favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Phần thứ ba - Chương IV (I)

I

 

Trời thành phố những ngày mùa đông tái ngắt trong gió bấc, những trận mưa tầm tã—nước nhọn buốt như mũi kim đâm trên da mặt căng nứt, da tay nhăn nhúm. Chiếc áo cũ mua ngoài chợ Giời không đủ ấm, Liêm đành lôi chiếc áo dạ của Tường ra mặc thêm, áo đã bị dán nhấm tôi rũ lùng thùng vướng víu mỗi lần ngược gió làm chiếc xe đạp nặng thêm lao đao trên những đoạn đường đất mấp mô; Liêm nghĩ mình giống như anh hề của gánh xiếc Tạ Duy Hiển được xem thuở bé. Bọn trẻ trong xóm vẫn dẫm chân đất, những ống cẳng thâm tím khép lại run rẩy, co ro tựa vào các mặt nhà há hốc miệng phà khói nhìn. Những chuyến tàu điện từ ngoại ô vào nhớp nháp vẫn chở chật những người nhà quê lủng củng quang gánh, áo tơi và nón; mặt đường in hằn những vệt bùn dài của bánh xe nhà binh, xích-lô trống che kín mui và cánh gà. Liêm thức giấc bất cứ lúc nào cũng tưởng như chưa sáng, ngọn lửa bếp cháy sèo trên những thanh củi ướt và tiếng húng hắng của bà mẹ Hải trong gian buồng ẩm thấp như muốn chảy thành nước, hoạt động của phố xá trong những giờ giấc phải qua trái ngược: người đi bộ trên hè tay giấu kín đi nhanh hơn còn xe đạp dưới đường chậm chạp không vững. Thành phố vào mùa đông hợp với Liêm hơn, sự giá lạnh gói chặt vào mình che chở cho mình, mọi vật mọi người đều đông cứng riêng biệt. Chỉ trừ những buổi tối trong nhà phải đón nhận sự săn sóc thái quá của bà mẹ Hải, và Liêm bối rối vì chưa từng quen săn sóc người khác.

Một ngày đầu tháng chạp, Liêm đến nhà in thấy mọi người ngồi tụ tập ngoài buồng tòa soạn, đang bàn cãi ồn ào. Liêm hỏi Tuất: “Chuyện gì thế?” Long mau miệng: “Anh chưa biết gì cả hay sao? Báo bị đóng cửa”. Liêm nhìn Ngọc đang mải nói với ông San, tính toán công việc, từ ngày Hải đi, Liêm làm quên không đến với Thái và Ngọc, cũng không nghe Ngọc đả động đến nhưng trong công việc hằng ngày Liêm thấy rõ Ngọc tỏ vẻ kiêng mình giữ thái độ lạnh nhạt. Đợi đến chín giờ, ông Kiêm không thấy lại tòa báo; anh thầy cò hớt hải đạp xe tới báo tin ông đã bị bắt và có lẽ bị đưa vào Sài-gòn an trí. Ngọc nói lớn: “Còn tiền lương của anh em bây giờ đòi ai?” Anh thày cò ngơ ngác: “Cả tôi nữa. Hai tháng nay tôi đã lĩnh hết lương đâu”. Viên quản lý tờ báo dăm thì mười họa mới gặp mặt ở tòa soạn, còn chủ nhiệm từ ngày Liêm vào làm chỉ đọc thấy tên chứ chưa biết mặt, lương nhân viên đều do ông Kiêm phát. Liêm hỏi: “Thế còn nhà in này của ai?” Tòa báo và nhà in đặt ở tầng dưới của biệt thự, một nhà chứa xe và hai gian buồng ngang, dường như không liên quan gì đến những người cư ngụ trong biệt thự—một gia đình công chức đông con ra vào theo lối cổng riêng. Anh thày cò bàn để anh chạy đi tìm quản lý và hẹn ba giờ chiều anh em trở lại sẽ biết tin, anh quyết sẽ kéo bằng được quản lý đến nếu gặp. Ngọc bảo đành vậy, dặn mọi người buổi chiều đúng hẹn, lấy tiền xong sẽ tính công việc khác. Anh thày cò hỏi xin ông San điếu thuốc trước khi nhảy lên xe đạp đi. Mọi người đều bỏ ra đường và Ngọc chỉ khép các cánh cửa buồng lại. Tòa báo trống không người coi. Ông San khoác tay Liêm ở ngoài cổng bảo: “Rỗi chẳng làm gì về đằng tớ uống rượu cho ấm. Nhà có chai rượu thuốc ngon lắm”, ông quay gọi Ngọc: “Về nhà uống rượu đi”. Ngọc từ chối, đi cùng với Tuất và Long ngược về phía khác. Còn ông San giữ chặt tay Liêm, cặp kè như bạn trẻ thời đi học xuôi xuống nhà Rượu. Con phố hẹp không cây cối, hai dãy nhà một tầng kín cửa, từng quãng bị ngắt bởi những con đường thẳng góc lớn hơn; càng về cuối quang cảnh càng buồn tẻ hơn khi bức tường dài của nhà Rượu trồng mảnh chai và chăng giây điện ở trên chiếm hẳn một bên đường. Hai người đi lấn gần hết nửa mặt đường không gặp xe cộ, Liêm dắt xe một tay còn tay bị quặp đút trong túi áo, nghe tiếng nước lép nhép trong đế giầy của ông San. Ông San nói suốt dọc đường không nghỉ, ông kể về ông Kiêm bằng giọng thán phục: từng được mời làm bộ trưởng không nhận, làm báo nghèo kiết mùng tơi mà lại phải nuôi hai vợ tám chín đứa con, bây giờ lại bị bắt. Liêm lơ đãng nghe, chốc chốc mỉm cười phụ họa. Nhà ông San ở trong xóm nhà lá dựng trên bãi đất trống quá nhà Rượu, một nơi đổ rác của thành phố; ông nói như xin lỗi: “Ở chỗ này hơi bẩn thật nhưng được cái không phải ở chung. Tôi chúa sợ cái cảnh ở chung chỉ tổ cãi nhau điếc tai”. Ông liếc mắt ra hiệu cho Liêm nhìn vào những gian nhà đầu tiên, bảo khẽ: “Lúc nào cần giải quyết, cậu có thể đến đây được. Xong sang nhà tôi nhắm tí rượu lấy lại sức”. Trước mặt nhà ông San là khoảng đất cỏ xa chỗ đổ rác cũng sạch sẽ; nhà nền đất