng lẽ là bạn bè của tôi. Chỉ vì họ thiếu khát vọng tuyệt đối. Tôi khác thằng Cảnh ở chỗ đó.
Đồng nhận rằng Thạch có lý. Người thanh niên trí thức nào chẳng theo đuổi một chân lý vĩnh viễn, chẳng khinh ghét thứ chân lý tạm thời và họ đáng thương biết bao vì chẳng nơi nào muốn dung nạp họ, vì họ là một thứ lương tâm dày vò người ta.
Đêm hôm trước Thạch xuống thăm Đồng báo tin mừng Thạch qua thoát phần thứ hai, An đỗ phần thứ hai cử nhân luật, Cảnh chiếm được chứng chỉ Cơ học thuần lý sau chứng chỉ Vật lý đại cương ở kỳ thứ nhất. Đồng giữ Thạch ngủ lại, hai người nằm chung giường. Đồng ôm chặt lấy Thạch, Đồng yêu Thạch. Nhưng Thạch không thích những cử chỉ thân ái xuống xã. Và cả hai người đều cô độc như nhau. Tình yêu giữa đàn ông không thể biểu diễn được nếu không muốn là kỳ cục bệnh hoạn. Thạch nằm ngửa nhìn lên đỉnh màn nói:
— Tôi biết thằng Cảnh hoạt động trong một tiểu tổ nội thành.
Trong khi ấy Đồng nghĩ Đồng cần được yêu một người, cần một người yêu mình. Đồng không thể chịu đựng sự cô độc như Thạch. Thạch lại nói:
— Tôi muốn được hoạt động.
— Sao?
— Tôi muốn được hoạt động. Tôi khó có thể ngồi yên học hành được nữa.
— Làm gì?
— Chưa biết.
Đồng trở mình buột miệng:
— Tôi muốn được yêu.
— Yêu ai?
— Một người nào đó.
Thạch thở dài chậm chậm nói bằng giọng trung lập:
— Cậu còn sung sướng vì nghĩ được rằng sẽ yêu một người. Tôi nghĩ tôi không thể yêu được ai và cũng chẳng ai thèm yêu tôi.
Sự thực không phải tình cảm đã chết trong lòng Thạch, nhưng cái vỏ cứng của người sống nhiều bằng tư tưởng đã không để lộ được tình cảm ra ngoài, nên Thạch có bộ dạng lạnh lùng ác cảm. Đồng thương Thạch quá và muốn quay ra ôm lấy Thạch nhưng không dám. Đồng nói:
— Phải tôi là con gái tôi lấy anh ngay.
Thạch cười sung sướng.
Buổi sáng tháng chín, thời tiết ở vào giữa mùa thu. Gió ào ào qua cây lá nghe như mưa đổ. Trời đất lên cơn sốt mê sảng. Khí hậu như độc được tiêm vào máu người ta sự bải hoải ngây ngất, cái chết ngấm trong cơ thể không sao cưỡng được. Đồng hơi thấy khó thở khi thức giấc. Thạch đã dậy và đang nói chuyện với mẹ Đồng ở ngoài sân. Bà cụ mời Thạch dọn xuống ở chung với Đồng cho có bạn. Lát sau mẹ Đồng mang vào buồng cho hai người hai cốc sữa nóng với hai cái bánh tây. Ăn điểm tâm xong Đồng đi chân đưa Thạch đến vườn Bách-thảo theo con đường dốc lên Quần-ngựa. Từ trên cao nhìn xuống, Thụy-khê chạy dài với những lùm cây xanh thấp thoáng những nóc nhà kiểu cổ. Xa là mặt hồ Tây bốc khói lạnh. Gió buổi sáng vẫn còn dữ dội làm lạc cả hơi thở của Đồng. Thạch lên xe đạp, Đồng trở về nhà. Đồng đọc hết cuốn Adieu aux armes và ngồi mơ mộng trước cửa sổ nhìn ra vườn. Khóa sĩ quan Nam-định đã ra trường. Trong những người bạn học cùng lớp đã nghe nói có người gặp tai nạn trong khi tập luyện, có người tử trận, có người mất tích, có người đào ngũ... Rồi sẽ đến lượt bọn Đồng. Phải chọn, phải cầm khí giới. Đồng chưa biết mình sẽ định thái độ như thế nào. Đồng bị bệnh và Đồng sẽ thoát khỏi. Nhưng Đồng không muốn coi bệnh