Ghi Chú Và Phụ Lục (3)
NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THỰC
II
Chiều giao động trong ánh sáng màu chì. Thành phố vẫn nhiều những tiếng động thường ngày nhưng dường như bị nghe qua một tấm kính dày là sự trống vắng rừng rưng. Con phố Tràng-thi mải miết im lặng. Cây đa um tùm trong sân thư viện Pasquier đổ đầy lá và búp xuống cỏ. Viền lối đi trong sân những luống hoa thấp bé, màu vàng màu đỏ kín đáo. Phòng đọc sách hiu quạnh, một vài người chăm chú làm việc bên những chồng sách, Đồng không gặp người nào quen. Đồng quay ra đứng trên thềm phân vân. Vừa lúc Thạch, An, Cảnh từ cổng vào. Họ đang bàn cãi về một vấn đề gì đó. Đồng nhập bọn và họ ra lối sau thư viện ngược đường Hai bà Trưng về phía trường Đại-học.
Câu chuyện quay quanh tác phẩm La nausée của Sartre. Cảnh nói:
— Tôi không chịu nổi Sartre. Thứ triết lý đó là thứ sặc mùi tiểu sảo của tiểu tư sản. Ngồi mà ngắm khuôn mặt bàn tay ngón tay mình, cái rễ cây, vườn hoa, rồi rình rập để quan sát từng cử chỉ nhỏ nhật của người khác khi người ta ăn uống, người ta ngủ với nhau để thấy lợm giọng, để nhận ra cái chân lý cuộc đời là phi lý thì phải bảo người ta đã phi lý ngay trong những hành vi ấy. Tại sao không đếm xem mình có bao nhiêu cái lông mà nghĩ về đời sống? Như thế còn thấy phi lý hơn nữa. Theo tôi khi người ta quay vào mình lấy ý thức chủ quan để quan sát mình cũng như sự vật, tìm hiểu ý nghĩa đời sống là làm một cuộc rượt bắt vô ích. Ý thức chủ quan tách rời ngoại giới đứng ngay trong nó là vô nghĩa, ý thức chủ quan đã vô nghĩa thì còn cái gì là có nghĩa. Trước hết phải tìm ý nghĩa cho cái ý thức chủ quan của mình đã, tìm bằng hành động, nhập vào ngoại giới. Thay đổi ngoại giới; cho ngoại giới có ý nghĩa của nó phải thành, đạt được đến cái devenir của sự vật thì ý thức chủ quan mới thấy nghĩa lý của chính nó. Đời sống của người ta hữu lý ở chỗ tìm đến sự thành hình tất yếu của mình chứ không phải là quay vào với từng giây phút thoáng qua sẽ mất đi, sự thành hình trong một toàn thể xã hội nhân loại. Còn với cá nhân thì tất nhiên là thừa là phi lý là láo toét.
Giọng nói của Cảnh nhát gừng nhưng đanh thép. Mọi người im lặng đều bước. An lên tiếng cãi:
— Nhưng cậu phải công nhận Sartre đặt rất đúng vấn đề tự do. Tự do là bản thể của người ta, người ta không thể nào khước từ tự do.
— Nếu bảo người ta được tự do để rồi bởi cái tự do tuyệt đối không cơ sở ấy dẫn người ta đến cái phi lý của đời sống thì thà người ta không tự do mà đời sống có ý nghĩa còn hơn. Cảnh ngắt lời An.
— Không tôi nhất định thấy phải tự do dù từ đó phải nhận luôn là cuộc đời phi lý còn hơn cái ý nghĩa của đời sống khi không có tự do. An cãi bướng—Biết đâu ý nghĩa của đời sống chẳng chính là ở chỗ phi lý của nó.
— Đó là quan niệm của tư sản. Cảnh trả lời giọng gay gắt.