quét dọn và bầy biện tươm tất, bộ bàn ghế mộc đặt cạnh cửa sổ dùng làm chỗ tiếp khách. Ông có năm người con đều đã lớn, ba người lập gia đình sống riêng, còn cô con gái nói đùa gả cho Hải bán vải ngoài chợ Hôm và đứa con trai út mười lăm tuổi học trường Trung-học. Vào đến nhà, khi ông đã thay quần áo đi lại nhàn hạ mang rượu mời, ông khác hẳn, có vẻ già, nghiêm trang đạo mạo đúng với tuổi ông hơn khi còn ở chỗ làm việc hay ngoài đường. Trong bữa rượu, ông San bỗng hỏi: “Tôi xem hình như anh với anh Ngọc có chuyện gì xích mích phải không?” Liêm chối: “Không. Không có chuyện gì cả”. “Sao lúc nãy tôi rủ anh Ngọc về chơi thấy anh ấy có vẻ không bằng lòng”. “Anh ấy nghĩ thế nào, tôi không biết”. Rượu thuốc vừa nhạt vừa đắng, Liêm chỉ nhấm nháp lấy lệ chiều lòng ông San. Liêm nghĩ đây là dịp tốt để tách khỏi Ngọc. Tôi sẽ làm gì? Còn bà mẹ Hải? Tôi phải làm sao? Ngà ngà ông San bắt đầu thổ lộ tâm sự: “Đáng lẽ Ngọc nó là con rể tôi. Tôi vẫn tiếc nó mãi. Tôi dự định gả con gái cho nó. Đứa lớn đã lấy chồng rồi ấy. Tôi biết nó từ ngày bé kia mà. Anh đến chơi nhà nó bao giờ chưa? Anh trông thấy vợ nó chứ? Nghĩ cũng tội nghiệp cho nó. Tôi không hiểu vì đâu nó lại chịu như thế. Chuyện nó với vợ nó bây giờ có lẽ chỉ có tôi biết rõ hơn cả. Bà mẹ vợ nó người cùng làng với tôi mà. Hồi xưa cô ta lên trên Tông lấy Tây đẻ được hai đứa con gái. Vợ thằng Ngọc này tên là Mùi. Con chị tên là Mão. Sau anh chồng chết, cô ta lấy một thằng Tây khác. Thằng này nó lấy tuốt cả mẹ lẫn hai đứa con riêng lúc ấy mới độ mười mấy tuổi. Rồi là mẹ con ghen nhau tán loạn. Cả con Mão lẫn con Mùi đều có con với thằng chồng sau, phải đưa đi đẻ giấu rồi mang về nuôi, cứ gọi con Mão con Mùi bằng chị. Gia đình ấy bây giờ cũng ở Hà-nội này, mấy đứa con đi học trường Tây lớn tướng. Không biết hồi tản cư thằng Ngọc gặp gỡ thế nào mà lại bằng lòng lấy con Mùi này. Sợ mấy đứa con đầu của thằng Ngọc cũng vẫn còn là của thằng Tây dê xồm kia chớ chẳng chơi. Tôi cứ tiếc cho nó mãi. Nó là đứa tốt mà làm sao lại chịu cái cảnh chướng như thế được”. Ông San cười khà khà, giọng cay đắng uất hận hộ cho Ngọc. Liêm cũng cười theo bảo: “Trông chị ấy cũng ngoan chứ bác”. Ông sì miệng bắn cả bọt rượu xuống bàn: “Cái thứ máu lai làm sao mà tin được”. Liêm ngồi đối diện với ông San, ngoài cửa sổ trời như tấm chăn dạ ẩm tung trên bãi cỏ rộng, nghe tiếng hát trong im vắng của người gái chơi mãi tận đầu xóm. Một bài cải cách thịnh hành. Buổi trưa ông San tự thổi cơm lấy ăn với đứa con trai, món ăn con gái đã mua sẵn từ chiều hôm trước, xế chiều con gái đi chợ về mới lo cơm nước cho cả nhà. Ông thường uống rượu trong bữa cơm chiều, đó là giờ khắc hạnh phúc trong ngày của ông; ông nhất định nếu gả cô con gái này ông sẽ bắt rể. Liêm nói đùa: “Nhưng Hải nó còn một mẹ già, đời nào nó chịu ở rể”. Ông San cũng nửa đùa nửa thật: “Không thì anh làm rể tôi càng tốt. Anh chỉ có một thân lo gì, ở đâu chẳng được”. Liêm cười phá lên: “Bác lầm to. Cháu có hàng tá vợ rồi”. “Cũng không sao. Hàng tá vợ mà ở một mình kể như không. Đàn ông ai chẳng thế”. Rồi ông nhắc lại những thành tích thời thanh niên của ông, giọng đắc ý tự mãn; những người đàn bà ông đã bỏ, mỗi người một vẻ, nhưng ông không thể yêu ai hơn mẹ của mấy đứa con hiện thời của ông. Bà chết ngày còn ở ngoài hậu phương, ông thương tiếc bà nhất; trông dáng bộ, nét mặt, nghe lời nói của ông thì bà là người đàn bà đẹp nhất, đáng yêu nhất không một người đàn bà nào sánh kịp, không ai có thể thay thế nổi. Liêm tự hỏi người đàn bà ấy khi còn sống như thế nào, có thật như hình ảnh ông San ghi khắc trong trí chăng. Nếu chẳng may ông San chết trước bà, bà sẽ nhắc lại về ông ra sao? Tôi, chính tôi đây cũng là đứa con của ái tình. Mẹ tôi đã trốn bỏ gia đình nệ cổ để về sống với cha tôi trong cảnh nghèo, sinh ra tôi và em tôi. Và cha tôi đã mất và bà... Tôi chắc không còn mong gặp bà nữa. Lúc Liêm từ biệt ông San, cũng hơi chuếnh choáng; ông San đứng tựa cửa cười dặn đi xe cẩn thận không ngã, về ngủ một giấc là khỏe ngay. Hai cô gái chơi đầu xóm vỗ tay, cười chế nhạo khi Liêm đạp xe ngang, giây xích kêu cót két. Liêm cũng nhe răng cười, đảo ghi-đông xe như sắp ngã, tôi đang làm hề, từ khi lớn tôi nghiêm mặt đóng một vai hề tôi vẫn thích khi bé đi xem xiếc mà không biết. Tôi không cười, tôi sục sạo trước mắt đám đông xa lạ giữa những khoảng rộng mênh mông tìm kiếm vu vơ, làm trò tìm kiếm, tôi không nói, tôi chỉ làm những cử động. Dis qu’as-tu fait, toi que voilà. De ta jeunesse. Vẫn những bài học thuộc lòng không bao giờ quên được. Những bài học ấy có dùng làm gì đâu.

