Phần thứ ba - Chương IV (II)
II
Đồng đầm mình giữa những linh cảm, những dự tưởng như trong một cơn mê mở mắt, một sự sáng suốt hoảng hốt; hiện tại bị lật ngược vào quá khứ, quá khứ nhào chụp lấy hiện tại không còn phân biệt. Những chuỗi huyễn tượng liên tiếp xô đẩy như mây nặng trên trời mùa đông, màu xám chì dằng dặc nối kết ngày tháng. Đêm trằn trọc thao thức, Đồng nhìn rõ mình—mình cứ mọc cao lên mãi một cách kỳ quặc như một thân cây đã khô héo chờ đón cơn giông thổi trốc rễ nhào đổ vô giác, cơn giông còn xa tít tận chân trời và thân cây cạn nhựa mỗi giây phút vẫn tủa mọc những nhánh cành trơ trụi. Thành phố u ám vẫn rực rỡ nhởn nhơ không nhìn thấy một dấu hiệu nào của cơn khủng hoảng sẽ tới, trong nhà đời sống gia đình, với đứa con anh Đạo chập chững tập đi, chị Đạo lúc ra lúc vào giữa hai vùng, vợ chồng anh Thái đưa con cái về chơi những ngày nghỉ—đã thấy như hội đủ mặt không còn không khí vắng thiếu, chỉ chờ người đi xa trở về đúng ngày hẹn—anh Đạo mỗi lần vợ về nhà đều gửi theo lời nhắn ngày đoàn tụ. Những linh cảm dự tưởng mở thành những huyễn tượng làm ngõ thoát sự cô lập, nhưng không thể thay thế được bè bạn coi như đã mất, chỉ dẫn đến niềm cô đơn buồn bã. Không hiểu xung quanh mình những gì đang biến diễn, trong mù tối, chỉ nghe những tiếng vọng dội của ám ảnh, những ám ảnh của tuổi thiếu niên khuất mặt.
Một ngày mưa dầm, Nhai hốt hoảng đến tìm ở hiệu ảnh, nằn nì, lôi kéo đi cùng với hắn ra phố để hắn được tâm sự, Đồng từ chối không xong. Đã có đến hằng năm Đồng mất cái thú khoác áo mưa đi men trên hè cùng với bạn, nhìn phố xá rét mướt, bàn những chuyện viển vông. Nhai đi đầu trần ngoài mái hiên các nhà, người cao lênh khênh, nói mà không nhìn, mặt ngửa trông mưa đáp xuống, những thất vọng, tuyệt vọng dồn dập không ngăn giữ nổi, Đồng nghe bằng tai lơ đãng, cảm như được ru trong thế giới mơ mộng của mình đã thoát bay ở ngoài. Nhai thổ lộ về người yêu bé nhỏ của hắn, ngây thơ trong trắng như một nàng tiên; những khó khăn cách trở mà gia đình nàng tạo ra để cản hắn không tới gần được, nàng đau khổ, hắn đau khổ và cái chết hò hẹn đã trùm phủ lên hai đứa như những đám mây đen chĩu. Ngồi lại trong hiệu cà-phê vắng, nhìn qua tấm kính mờ hơi nước, một con phố hẹp dốc dẫn xuống nhà thờ lớn, Đồng bỗng nghĩ có lẽ Thạch cũng đã nghe những lời tâm sự của mình bằng một tai giống như thế và Đồng nhắc với Nhai một câu nói đùa của Thạch: “Cậu như người ở thế kỷ mười chín rớt lại”, Nhai không chú ý đến lời riễu cợt, hắn mơ màng, hắn thoạt tỉnh, hắn nói, hắn đọc thơ, hắn cười, hắn buồn bã, hắn trầm ngâm, hắn vùng vẫy một mình trong tấm lưới của tưởng tượng đã dăng trải. Đồng uống từng ngụm cà-phê, tự hỏi mình cũng đã rửng rưng rồi hay sao. Tuần lễ sau, Nhai lại tìm tới cuống cuồng như người mất trí bất kể sự có mặt của Cúc và khách hàng, hắn nói như sắp bật khóc: Nàng chết rồi, hai mắt đỏ ngầu