hoạn là một lối thoát cho mình. Còn Thạch? Còn Cảnh? Còn An? Cảnh chắc chắn sẽ bỏ ra hậu phương. Thế lực của bác sĩ Tân giúp An được yên ổn. Chỉ còn Thạch! Hắn sẽ làm gì? Đồng lo lắng cho Thạch. Mối tình của hai nhân vật trong cuốn tiểu thuyết truyền vào tâm hồn Đồng những xúc động yêu đương bồng bột. Đồng muốn yêu một người, muốn có một người yêu mình, Đồng không chịu được sự cô độc như Thạch. “Có lẽ tại mình ốm yếu”, Đồng tự bảo thầm. “Nhưng tôi muốn được yêu. Hà và Phương đã mất rồi. Ai? Tôi sẽ yêu ai?” Đồng không thấy một hình bóng nào hiện lên trong óc. Đồng nằm xuống giường, thân thể bồn chồn một nỗi nhớ nhung da diết. Đồng ngủ thiếp đi và mơ thấy một khuôn mặt quen quen. Tỉnh dậy Đồng tưởng tượng mãi khuôn mặt ấy trong trí nhớ. Nga! Nga! Phải tại sao Đồng không yêu Nga? Tại sao không? Lúc ấy vào ba giờ chiều, Đồng mặc quần áo đi xe điện lên phố. Đồng xuống chỗ tránh tàu ở con dốc Quan-thánh, đi bộ đến nhà An—Nga là em gái của An—Khi đứng trước cổng biệt thự của bác sĩ Trần-quang Tân Đồng mới thấy mình vô lý hết sức. Đồng chỉ gặp Nga một lần khi đang đi phố với An, cũng như các bạn Đồng chưa đến chơi nhà An lần nào. Nhưng chuông đã kêu, cổng sắt đã mở và kia Nga đứng trước mặt Đồng. Nga dẫn Đồng qua một lối sỏi trắng—gót chân Nga trắng hồng quý phái—vào phòng khách. Gian phòng trang hoàng theo kiểu Tây phương sang trọng. Đồng ngồi xuống, cảm giác hoang mang ngây ngất dịu đi. Đồng thấy hơi thở nóng trong cổ họng và mệt mệt, mồ hôi lấm tấm trên trán. Nga vào trong vài phút rồi ra ngồi đối diện với Đồng. An vắng nhà. Nga hỏi Đồng bằng giọng dịu dàng xem Đồng có muốn nhắn gì cho An không hay Đồng viết vài chữ để lại cho An. Không đợi Đồng trả lời Nga lại trở vào trong lấy giấy bút cho Đồng. Đồng nhận lấy giấy bút song không viết, Đồng nhìn thấy hào quang trong mắt Nga. Ngực Đồng bỗng mệt lắm, Đồng nghĩ Đồng không đứng lên được. Đồng nghe thấy tiếng Nga kêu: “Anh bị mệt”. Hình như Đồng lắc đầu xua tay nói: “Không, tôi không việc gì hết”. Nga chạy vào trong lên cầu thang. Đồng tựa vào lưng ghế duỗi chân thở lấy hơi rất chậm, nước mắt đầm đìa. “Không được chảy nước mắt Nga sẽ trông thấy”. Một lát Nga trở xuống thì Đồng đã tỉnh và mỉm cười. Nga đưa cho Đồng cốc nước lọc và hai viên thuốc, Đồng uống ngoan ngoãn. Nga vẫn đứng yên—nhìn. Đồng chăm chú, Đồng không dám lau hai khóe mắt cay xè.
Rời khỏi nhà Nga, Đồng cảm thấy dễ chịu nhưng lòng buồn vô hạn. Đồng biết rằng Đồng phải yêu Nga. Không còn là thứ tình vui sướng bay bổng như thời mười lăm mười sáu, tình yêu mở lên cho Đồng thấy rõ thân phận của mình. Người ta không được quyền từ chối (Thạch muốn từ chối chăng?), người ta phải chấp nhận tình yêu, bởi làm sao chạy trốn nổi thân phận của mình? Nếu tình yêu chân thật là sấu bị, không có gì bắt người ta phải sống đúng thân phận mình hơn tình yêu. Đống khám phá chân lý trong giây phút Nga nhìn thẳng thắn vào mắt rưng rưng của Đồng. Đồng ngược lên chỗ tránh tàu đợi chuyến xuống phố, Đồng không muốn về nhà.