Sau giấc ngủ trưa rỗng nặng, Liêm trở dậy bỏ quên hẳn những việc buổi sáng vẫn tưởng mình đi làm như thường lệ. Đến nhà in gặp ông San hỏi: đã tỉnh chưa? Đợi đến cả tiếng đồng hồ, viên quản lý mới đến. Không có tiền, chỉ có những lời nói huyên thuyên đâu đâu và lời hứa hão huyền. Ngọc nổi cục: “Các ông tranh đấu gì tôi không biết. Gần Tết nhất đến nơi, chúng tôi cần tiền lại còn phải để thì giờ đi tìm công việc khác nữa. Chúng tôi dân lao động, mà các ông cứ lằng nhằng thế này thì chúng tôi chết đói hết cả lũ”. Viên quản lý ngọt nhạt: “Anh em cứ yên tâm. Thế nào cũng có, chỉ ngày mai ngày kia thôi. Để tôi gặp ông chủ nhiệm xem sao”. Ngọc nhất định khăng khăng không trì hoãn, đòi được gặp chủ nhiệm để thanh toán dứt khoát vấn đề. Cuối cùng viên quản lý phải nhượng bộ, hẹn sáng hôm sau sẽ đưa anh em gặp chủ nhiệm. Ngọc nhắc đi nhắc lại bắt viên quản lý phải cam kết đúng hẹn trước khi buông cho hắn ra về. Lúc ấy Liêm nhìn nét mặt Ngọc hầm hầm tức giận trông hung dữ như sẵn sàng có thể giết người được. Ông San nói bỡn cho không khí bớt ngột ngạt: “Mình lại được nghỉ thêm chiều nay với ngày mai nữa. Rồi tính sau”. Rời nhà in Liêm xuống Kim-mã. Bầu trời vẫn ủ dột tuy không mưa. Đường gần đến ngoại ô trơn, nhiều vũng nước đọng. Ngõ vào xóm lạnh lẽo xa hút như một con đường làng. Tôi vẫn phải quay trở lại những chốn gọi là quen thuộc, dù tạm bợ cho tới khi gây được những chốn quen khác. Như thế tôi sống trôi trong ngày tháng. Buổi tối lại trở về trong gian buồng khuất xóm Chùa Vua. Từ đầu thành phố này đến đầu thành phố kia, những nơi mà thành phố bị nhấn chìm vào trong tối tăm ghẻ lạnh. Liêm nghe tiếng giầy lộp cộp sau lưng, ngoảnh lại. Hỗ cắm cúi đi mau tới, kêu lên mừng rỡ: “Tôi định về nhà rồi lên tìm chú. Chị chuyển bụng đưa vào Phủ Doãn rồi. Mà sáng mai tôi lại phải xuống Phòng sớm. Một hai hôm mới về được. Chú ở nhà trông nom hộ tôi nhé”. Hỗ mặc bộ âu phục xám, đeo kính cận thị, tay cắp cặp, vừa trịnh trọng vừa ngờ nghệch. Liêm thấy mình ngồi trước mặt Hỗ trong nhà vắng như ngày nào mới đặt chân đến Hà-nội. Gian nhà mờ tối với gió động xung quanh. Hỗ bảo: “Chắc chỉ đêm nay hay sáng mai là cùng. Chốc chú đi ăn cơm với tôi rồi ta vào qua nhà thương để chú biết chỗ”. Liêm châm thuốc hút, miệng nhạt khô, đầu váng vất. Hỗ ra vào nhặt nhạnh một vài món cần dùng của đàn bà bỏ vào cặp. Bỗng anh đứng im giữa nhà hỏi: “Chú thích con giai hay con gái. Tôi mong nó là con gái quá”. Liêm nhìn bóng Hỗ không rõ mặt rồi cúi đầu. Chiếc áo dạ bị vướng kéo từ trên vai. Tôi mong một đứa con chết ngay khi lọt lòng mẹ. Hỗ đi xích-lô, Liêm đạp xe theo lên phố. Về chiều thành phố chỉ còn tiếng gió lùa trên các chòm cây cao bên đường, nước rớt lộp độp trên mặt nhựa. Ngồi trong thùng xe bị vây kín, chốc chốc Hỗ lại ghé miệng nói chuyện vẩn vơ. Bữa chiều ăn trong hiệu phở gần Cửa Nam. Nhìn qua con đường nhỏ là một công viên hình tam giác, xuống đến con đường lớn ăn thông với hàng Đẫy và Cột Cờ; bên kia đường là đồn cảnh sát có lính gác Hải và Liêm đã bị bắt về đấy, sau lưng đồn hai con phố gặp nhau thu hẹp lại về phía chợ Cửa Nam. Mang máng nhớ như ngày trước khi mới trốn lên Hà-nội Liêm đã ngồi ở đây, đã nhìn cái công trường chằng chịt đường phố này rộng bát ngát với xe cộ. Bây giờ nó đìu hiu trống trải nhỏ hẹp và đang chìm xập vào bóng tối mặc những ánh đèn lạnh lẽo của các cửa hiệu đã được thắp. Dưới sàn gạch, trong các gầm bàn và lối đi, bừa bãi rác rưởi. Liêm thấy no, chỉ ăn một bát phở, uống cốc cà-phê ngồi đợi Hỗ. Đi ngược trên hè phố Trường-thi, bên cạnh vòm cây hút che mặt đường cao, Liêm nghe sự vắng lặng rét mướt ủ từng nỗi cô đơn một. Trước cổng nhà thương Phủ Doãn, xe cấp cứu vừa đỗ, tiếng còi còn rền rĩ, người ta đang sửa soạn mở cánh cửa sắt. Liêm bảo Hỗ: “Thôi anh vào một mình đi. Mai tôi xuống. Bây giờ tôi có việc”. Hỗ đi đến trạm gác, tìm người quen quay trở ra chỗ Liêm kéo vào giới thiệu: “Mai chú đến ông này sẽ cho vào bất cứ giờ nào hả”. Rồi Hỗ chỉ đường cho Liêm biết chỗ nằm của vợ. Liêm nhảy vội lên xe đạp ngược chiều một đoạn phố.