dữ dội. Đồng lại đi theo Nhai vào bệnh viện Đặng Vũ Lạc ở phố hàng Cỏ. Trong nhà xác Nhai đứng cúi gầm ở một góc cửa không nhúc nhích, bên những tiếng than khóc nỉ non của gia đình người thiếu nữ, không ai buồn đếm xỉa hỏi han đến Nhai và hắn cũng bất kể đến sự khó chịu bực dọc của những người khác. Đồng đứng vơ vẩn ngoài sân, nhìn chán những cửa kính đóng dài trên gác, cây hoa đại trụi lá bên bờ tường trong một khoảng đất nhỏ, lại ra đứng ngoài bờ hè phố trong sang nhà Đấu-xảo, trông lên nhà ga. Rồi Đồng lững thững trở về hiệu ảnh một mình, không đợi Nhai nữa. Trời không mưa nhưng đường vẫn trơn ướt giá lạnh, Đồng không hiểu, không kịp hiểu ý nghĩ lúc ấy như thế nào. Chỉ biết trong sự nôn nao trống rỗng cào trong buồng ngực, dội âm u trong đầu những tiếng động vô lý, những đợt sóng ùa ào hỗn loạn, tay chân bứt rứt đòi vung vẩy có thể xô chạy tự động nếu không cố ghìm hơi thở để chế ngự. Cơn khủng hoảng thổi qua mau như cơn gió cuốn. Gặp Cúc, Đồng cười bông đùa: “Tôi sắp điên. Cô sợ không?” Cúc bĩu môi chế nhạo: “Anh điên lâu rồi mà anh không biết”. Đồng gật gù: “Có lẽ. Có lẽ. Ở trước mặt cô mà tôi không nhìn thấy đẹp quả là tôi điên thật. Mãi đến sáng nay. Tôi vừa đến chứng kiến sự tan vỡ của một mối tình đẹp nhất thế kỷ này. Cô có ước được một mối tình lớn như thế không?”
Câu chuyện tình của Nhai được đăng trên trang nhất các nhật báo, Cúc đưa chỉ cho Đồng xem, Đồng bảo: “Hà-nội đang buồn, hết chuyện nói rồi”. Cúc nghiêm mặt: “Tôi thì không bao giờ tôi tự tử dại như thế cả. Việc gì mà phải tự tử”. “Tự tử vui chứ. Được nhiều người thương. Có khi sống mình không được như thế”. Cúc hỏi: “Thế có nghĩa là anh không được ai thương hay sao?” Đồng nhả nhớt: “Tôi hỏi thế cô có thương tôi không đã nào? Giả thử ngày mai tôi tự tử chết, chắc chắn cô sẽ bảo tội nghiệp anh chàng ngày nào mình cũng gặp anh ta hai buổi mà không ngờ. Trông chẳng ra gì, chỉ được cái đùa nhả, thế mà lại là một anh chàng chung tình nhất đời. Biết đâu anh ta không yêu thầm mình và thất vọng”. “Nếu tôi biết anh yêu tôi thật thì tôi yêu anh ngay”. Đồng nhìn Cúc chằm chằm, Cúc không nao núng má nàng chỉ hơi ửng hồng như màu áo len khoác ngoài ánh lên. Buổi sáng mưa rả rích ngoài phố, trong cửa hiệu chỉ có những dãy hình bóng nhập nhòa ở trên tường. Đồng bật cười khì: “Tôi sợ ở ngoài chắc cô làm địch vận”, và Cúc không trả lời. Đồng nghĩ Nhai sẽ trở lại tìm để được tâm sự, hắn không thể một mình vượt nổi cuộc khủng hoảng, nhưng cả tuần lễ không thấy bóng. Một buổi chiều trời tối sớm, Đồng ghé thăm Nhai, gặp hắn ngồi thu lu trong một góc tối của căn gác như một người vừa ốm dậy, mắt thất thần, râu tóc tua tủa, quần áo hôi hám. Mọi người trong nhà đều nói khẽ và né tránh, bà mẹ bảo với Đồng, giọng nghẹn ngào: “Hình như nó mất trí”. Đồng vừa bước đến gần vừa gọi: Nhai, cậu làm sao thế? Hắn cử động thân mình trên phản, nói một