An đỏ gay mặt không nói được nữa, và lấy thuốc lá hút. Đồng đút hai tay vào túi quần bước trầm tĩnh. Thạch không bày tỏ ý kiến. Cả bọn ngồi lại trên chiếc ghế đá ở vườn hoa trước viện bảo tàng Finot, thẳng mặt là con đường bờ sông với bờ đê cao. Thạch khơi lại câu chuyện bỏ dở với Cảnh:
– Tôi đồng ý là chúng ta phải đi tìm ý nghĩa đời sống trong cách nhập làm một với ngoại giới bằng hành động. Phải nhận thức được sự trưởng thành của xã hội để tham dự thì cái ý thức chủ quan mới có nghĩa của tự do, vì tự do là biết chấp nhận sự tất yếu. Nhưng tôi hỏi cậu sự trưởng thành của xã hội có bắt buộc phải là chế độ Cộng-sản hay không?
— Cậu muốn đi tới đâu? Cảnh hỏi gặng lại
— Cậu hãy trả lời câu hỏi của tôi đã
— Tất nhiên
— Tôi hỏi cậu trong cái quá trình vận động của xã hội để tiến tới Cộng-sản, ý thức chủ quan của người ta có quyền tự do để nhận thức sự tất yếu mà tham dự hay đã bị quy định bởi những tương quan xã hội từ trước?
— Cậu nhớ rằng tự do là lá bùa hộ mệnh của tư sản và nó sẽ chỉ đưa cậu tới chỗ phá quấy.
— Tại sao cậu không trả lời vào câu hỏi của tôi mà cứ dán cho nó những nhãn hiệu?
— Tôi không muốn trả lời vì cãi nhau mất thì giờ vô ích—Cảnh ngắt ngang đứng dậy—Hàng đống sách của tư sản lải nhải về vấn đề ấy nhưng nó cứ nằm trong thư viện và trong đầu mấy cậu, còn lịch sử vẫn bước những bước khổng lồ ngoài kia.
— Vấn đề không phải là của tư sản—Thạch nổi nóng—giả thử của tư sản chăng nữa thì cũng cần phải xét nội dung của nó. Sao lại gạt bỏ một cách dễ dàng như vậy?
Cảnh lắc đầu hơi nhếch mép không đáp. Dáng người thấp bé của hắn lộ vẻ kiêu hãnh đáng ghét. Thạch cố hỏi:
— Tại sao cậu không trả lời tôi? Tôi không thích cái thái độ im lặng trịch thượng ấy.
— Tự tôi không thích tranh luận nữa. Chẳng đi đến đâu cả. Giọng Cảnh rừng rưng.
Nói xong Cảnh quay lưng bỏ đi vài bước. Thạch ngồi im giận dữ. Bỗng Thạch đứng lên đuổi theo Cảnh, nắm lấy cổ áo Cảnh dựt lại. Cảnh vừa quay mình thì Thạch vừa hét vừa đánh mạnh vào mặt Cảnh:
— Tao phải đánh vỡ mặt mày.
Việc xảy ra bất ngờ khiến Cảnh cũng như An và Đồng không kịp trở tay. Cảnh loạng choạng ngã ngồi bệt xuống cỏ, An và Đồng giữ tay Thạch. Cảnh đứng dậy giận tái mặt nhưng lại bình tĩnh phủi quần áo bỏ đi. Thạch lồng lộn:
— Bỏ ra, bỏ ra. Tao phải đánh vỡ cái mặt hỗn xược của nó.
Thạch gạt được Đồng ngã xuống thì Cảnh đã đi khuất. Ba người quay trở lại thư viện không ai nói một lời nào. Về đến thư viện Thạch chia tay bạn. An lấy xe Vélo-Solex đèo Đồng phía sau lên hồ Tây. Hai người ghé vào một quán nước ven hồ Trúc-bạch. Gió thật rộng và có lạnh. An nói với Đồng:
— Cậu có thấy chúng mình mất tuổi thanh niên hay không? Đáng lẽ những việc ấy phải để dành cho người lớn tuổi, mình chỉ lo học hành và hưởng lấy thú vui của tuổi trẻ, trái lại mình già cỗi. Không có bụng dạ để học, bị xâm chiếm âu lo về những vấn đề vượt ngoài tầm sức mình, sống chật hẹp trong những thành kiến của thời đại. Ai bảo tuổi trẻ hoa mộng là sai với bọn mình. Tuổi trẻ không có mặt trời không có biển không có không gian với những lo nghĩ khoắc khoải đến vô lý. Đáng lẽ gặp nhau phải nói chuyện yêu đương mới phải, nhưng lại chẳng có nổi một mối tình cứ cho là viển vông đi để mà kể nữa. C’est triste.