Bà mẹ Hải vẫn chờ cơm ở nhà, Liêm ngồi vào mâm sới nửa bát một để ăn cùng với bà. Liêm bảo: “Ông Kiêm bị bắt rồi. Tòa báo đóng cửa bác ạ. Thế là cháu thất nghiệp”. Bà cụ nói: “Lo gì, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo. Bao giờ cậu đi làm được cậu lại trả tôi cũng không sao. Có cậu ở nhà tôi cũng đỡ nhớ thằng Hải”. “Nhưng cháu...” “Không có cậu tôi cũng phải thổi cơm ăn chứ. Thêm bát thêm đũa mà vui. Với lại tôi cũng coi cậu như người nhà”. Liêm không nói gì được nữa, mình đã bị buộc chặt vào bà cụ. Cả buổi tối xong công việc, bà ngồi lo lắng thắc mắc về tình cảnh của hai người vợ ông Kiêm. Bà nói chỉ có người đã ở trong cảnh ngộ mới hiểu thấu nỗi khổ tâm của đàn bà, ngày chồng mới mất tích bà không thể nào ngờ mình có thể nuôi con khôn lớn đến như ngày nay. Người đàn ông khi làm việc không đếm xỉa đến gia đình, nếu chồng bà còn chưa biết ngày nay gia đình bà ra sao. Nhưng có lẽ đứa con gái duy nhất của bà sẽ không chết và Hải có hy vọng học đến nơi đến chốn. Bà khuyên Liêm nếu còn thích lăng nhăng thì đừng lấy vợ chỉ làm khổ vợ con mình thôi. Liêm thiếp ngủ còn nghe loáng thoáng tiếng bà cụ chốc chốc hỏi một câu. Trời thật lạnh, mưa rả rích cả đêm, Liêm mặc chùm tấm áo dạ nằm co quắp nhường chăn cho bà cụ như ngày nằm dưới hầm tầu trở về Bắc, bấp bênh hốt hoảng, chân tay mê mỏi ê ẩm. Sáng ngày sau, Liêm vẫn tới nhà in cùng đợi viên quản lý đưa cả bọn đến gặp chủ nhiệm. Long sốt ruột bỗng nói: “Cứ làm cái kiểu này chán bỏ mẹ. Chưa biết chừng kỳ này tôi đăng vào lính quách, đi đây đi đó một dạo cho sướng. Trước sau gì nó cũng bắt mình đi lính”. Ngọc hỏi: “Mày đi lính để đánh ai?” Long cười khểnh khệch ngây thơ: “Vào lính khỏi sợ ai bắt nạt, khỏi sợ gì hết”. Ngọc cười mỉm: “Mày là lính ta vẫn sợ lính Tây như thường”. Long vỗ ngực hùng hồn: “Ai sợ chứ thằng Long này không sợ. Đã vào lính còn sợ Tây thế nào được. Choảng nhau với nó khỏi sợ tù”. Ngọc giảng giải: “Mày ngu lắm. Tây nó vẫn có quyền mà mày ở dưới quyền nó mà mày không sợ nó”. Long vẫn cãi bướng: “Mình độc lập sợ đếch gì nó. Lôi thôi mình quạng chết thôi”. Câu chuyện bỗng xoay ra cãi nhau xem mình đã độc lập chưa. Không ai ủng hộ Long cả, nhưng nó vẫn khăng khăng bảo thủ ý kiến và Ngọc mắng: “Mày là thằng phản động”. Long tức đỏ gay mặt, không cãi nữa nhưng ai cũng biết nó không thay đổi ý kiến. Ông San cười dàn hòa bảo: “Thằng Long nó tin quốc trưởng Bảo Đại mà. Phải không mày?” Long văng tục: “Tôi đếch tin ai hết” rồi bỏ ra riêng một góc. Viên quản lý đến chậm cả giờ đồng hồ, vừa bước chân vào đã xin lỗi rối rít, Ngọc hầm hầm nét mặt hỏi ngay: “Đi chưa?” Viên quản lý bảo được, nói địa chỉ, tên phố hẹn mọi người lên đấy hắn sẽ đứng đón ở ngoài cổng. “Phố Cao Bá Quát gần hàng Đẫy anh em biết không?” Cả bọn không ai biết phố ấy ở chỗ nào và viên quản lý phải mất năm phút chỉ cho từng người một. Liêm đèo ông San trên xe đạp của mình, Tuất đèo Long, anh thày cò có xe riêng, Ngọc đi xích-lô chung với viên quản lý. Dọc đường ông San nói về người sắp đến gặp, ông ta là người nổi tiếng từng du học Pháp về, thời thực dân còn đô hộ ông ta dám tát tai quan Sứ Tây mà Tây không làm gì được ông; từ ngày hồi cư ông là nhà tri thức trùm chăn có uy tín Pháp rất nể. Liêm hỏi: “Nể sao còn đóng cửa báo của ông?” “Đâu phải Tây. Mình đóng đấy chứ. Quốc gia với nhau nhưng vẫn gờm nhau mà”. Liêm nói bâng quơ: “Từ ngày ra Bắc đến giờ tôi mới nghe nói đến Quốc-gia, lúc nào cũng người quốc gia. Trong Nam không có...” Ông San hơi nhổm người lên nhìn sang bên đường bảo: “Từ 45 ngoài Bắc này đã có Quốc-gia với Cộng-sản