tiếng gì không rõ; Đồng ngồi xuống cách khoảng một thước, mẹ Nhai dụt dè phía sau lưng. Một phút bà ghé vào tai Đồng thì thầm: Cậu ngồi đây chơi với nó, có lúc nó tỉnh. Gian gác không có ánh sáng, tối om, dưới phố đèn đã thắp. Đồng ngồi nhìn trừng trừng qua bóng mờ cái hình bóng thảm hại của Nhai gục đầu trên gối im lìm không động đậy chốc chốc phát ra những tiếng rên nhỏ nhỏ trong cổ họng. Phía đầu gác những bước chân lên thang dón dén lọt vào buồng rồi lại rút mau. Đồng nghe rõ nhịp hơi thở lúc hổn hển, lúc yếu ớt như đã mất; Nhai không thốt một lời nào và Đồng bị bỏ rơi trong gian gác đến lúc tối mịt không thấy bóng một người trong gia đình Nhai trở lại. Đồng sắp sửa cố gắng đứng lên để ra thoát cái không khí nửa tỉnh nửa mê, bỗng thấy Nhai ngửng đầu lên, mắt hắn chiếu từ trong tối lấp lánh như mắt mèo. “Đồng hả?” Đồng dịu dàng thận trọng: “Cậu tỉnh rồi phải không Nhai?” Nhai thở mạnh như sắp sửa rời chỗ nhưng sau đó vẫn ngồi im.
“Tôi điên rồi. Điên thật rồi. Không có ai ở nhà sao? Anh đến lâu chưa? Anh có cười tôi không? Nhưng quả tình trí tôi cuồng loạn. Không biết từ lúc nào. Có lẽ tôi phải xin vào ở trong nhà thương. Anh thấy không? Ở nhà không ai dám gần tôi. Tội sợ ánh sáng bây giờ mà anh bật đèn lên tôi chóa mắt là tôi phát cơn điên ngay. Không hiểu mấy ngày nay gia đình tôi phải sống ở đâu? Tôi không thể sống nổi nữa. Sống để biết nàng đã chết tôi càng thêm oán thù những người khác. Tại sao họ lại làm như thế? Họ được lợi cái gì? Không ai hiểu tình yêu của chúng tôi cả. Đây này thư của Ngân tôi còn xếp đầy trong túi đây này. Tại sao người ta có thể ác đến như thế, Ngân chết rồi, chết thật phải không? Tôi cũng chết, lúc ấy tha hồ mọi người hối hận. Hối hận ăn thua gì. Hối hận rồi họ cũng quên. Tôi còn nhớ, tôi không thể quên Ngân nổi... Tôi không thể quên Ngân…” Nhai bật khóc òa như một đứa con nít, Đồng không biết xoay trở cách nào. Khóc chán, Nhai lại im không nói gì nữa, bỗng hắn như muốn nhảy chồm lên hét ra ngoài cửa gác: “Chúng mày sướng lắm, rình xem tao khóc sướng lắm hả”. Đồng giật mình quay nhìn thoáng thấy bóng hai đứa em gái của Nhai thụt lui xuống nhà. Đồng bảo: “Cáu làm gì. Cậu đừng nghĩ gì nữa”. Nhai thở gấp một hồi, giọng cao hơn và rung động: “Tôi cũng bảo tôi thế những lúc tỉnh. Không nghĩ nữa, vô ích. Tôi cũng phải bình tĩnh như Ngân mà chết. Không được. Tôi cứ trông thấy Ngân nằm đó phủ trong tấm khăn trắng và đầu óc tôi bắt suy nghĩ quay cuồng”. Nhai ngừng bặt như nghe ngóng những tiếng động bên dưới, những tiếng động tạo hình cho im lặng của phố xá. “Anh về đi. Tôi nghe như không chịu nổi nữa”. Đồng đứng dậy, đế giày trơn cọ trên cát bụi của nền gác nghe sắc, mỏi mệt ê ẩm cả người. Gia đình Nhai vây Đồng ở ngoài đầu cầu thang hỏi xem Nhai còn tỉnh không, Đồng lắc đầu. Ông bố Nhai bảo: “Sáng mai đưa nó xuống Bạch-mai. Tôi đã điều đình xong cả rồi”. Đường về