Đồng mỉm cười không nói. An lại tiếp lời:
— Lúc nãy tôi định bàn với các cậu là chúng mình có thể chung nhau ra một tờ tuần báo. Mỗi thằng chịu khó dạy học kiếm tiền mỗi tháng trích một ít là đủ. Thằng Cảnh sẽ viết lý luận và phê bình, thằng Thạch có thể viết tiểu thuyết được, tôi làm thơ và cậu vẽ, như thế đủ bộ.
— Mỗi thằng một ý làm thế nào đứng chung nhau. Cậu xem mới chỉ nói chơi chúng nó còn choảng nhau, nếu làm việc chúng nó dám giết nhau lắm.
— Tôi cũng đã nghĩ đến điều ấy ngay từ đầu. Nhưng tôi vẫn chủ trương phải tự do.
Đồng gật đầu tỏ ý tán thành. Nghĩ ngợi một lát, An lại nói:
— Tìm cho mình một bản ngã độc đáo là tự nhốt mình trong một nhà tù kiên cố nhất, không thể liên lạc với kẻ khác bằng cách nào khác hơn là sự khinh ghét thù hằn. Tôi biết thằng Cảnh khinh bọn mình, coi là thứ học trò sảo mép kiêu ngạo. Thằng Thạch đánh thằng Cảnh vì thằng Cảnh đã dám coi thường cái bản ngã độc đáo của nó. Tôi nhớ tôi có ngỏ ý định muốn viết văn với thằng Thạch, nó mỉm cười bảo tôi là tôi sẽ chẳng làm nên chuyện gì khi tôi còn ngồi trong cái biệt thự của tôi, nó cũng khinh tôi. Tôi chỉ có mỗi sự thành thật và nhu nhược, cái thế của tôi là tôi không khinh được thằng Cảnh thằng Thạch nên tôi khinh tôi.
Đồng chỉ lẳng lặng ngồi nghe để cho An nói. An còn nói nhiều nữa. An nói về trường hợp của Gide. An đọc thơ Apollinaire:
Ouvrez-moi cette porte où je frappe en pleurant...
Bài thơ hỏi người nhìn giải mây thấp xuống với chiếc tàu mồ côi về phía những cơn sốt sắp tới và người có còn nhớ những niềm luyến tiếc ấy những nỗi ân hận ấy... Một đêm là biển cả... Tôi còn nhớ tôi còn nhớ lắm... Một buổi chiều đi xuống một quán rượu buồn gần vườn Luxembourg, cuối phòng bay lên một đấng Christ. Một người có một con chồn, một người khác một con dím, người ta đánh bài và người đã quên tôi rồi... nhớ không nhà ga như viện mồ côi, thành phố quay cuồng nôn ra những đêm tối, mặt trời, những ngày... Hai người thủy thủ không bao giờ rời nhau. Hai người thủy thủ không bao giờ nói với nhau. Người trẻ nhất ngã chết… Rồi Đồng bất tỉnh trong đầu không còn hiểu ý nghĩa gì nữa dù An vẫn say sưa đọc. Đồng thấy lạnh cùng mình.
Ouvrez-moi cette porte où je frappe en pleurant.
La vie est variable aussi bien que l’Euripe...
Sau đó Đồng cử động trong trạng thái bấp bênh. An đèo Đồng về đến Thụy-khê, thả Đồng xuống đầu ngõ. Đồng bước những bước không vững. Vào được đến giường nằm, Đồng ngã xuống cơn sốt mê man.
(Trích chương thứ 1)