rồi. Tôi cho là mối thù dằng dai, đánh nhau còn lâu. Tây về nước cũng chưa xong. Còn khổ lâu”. kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt Con phố ngắn chạy vòng gồm toàn biệt thự sang trọng, một đầu thông với con đường đôi cạnh vườn hoa Canh-nông một đầu thông với phố hàng Đẫy. Ngoài đường trống trải, cây sơ sác nhưng các vườn trong biệt thự cây cỏ hoa lá rực rỡ xanh um. Không khí khuất tịch trong buổi sáng mùa đông sau một đêm mưa dài nổi rõ tiếng chân rào rạo trên lối sỏi, tiếng động nhẹ trong cỏ lá. Viên quản lý dẫn đường đi trước, mọi người tự dưng nói nhỏ thấp giọng. Leo mấy bực thềm lên đến một bao lơn nhô ra vườn với những chậu cúc vàng hoa đã nở đặt trên thành, mọi người đứng lại nhìn qua hai cánh cửa mở vào một phòng khách tráng lệ, gạch hoa chùi nhẵn bóng. Viên quản lý một mình đi vào trong, khuất vào một cửa buồng trên tường phản chiếu một thứ ánh sáng mờ tím lọc qua những mặt kính dầy nổi vân của các cửa sổ đóng. Tiếng nói oang oang từ trong xa vọng dội khi chưa thấy người: “Anh em đã đến đấy à, mời vào, mời anh em vào tự nhiên”. Một ông già trạc năm mươi trông vạm vỡ quắc thước trong bộ quần áo ngủ Nhật tươi cười bước ra. Ông thân mật bắt tay từng người mời ngồi, xin lỗi về sự chậm trễ. Ngọc vừa ngồi xuống, đã cất mình nhỏm lên nói: “Thưa cụ, chúng tôi...” ông già sua tay bảo cứ ngồi và viên quản lý vội đỡ lời Ngọc trình bày câu chuyện. “Tôi biết, tôi biết. Tôi mời anh em đến đây là để thanh toán với anh em vì dù sao tôi cũng có trách nhiệm. Luôn tiện cũng là xin lỗi, gần ngày Tết mà công việc rắc rối gây khó khăn cho anh em. Nhưng chắc anh em cũng hiểu, chúng tôi đâu muốn thế. Tôi tuy nghèo nhưng tôi có bổn phận... Anh em đừng thấy nhà sang thế này mà cho là tôi giàu. Nhà của người ta cho tôi ở nhờ đấy. Anh em nghĩ thử mà xem hoạt động như chúng tôi làm thế nào mà mua được căn nhà này. Chỗ thân tình người ta gọi về cho ở vừa làm chân giữ nhà hộ. Tôi không nói dối anh em đâu. Tôi đã lo xong món tiền của anh em rồi. Yên tâm”. Ông quay sang viên quản lý hỏi về số tiền còn thiếu và móc ngay trong túi áo một cuộn bạc trao cho hắn đếm đưa Ngọc về chia trả anh em. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm không ngờ việc nhanh chóng như thế. Ông già đứng lên đi về phía tủ rượu nói: “Anh em ở lại uống chơi với tôi chén rượu gọi là tôi cám ơn anh em trước khi chia tay. Rượu cũng của người ta. Nhưng rượu mà có người uống cho là hân hạnh lắm”. Ông cười ha hả, mang cốc ép mọi người phải nhận, tự tay rót cho từng người. Ông uống rượu thật khỏe, ực từng hơi dài không khề khà nhấm nháp. Khi đưa tiễn ngoài bao lơn, ông bắt tay từng người, hỏi han tên tuổi như để nhớ và dặn: “Anh em chịu khó tìm việc làm tạm. Rồi thế nào cũng phải đến lúc có cơ hội cho chúng mình làm việc lại chung với nhau”. Ông bảo viên quản lý ghi địa chỉ anh em để báo ra lại hay có công việc khác tìm gặp anh em cho dễ, viên quản lý vâng dạ một cách lễ phép. Liêm có cảm tưởng như sau lần gặp gỡ này ông ta mặc nhiên coi mọi người là đồng chí của mình rồi, ông nói hai tiếng chúng mình một cách ngọt ngào thân ái. Ông còn đứng lại trên bao lơn, đợi mọi người ra đến cổng đưa cốc rượu lên cao chào rồi mới quay vào. Viên quản lý bấy giờ bắt đầu lên tiếng ca tụng đạo đức cách mạng của nhà chiến sĩ cách mạng lão thành, bình dân rộng rãi sẵn sàng chịu hy sinh thiệt thòi vì người khác, “Cụ mà lên cầm quyền anh em mình đỡ nghèo biết mấy. Cụ ghét Tây lắm”. Ngọc cắt ngang cảm hứng của hắn: “Cám ơn ông. Bây giờ chúng mình còn phải lo việc ngày mai nữa”. Cả bọn dắt xe đi bộ đến vườn hoa