phố vắng tanh, lạnh buốt. Liếc nhìn vào trong các quán rượu còn mở cửa, những khoảng sáng đỏ kệch trên con đường lớn cây um tiếng gió, Đồng sực nhận thấy quang cảnh tẻ nhạt không náo động ầm ĩ như những năm trước. Bọn lính Tây dạo này bớt phá phách, thành phố có vẻ yên tĩnh thanh bình, đêm tối thêm thân mật. Có thể lên phố về đêm, đạp xe dạo chơi để không nghĩ, tôi cần không nghĩ như đã khuyên Nhai. Sáng hôm sau Đồng báo cho Cúc biết Nhai đã loạn óc. Cúc hỏi Nhai có phải là bạn thân với Đồng không, Đồng đáp lững lờ bảo là phải cũng được mà không phải cũng đúng. Cúc vặn: “Anh không có bạn thân hay sao?” “Có chứ. Sao không?” “Tôi có gặp anh đi chơi với ai khác ngoài anh chàng điên đó đâu?” Đồng ngắn mặt nghĩ ngợi: “Ừ nhỉ. Cô có muốn gặp chúng nó không? tôi giới thiệu. Chỉ sợ cô lại mê chúng nó mất”. Cúc trễ dài môi dưới: “Anh nói nghe dễ thế. Hôm nào anh thử giới thiệu xem”. Cúc rẽ câu chuyện sang lối khác thuật những chuyện đồn khắp thành phố về bọn lính Ta-bo bắt cóc trẻ con ăn thịt. Ông chú của Cúc từ trên gác xuống lại hỏi đến chuyện Nhai, ông trách hắn là đứa con trai không có lý tưởng. Trong khi ông nói, Cúc liếc nhìn Đồng mỉm cười như nàng và Đồng có chung một ý kiến nào đó; Đồng không hiểu ý của Cúc và nghĩ không rõ Cúc nhìn thấy mình như thế nào. Chủ nhật ấy Đồng xuống thăm Nhai, gió ngoài đồng thổi ngược cản xe như không muốn chạy, hai lỗ tai buốt ù lùng bùng. Đồng tiếc những ngày nắng khi Thạch còn nằm dưỡng sức trước khi rời bệnh viện trở lại đơn vị. Khu điên nằm khuất một góc sân phía trong cùng của nhà thương, con đường dẫn vào chạy ngang qua nhà xác mở cửa và tối om. Bờ rào xi-măng vây một khoảng đất trống đào thành những luống trống—không thấy cây mọc; ở giữa một ngôi nhà nhiều buồng cửa sổ chấn song sắt với một hành lang xẻ đôi thẳng lối từ cổng vào; trong các góc sân cỏ và chuối mọc lan bẩn thỉu. Mùa đông rét mướt vẫn thấy hai ba người đi lại vơ vẩn giữa các luống đất, đằng sau những cánh cửa sổ bất động những khuôn mặt ngơ ngác nhìn ra ngoài cánh tay trần bíu chặt lấy song sắt. Đồng đẩy cánh cổng, bước vào lối gạch, không nghe tiếng động huyên náo như tưởng tượng, đi thẳng vào gian nhà không gặp ai ngăn cản, những người đang đi lại ngoài sân không ai biết đến Đồng. Người giám thị khu điên ở ngay trong gian buồng đầu tiên mở cửa, gian buồng trần trụi với một chiếc giường sắt cũ và một chiếc bàn mộc không có ghế, chùm chìa khóa lớn ném ở trên bàn. Ông ta nhìn Đồng bằng cặp mắt soi mói, tôi cũng có vẻ điên chăng, hỏi trống không cọc cằn: “Đi đâu?” Đồng nói muốn được gặp một người bệnh tên Nhai rồi đưa trình giấy phép của bác sĩ. Ông ta đọc đi đọc lại như nghi ngờ giấy giả mạo, quan sát Đồng từ đầu đến chân. Thốt nhiên trong buồng kế cận tiếng la rống thất thanh khiến Đồng giật mình sởn gai ốc, tiếng giây xích va chạm loảng xoảng. Người giám thị chạy tới, kiễng chân ghé mắt nhìn vào, khi quay lại chỗ Đồng ông nói như dọa: “Sợ chưa? Xích rồi đấy”. Đồng tưởng đó là Nhai vội hỏi: “Sao người nhà bảo bác sĩ nói bệnh không có gì nguy hiểm cả?” Người giám thị ngơ ngác hỏi: “Ai?” và sực nhớ ra: “À, số 21 hả? Trường hợp này cũng hiền thôi, không bị giam, phòng mở cửa mà. Ông đi theo tôi, cẩn thận, nhỡ mà có bệnh nhân lên cơn bất thình lình trở tay không kịp”. Những cánh cửa sắt dầy nặng khoét những khung hổng lớn độ hai bàn tay, nhìn qua chỉ thấy một mảng tường trắng nhờ nhờ. Đến trước cửa một gian buồng gần cuối mở một nửa, người giám thị nghiêng mình thò đầu vào trong rồi quay trở ra bảo: “Không có. Có lẽ đi dạo ở ngoài. Số 21 này lúc nào lên cơn chỉ có khóc, khóc ti tỉ cả ngày. Thỉnh thoảng cũng bị xiềng vào giường, nhưng ít lắm. Không phá mấy”. Đồng theo người giám thị ra đứng trước thềm nhà, đưa mắt nhìn quanh sân chỉ thấy một người đang đứng bên bờ rào trông ra bên ngoài—con đường chạy giữa hai hàng cây như chết rũ. Người giám thị bắc loa tay gọi: Số 21 phải không? Có người nhà đến thăm này. Người bệnh quay nhìn vào, lững thững đi theo lối rãnh giữa hai luống đất dẫn thẳng đến bên hông nhà. Không phải Nhai, người giám thị đảo mắt tìm. Đồng bất chợt trông thấy Nhai ngồi nép vào bờ tường bên góc nhà, hai khuỷu tay chống trên đầu gối, mặt cúi nhìn đất. Đồng nói vội cám ơn và đi mau về phía Nhai. Nhai ngửa mặt lên bỗng hé miệng cười, miệng méo xệch ngây dại, hắn điên thật tình, Đồng đứng cúi nhìn xuống. Không thấy Nhai biểu lộ thêm cử chỉ nào, Đồng cũng ngồi ghé vào mép tường hỏi: “Đỡ không?” Nhai lắc đầu, một lúc lâu: “Tôi muốn chết”. Đồng rùng mình như gặp gió lạnh, tôi muốn chết, thật là buồn, Đồng không tìm được câu nào để hỏi nữa đành ngồi lặng nghe gió lùa trong đám cây ngoài đường. “Tôi muốn chết”. Nhai như quên hẳn Đồng ở bên cạnh dán mắt xuống dưới chân. Bàn tay gầy guộc tái thâm, đất cục lổn nhổn lăn lóc mang những rễ cỏ trắng bệch. Lại nghe những tiếng rú từng hồi ở trong nhà như lợn bị chọc tiết. Một người đàn ông ngồi ẩn sau gốc chuối gần bờ tường chạy xổ ra, vỗ ngực bành bạch: Vũ Tam Kỳ đây, ông là Vũ Tam Kỳ đây, ta gơn, ta gơn. Đồng nhận ra người đàn ông rách rưới mấy năm trước vẫn dẫn một mụ ăn mày già mù mắt đi hát nghêu ngao ngoài phố và chửi nhau với bọn trẻ con. Vũ Tam Kỳ đây, Tây ông còn chẳng sợ nữa là thứ mày. Nghe chưa con. Tăng xông, ta gơn. Một bàn tay vỗ lên vai, Đồng giật thót mình, người thanh niên Đồng đã trông thấy đứng cạnh bờ rào đến cạnh Đồng lúc nào không biết. “Trông anh quen quá mà không nhớ”. Chưa hề gặp mặt người này bao giờ: cặp mắt sâu đen, đầu tóc chải mượt, khuôn mặt xanh xao hốc hác, hàm răng vỡ như lúc nào cũng cười, dưới nách cắp một quyển sách dày đóng bìa da. “Anh học ở đâu?” Đồng lắc đầu: “Có lẽ mình hay gặp nhau ở phố”. Hắn khẽ nhíu mày xong cũng ngồi xuống mép tường ép Đồng vào giữa, Nhai vẫn không động đậy. Hắn