Canh-nông, ngồi lại trên ghế đá giữa vườn và Ngọc chia phần trả lại từng người. Ngọc nói: “Tôi đã điều đình được một chỗ làm. Nhà in này ít việc chỉ cần ba người thôi. Anh em tính thế nào? Ai có thể tìm việc ở chỗ khác đợi công việc nhiều lại về làm cùng ê-kíp hay nếu không mình tính chia tua theo công việc?” Liêm ngắt lời ngay: “Tôi có thể tìm được việc chỗ khác”. Ông San hỏi: “Ở đâu?” “Chưa biết. Nhưng tôi tìm được”. Ông San đề nghị: “Anh em đã làm chung với nhau, bỏ đi cũng buồn. Mình cứ nhận tạm chỗ này thay tua mà làm trong khi tìm chỗ khác có hơn không?” Liêm nói: “Cám ơn cụ. Tôi tìm việc khác cũng dễ mà”. Long xen vào: “Tôi cũng vậy. Tôi rút lui chỉ còn anh Tuất với bác San là dễ tính nhất”. Ngọc đưa mắt nhìn Liêm rồi đến Long, Long ngồi trên bãi cỏ tay bứt những cọng cỏ ướt, Liêm đứng tựa bên xe đạp sẵn sàng bỏ đi: “Nếu các anh không thích làm chung với nhau nữa thì không kể. Còn không mình vẫn còn cách thu xếp”. Liêm cười: “Không phải thích hay không thích. Nhưng lúc này ai cũng cần tiền mà việc ít quá chia xẻ cho nhau chẳng được bao nhiêu. Tôi độc thân có nghỉ từ giờ đến ra giêng cũng không sao”. Anh thầy cò đứng lên lấy xe đạp nói: “Chỉ có mình tôi là riêng rẽ khỏe ăn. Thôi xin chào tất cả” và dắt xe ra đường. Ông San và Tuất cố khuyên Liêm và Long ở lại làm chung cho vui, Ngọc lên xích-lô một mình về trước, bốn người còn đi bộ chuyện trò đến đầu phố hàng Bông. Khi chia tay ông San bảo: “Thôi thế cũng được. Nhưng lúc nào rỗi xuống tôi uống rượu tán gẫu hả? Tết này thế nào anh cũng phải xuống chơi nhá”.

Còn một mình, Liêm đạp xe loanh quanh vòng đến Phủ Doãn. Ở ngoài nhìn vào, nhà thương trông quang đãng: vườn rộng, lối đi, cây trồng thẳng, những luống bụi cắt xén ngay ngắn tỉ mỉ. Nhưng khi vượt qua vòm cổng đục trong dãy nhà nằm ngang quay nhìn ra đường, Liêm lọt vào trong thế giới bệnh hoạn bẩn thỉu. Đầu tiên là vài người bệnh lang thang dưới vườn, quần áo màu xanh bạc phếch nhầu nát như da mặt, một người chống nạng chân còn quấn băng kín hoen máu lẫn mủ ruồi nhặng vo ve quanh, đứng tiểu vào một hốc cây khuất, mắt ngơ ngác nhìn kẻ mất hồn. Trông các hành lang, bệnh nhân nằm tràn bừa bãi trên những tấm chiếu rách, giấy dầu, một vài người thân trong gia đình vây bám xung quanh. Trẻ con lê la kêu khóc inh ỏi, tiếng người quát tháo dẹp đường, tiếng rên rỉ than thở lẫn mồ hôi thối nồng nặc. Phần lớn ở khu vực ngoại thương toàn là dân quê bị thương trong các cuộc hành quân hay pháo kích được chở về và không bao giờ đủ chỗ nằm. Người la liệt trong buồng, trên giường, dưới đất, ngoài hành lang với những vết thương đã được băng bó hay còn phơi trần lở loét, thiếp im như chết hay than thở khóc lóc. Liêm không nhìn thấy bóng y tá hay bác sĩ, chỉ có những người phu sau đeo tạp-dề cáu bẩn mặt lặng thinh hay nhăn nhó. Cảnh tượng hỗn loạn quái đản như xúc động nhận được qua các giác quan, làm chóng mặt muốn nôn ọc. Khu hộ sinh cũng vậy, một mùi nồng nặc ngai ngái khó chịu. Trong gian phòng lớn dài mấy chục giường vẫn còn nhiều sản phụ phải nằm dưới đất, hài nhi còn đỏ quấn bó trong vải dầy đặt cạnh ga-men cơm bằng thiếc xỉn. Da mặt người nào người nấy thâm tím, mắt tráo trâng nhìn người qua lại trên đầu mình. Vợ Hỗ được nằm trong một gian phòng nhỏ hơn chỉ có sáu giường, cửa kính sơn trắng cao khỏi tầm mắt. Liêm đẩy cửa nhìn vào, không thể nhận ra người đàn bà đã từng ôm ấp nằm ở giường nào. Trong buồng có một chiếc giường trống. Liêm nhìn vào đấy. Lúc quay lại Liêm bắt gặp một cặp mắt gần ngay chỗ đứng đang dương chiếu vào mình và nghe tiếng gọi khẽ:

— Chú Liêm.