hất hàm sang Nhai hỏi Đồng: “Thất tình? Bệt quá”. Đồng ngạc nhiên nhìn người lạ mặt, hắn cười ranh mãnh, ánh mắt chiếu sáng tinh quái: “Anh tưởng tôi điên hay sao?” hắn ngừng lại dò xét phản ứng rồi hạ giọng thì thào: “Tôi không điên đâu. Chúng nó gọi tôi động viên tôi không muốn đi thì vào ở đây. Chẳng việc gì phải trốn mất công. Anh thấy không? Khi nào ra tôi lại có thừa tài liệu viết một quyển sách về nhà thương điên. Thật sống nhé. Tội gì chết thiệt thân một cách vô ích”. Hắn cười khanh khách khoái trá. Lúc ấy trong nhà vang lên những tiếng đập cửa sắt thình thình, tiếng người giám thị quát tháo trong hành lang và người đàn ông ở ngoài sân chạy lại lồng lộn vỗ ngực bành bạch, hét nhai nhải; Vũ Tam Kỳ đây, ông là Vũ Tam Kỳ đâu, ta gơn, ta gơn. Anh chàng thanh niên bên cạnh Đồng đứng bật dậy, chạy một hai bước rồi cũng hét: Faut pas gueuler comme ça, couillon. Tao mới là Vũ Tam Kỳ. Vũ Tam Kỳ chính cống bà lang Trọc đây. Vũ Tam Kỳ đây... Người đàn ông đứng ngoài sân ngẩn mặt im bặt, trong khi tiếng la inh ỏi vẫn vọng ở trong nhà, rồi lủi thủi chui vào ngồi sau bụi chuối. Anh chàng thanh niên trở lại chỗ Đồng nói: “Anh xem tôi có điên không? Ở trong này tôi được tự do đi lại. Lúc nào chán thì cũng la hét đập phá để họ giam mình lại nằm im một chỗ mà suy nghĩ, nghiền ngẫm. Anh xem tôi còn đọc được sách mà”. Đồng bật cười hỏi: “Anh vào đây lâu chưa? Kể cũng thú”. Nhai chẳng nói chẳng rằng, bỏ chỗ đứng lên, Đồng cũng vội theo, anh chàng thanh niên với nắm cánh tay Đồng kéo lại bảo: “Mặc nó. Ngồi nói chuyện một chốc đã”. Đồng gỡ tay hứa sẽ quay ra, nhưng anh ta cũng theo bén gót phía sau. Nhai vào nhà, đi thẳng về phía buồng của mình không nhìn ai, người giám thị cản Đồng đứng lại bảo: “Thôi ông về đi. Anh ta đến cơn rồi”, rồi quay sang hỏi anh chàng thanh niên: “Đi đâu?” “Đi đọc sách”. Anh chàng lại lững thững quay lưng đi ra ngoài thềm. Đồng vừa bước xuống thềm, anh chàng đã níu tay đi kèm bên cạnh, ghé sát tai thì thầm: “Tôi nhớ rồi. Tôi vẫn gặp anh ngoài thư viện. Đúng không?” Hơi thở hôi hám xông lên mũi khiến Đồng phải nhăn mặt đứng lại. “Bọn các anh có mấy người mà. Đâu cả rồi?” Đồng kiếm cách tháo gỡ những ngón tay bấu chặt lấy tay áo như móng quặp, nhìn trừng trừng vào mắt người đứng gần bảo: “Buông ra”. Hắn buông tay, cười toe toét: “Anh sợ tôi điên thật hả? Điên không phải là bệnh truyền nhiễm. Tôi không sợ bị lây mà. Tôi ở đây đã cả hai ba tháng”. Đồng nghe hai tay lạnh giá, đầu nặng và trống lao đao, hơi thở dồn dập mệt nhọc, phải ngửa mặt lên trời hít mạnh không khí. “Tình hình ở ngoài có gì lạ không?” Đồng bước mau ra cổng, vừa sợ hãi vừa phẫn nộ, tôi hiểu Thạch, hiểu những cơn giận dữ vô lý của nó, còn tôi nhu nhược, nghe tiếng gọi với bên bờ rào: Thỉnh thoảng xuống chơi nói chuyện. Đồng dắt xe đạp đẩy đi không dám nhảy ngay lên yên, sợ chóng mặt ngã lúc nào cũng không biết.