Liêm giật mình như bị người bất chợt từ xó tối nhảy vồ lấy mình. Khuôn mặt nằm ngửa gói trong chiếc khăn len, những nét bỗng trở nên mềm mại dịu dàng hơn. Người đàn bà chỉ cho Liêm ngồi ghé xuống mép giường, mỗi lần nói Liêm phải ngoảnh cổ lại trông xuống. Những lúc ngồi im, Liêm ngó thẳng đằng trước nhìn những sản phụ nằm các giường bên; Người cuối dãy nằm nghiêng gối đầu lên tay hướng mắt vào Liêm. Vợ Hỗ nhắm mắt mỉm cười, thò một bàn tay ở dưới chăn nắm chặt lấy bàn tay Liêm chống trên nệm, rất lâu. Xa quá Liêm không thể trông được ánh mắt của người đàn bà tò mò. Những người khác đang ngủ hoặc đang cố gắng ngủ. Liêm rút tay ra và lúc ấy mới hỏi: “Con trai hay con gái?” Người đàn bà mở mắt nghiêng đầu hơi ngửng lên nhìn chiếc nôi bên giường, chiếc nôi bằng sắt sơn trắng bong nhiều chỗ hở cả cốt, cánh màn nhỏ buông rủ ngả vàng. “Chú nhìn xem”. Liêm đứng lên vén màn nhìn vào chỉ thấy một đống chăn và dẻ, mãi sau mới nhận ra cái đầu của đứa trẻ chùm trong chiếc mũ len tím. Đó chỉ là một gương mặt tròn nhỏ bé với những nét mờ của lông mày, mắt, cái mũi, cái miệng. Liêm không thấy gì cả và cũng không biết là con giai hay gái. Liêm hạ cánh màn, đứng ngẩn người, nhìn vào mắt người đàn bà đang chăm chú theo dõi thái độ mình rồi lại chậm chạp ngồi xuống mép giường như cũ. Vợ Hỗ hỏi: “Giống không?” Giống ai? Giống tôi ư? Tôi không nhìn thấy gì cả, đó là một đứa trẻ sơ sinh người ta có thể tráo đổi dễ dàng. Hỗ có thể nhìn đứa bé và thấy giống anh. Anh đã trông thấy nó chưa? Đó là con của tôi và không phải là con của tôi. Liêm hỏi: “Anh ấy vào đây không?” Có, Hỗ đã ở nán lại cả sáng sớm nay đợi sinh xong mới đi, anh đã nhìn mặt đứa trẻ. Anh ta vui, đó là con gái. “Chú muốn đặt tên nó là gì? Anh Hỗ bảo đặt nó là Vân, Kiều Vân”. Liêm nói: “Đặt tên nó là Vui đi. Tên Sài-gòn mà, nhỡ có vào Sài-gòn nó hợp hơn”. Liêm cười một mình, ít khi Liêm cười như thế trước mặt vợ Hỗ, Liêm cũng không hiểu sao. Vui, con Vui. Liêm hỏi lảng không để cho người đàn bà kịp tỏ phản ứng: “Chị cần gì không?” “Tôi thèm ăn nho”. Người đàn bà lại luồn bàn tay dưới chăn tìm tay của Liêm, Liêm vội đứng lên, tiến đến gần bên chiếc nôi nhìn gương mặt mờ mờ của đứa bé trong màn. Một lát Liêm bảo: “Thôi, tôi về”. “Chiều chú vào không?” “Không, tôi bận lắm”. Người đàn bà tỏ vẻ giận dỗi, quay mặt lơ đãng nhìn sang giường kế cận. Liêm đẩy cửa ra ngoài hành lang, bước cắm cúi không muốn nhìn cảnh tượng xung quanh. Dắt xe ra đến hè, Liêm dừng lại nhìn về hai đầu phố xa vắng vẻ và nghĩ: phải nhớ tìm việc làm, bắt đầu từ bây giờ là mình đang ở trong tình trạng thất nghiệp. Liêm vào một hiệu giải khát trong con phố dốc cạnh nhà thương trầm ngâm tính toán nhưng đầu óc rối bung không mạch lạc. Bên kia vỉa hè bức tường nhà thương rêu ướt loang lở, để lộ những mái nhà dài ngói nâu sẫm, dưới chân tường một đống rác lớn có lẽ từ bên trong vứt ra còn lẫn cả một cuốn băng bột hình cánh tay. Ngoài bờ tường này người ta không bao giờ nhìn thấy cảnh bên trong. Liêm ngồi gần cả buổi mới rời chỗ. Không thể trở lại nhà thương lần thứ hai, cũng không thể trở lại nhà Hỗ. Liêm nghĩ đây là dịp để trốn người đàn bà, chị sẽ không biết tìm gặp ở chỗ nào. Đứa bé vẫn sống, vẫn lớn lên và chẳng liên quan tới tôi, cũng như tôi... Buổi tối Liêm bảo với mẹ Hải: “Cháu thất nghiệp thật sự rồi”. Bà cụ chỉ có một mối lo là tòa báo đóng cửa thư từ của Hải gửi về sẽ thất lạc, bà bảo Liêm viết ngay thư cho Hải biết tin, đề địa chỉ của một người họ trên phố. Từ ngày chồng chết, bà không muốn liên lạc nhờ vả họ hàng bên chồng nhưng lần này bà sẽ phải ghé lên dặn nhờ giữ hộ thư Hải gửi về. “Thế này là Tết nhất tôi lại phải đi lên đi xuống”. Liêm không có địa chỉ nào để cho Hải gửi thư về khỏi sợ thất lạc.

Sáng vào giờ đi làm, Liêm lên bưu điện rồi ngồi trên chiếc ghế đá dạo đầu năm đã gặp Khôi. Ghế đá ướt lạnh, bờ Hồ vắng vẻ, Liêm kéo cao cổ áo ngồi gù lưng ngắm vợ chồng người Tàu bán lạc rang cho khách qua lại trên hè. Ngồi chán ngoài hè, Liêm ngược lên phòng Thông-tin đọc báo, đọc cả những tờ báo cũ, những đoạn tin chính tay Liêm đã xếp tuần lễ trước. Mười một giờ hơn Liêm trở về nhà, hý hoáy tìm cách nhóm bếp, thổi lửa phù phù không cháy nước mắt ràn rụa. Bà mẹ Hải về sau bảo: “Để đấy. Không biết thì làm làm gì cho tội thân”. Liêm lau nước mắt cười: “Cháu ở nhà ăn không, phải tập làm cơm là vừa”. Những ngày tháng chạp ngắn và mau, mới nửa chiều trời đã xẩm tối. Liêm quanh quẩn trong buồng chật ngồi bó gối nhìn qua cửa sổ cảnh sinh hoạt của những gia đình ở chung. Sống gần cả năm, Liêm vẫn không quen biết, không nhớ nổi hết mặt những người ngụ trong gian nhà trên. Những gia đình lao động này, đàn ông cũng như đàn bà đi làm từ sớm và tối mịt mới về nhà, ban ngày chỉ toàn thấy trẻ con vài đứa con gái chừng mười lăm, mười sáu, vài bà già còn khỏe trông nom bếp nước chạy nhảy đi lại trong sân. Căn bếp chật không đủ chỗ, ngay sát buồng lúc nào cũng ồn ào chí chóe, bếp của bà mẹ Hải phải đặt ngoài sân dưới một tấm tôn. Nhiều lúc không hiểu trẻ con ở đâu kéo đến chạy túa ngoài bãi rác vào đến sân như một cảnh chợ, Liêm không thể ngồi nhà quá nửa buổi, đành đạp xe lang thang ngoài phố nhìn thiên hạ sắm Tết, vào ngồi nghỉ trong vườn hoa không người lui tới, những ngày lãng đãng trong một nỗi tuyệt vọng rửng rưng. Mình sẽ làm gì? Bây giờ chính Sài-gòn là nơi mơ ước được trở lại. Trở lại, nghĩ tưởng đến những háo hức của mỗi lần đổi thay đã tan biến trong ngày tháng cũ. Hà-nội, tôi đã về Hà nội được một năm. Những ngày cuối năm bà cụ nhận được thư Hải. Hải than được nghỉ Tết bốn ngày nhưng không có nơi mà về, có lẽ nằm lại trại. Liêm ước được đánh đổi chỗ ở với Hải. Nhưng còn gì không? Hay lại đặt chân xuống Sài-gòn như đã đặt chân xuống Hà-nội? Hải cũng hỏi Liêm không còn liên lạc với Thái và Ngọc nữa hay sao mà không lấy địa chỉ Thái cho tiện. Hai mươi tám Tết, mẹ Hải nghỉ chợ, dọn dẹp nhà cửa bàn thờ, tối ba mươi bà đi lễ đền Ngọc Sơn cùng hàng xóm, Liêm cũng mặc quần áo ra phố. Trời tối lạnh, cửa ngõ đóng kín, phố xá vắng tanh như trong giờ giới nghiêm nhưng từng quãng nghe tiếng chân và tiếng cười nói của đám người lẫn trong các bóng tối trên hè rủ nhau đi lễ giao thừa. Liêm đi bộ vào những đường vắng nhớ lại cảm giác đêm mùng một năm trước khi mới xuống Hải-phòng phải ngủ chung với anh chàng thanh niên tuyệt vọng, nửa đêm còn mở cửa uống rượu, chợt nảy ý kiến đến nhà ông San. Vượt khỏi bức tường nhà Rượu, Liêm đứng trước một khu vực trống tối đầy gió không trông rõ lối, lắng nghe những tiếng nói thoảng bay ở xa như trong bãi rác. Liêm phải lần mò theo ánh đèn lay động đi vào trong xóm. Mấy căn nhà của các cô gái chơi đóng ỉm cửa tối om. Liêm đi sát vào các cửa sổ, trông thấy ông San ngồi một mình trước bàn quần áo tề chỉnh. Ông ngạc nhiên tưởng nhìn nhầm, mừng rỡ mở cửa hỏi: “Anh đi đâu đấy?” Liêm cười: “Đến xin bác cho về ăn Tết. Thất nghiệp không nhà cửa”. Ông kéo tay Liêm vào nhà bảo: “Đang ngồi nhà một mình buồn quá. Bọn trẻ nó đi lễ Ngọc-Sơn cả rồi. Giao thừa nó mới về”. Liêm ngồi uống rượu nghe ông San nói, hơi rượu làm ấm người nóng mặt, câu chuyện của ông San làm khuây khỏa trí nhớ. Ông bảo với Liêm có chỗ làm rồi nhưng để sang năm ngày rộng tháng dài hẵng tính. Nghe khuya gần giao thừa, Liêm mới từ biệt ông San. Bước ra ngoài trời, Liêm nghe gió lạnh lẽo hơn, nhớ đến gian nhà của vợ chồng Hỗ ngoài Kim-mã. Gió ở đấy lộng trên cây cối rậm rạp hơn. Đứa bé gần đầy tháng, Hỗ chắc đang hỏi vợ: Sao lâu không gặp chú Liêm? hay vợ Hỗ hỏi: Mình có gặp chú Liêm không? Sao không rủ chú về nhà ăn Tết như năm ngoái. Trước khi đóng cửa ông San nói bỡn: “Đừng ngã vào đầu xóm nhé. Xúi quẩy đấy. Mùng một hay mùng hai đến đây chơi, ăn cơm”. Liêm khép tay ôm chặt tấm áo dạ, bước thấp bước cao, muốn hát nghêu ngao như bọn lính Tây say. Mấy cô gái chơi đã về, thắp đèn cười rúc rích ở trong nhà. Liêm ghé miệng vào cửa sổ nói lớn ngoài sức tưởng tượng: Năm Mới năm Me lấy que chọc đít... rồi cười khô khố bỏ chạy. Đến đầu bãi rác, đứng lại thở, đi tiểu. Một cô gái chơi mở cửa, thò đầu nhìn theo rồi lại trở vào. Ngoài đường phố, người đi lễ giao thừa đang lục tục trở về từ hướng bờ Hồ, mỗi người cầm trên tay một cành lộc. Một vài đứa trẻ còn quơ nghịch những chùm hương cháy dở, gió thổi tàn sáng rỡ. Liêm nghĩ nếu không vướng bà mẹ Hải có lẽ tôi cũng sẽ đi tìm gian buồng trọ trong khách sạn ở mấy ngày Tết. Tôi cũng sẽ uống rượu và tôi cũng có thể sẽ khóc như anh chàng... Liêm về đến nhà, bà mẹ Hải đang sửa soạn giường chiếu, chiếc chiếu hoa mới được trải lên phản. Bà ngửng lên: “Cậu xông nhà đấy”. Liêm đứng dừng ở cửa buồng sóc lại áo ngay ngắn, chắp tay hỏi: “Giao thừa rồi hả bác?” “Hơn mười hai giờ rồi. Năm mới rồi. Tôi chúc cậu…”

 

Thêm vào giỏ hàng thành công