favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Phần thứ ba - Chương III (III)

III

Một ngày đầu mùa đông, Liêm rủ Hải đi chợ Giời tìm mua một cái áo lạnh cũ, cái áo dạ cũ của Tường không hợp với công việc đang làm. Ngọc cho phép Liêm và Hải nghỉ vào nửa buổi sáng. Liêm đèo Hải trên xe đạp xuống đầu phố Sinh-từ. Chợ chỉ là một cái ngõ đất lầm lội nằm bên tường nhà ga, đồ đạc vật dụng tạp nhạp đủ thứ bày trên mặt đất - phần lớn là của nhà binh ăn cắp. Vào buổi sáng chợ vắng người trông quang cảnh giống như khu cháy nhà người ta phải dọn đồ đạc ra ngoài. Liêm dắt xe đi lên đi xuống chọn mua được một cái áo dạ của lính với giá trăm bạc, Hải mua hai quyển sách đóng bìa da của một gia đình Pháp, Hải cười nói: “Bọn Tây đã sửa soạn về nước”, và một tờ báo in trên giấy bản ngoài hậu phương. Trở về còn sớm Hải bảo Liêm đạp xe theo ngả hàng Lọng, để đi qua phố Ôn-Như-hầu Hải sẽ chỉ cho xem gian nhà trụ sở của Việt-quốc thời 45 nơi người ta tìm thấy những người bị thủ tiêu chôn ở ngoài vườn. Đến ga hàng Cỏ, một xe cảnh sát đỗ trong một góc khuất thổi còi bắt ngừng. Liêm vừa ngừng xe chưa kịp xuống, hai ba người cảnh binh đã chạy đến đứng vây xung quanh. Một người ra lệnh cho Liêm xuống xe dắt lại gần chỗ ô-tô đỗ. Hải vừa bước xuống đất vùng bỏ chạy sang phía quán rượu đầu phố hàng Cỏ, người cảnh binh đứng gần bắt hụt chới với, rút chiếc còi bên lưng thổi inh ỏi. Hải sang đến bên đường đứng sựng, từ mấy gốc cây gần đấy một người cảnh binh và hai người lính võ trang chạy ra nắm lấy tay Hải bẻ quặt ra sau lưng dẫn trở lại. Người cảnh binh thổi còi lúi húi đi nhặt mấy quyển sách bỏ rơi trên đường. Trên xe đã có khoảng mười thanh niên khác ngồi, một người ở trong cười bảo lớn: “Đen quá. Chúng nó khôn quá”. Liêm đem theo xe đạp lên, Hải được ngồi đằng trước giữa người tài xế và người lính. Mấy người cảnh binh leo lên đóng cửa, đứng khom lưng quay mặt vào trong trông thẳng vào Liêm tựa giữ xe đạp đứng giữa hai hàng người ngồi. Xe trở về bót Cửa Nam và mọi người được lùa vào trong ty cảnh sát, xét hỏi giấy tờ; riêng Hải bị còng tay dẫn vào phía sau. Chỉ có Liêm và một người nữa được ra về, còn bao nhiêu được chở ngay xuống dưới Ngọc-hà, Hải còn phải ở lại. Liêm dắt xe ra đường còn đứng ngơ ngác vài giây, phố trong giờ làm việc vắng vẻ hiu quạnh, chuyến tàu đang chạy xa tít trên đường hàng Đẫy. Lúc Liêm giật mình nhìn lại, người thanh niên cũng được về đang cắm cúi đi như chạy bên phố hàng Bông. Liêm nhảy lên xe đạp nhanh về nhà in báo tin cho Ngọc, mọi người ồn lên mỗi người một câu. Long bảo nếu Hải bị đưa xuống trại Ngọc-hà thì có đường trốn. Tuất nói: Thế nào Hải cũng được cho vào Thủ-đức vì Hải đỗ bằng Trung-học-Phổ-thông. Ông San bàn nên nói với ông Kiêm xem có cách gì vận động cho Hải. Ngọc nói đến trưa sẽ ghé cho Thái hay tin. Liêm nghĩ còn mình phải báo cho bà cụ mẹ Hải. Liêm về nhà nằm một mình đợi; gian nhà chật hẹp đến nỗi không có chỗ cho kỷ niệm—tường vôi ám không một khung hình ảnh, một tấm lịch; bàn thờ những người đã chết chỉ là một chiếc xích đông treo trong một góc. Mẹ Hải về, lên tiếng từ ngoài cửa sổ: “Sao hôm nay các cậu về sớm thế?” Liêm ngồi lên đón bà cụ, bà cụ xếp quang gánh ngoài hè lục tìm gói giò chả—hôm nào hàng bán hết bà cũng cho ăn món chả cốm hàng Mành—cầm vào nhà. Bà đưa mắt tìm Hải và nhìn thấy bộ mặt của Liêm: “Em đâu?” “Hải nó bị bắt rồi”. “Bao giờ?” “Nó bị bắt động viên”. “Khổ thân tôi. Làm sao bây giờ?” Bà cuống cuồng hốt hoảng, quay lưng như sắp chạy ra cửa. Liêm gọi: “Bác đi đâu?” “Tôi đi tìm nó. Nó ở đâu?” “Bác bình tĩnh lại mới lo cho Hải được”. Bà cụ quay trở lại sững sờ, ngồi xuống phản: “Tôi thân cô thế cô. Chỉ có hai mẹ con thì làm thế nào” và bà bật òa khóc. Liêm cúi mặt ngồi im, không biết cách xoay xở. Một lát cơn xúc động qua đi, bà cụ bình tĩnh lại than thở: “Khổ thân tôi quá, bây giờ nó ở đâu? Tôi đi thăm nó”. Liêm không dám nói thực, bảo: “Bác để chiều nay cháu đi tìm trước đã. Biết chắc chắn bác hãy đi. Bác ở nhà sửa soạn quần áo để đưa đi cho Hải”. “Cậu thương em, giúp tôi. Tôi không còn biết tính sao”. Liêm dắt xe đi ngay, lúc ấy đã mười hai giờ trưa, thở nhẹ nhõm khi ra đến ngoài đường. Bà cụ sẽ bỏ bữa cơm trưa nay và nằm khóc trong gian buồng than thở với người chồng và đứa con gái đã khuất mặt, chờ Liêm mang tin về. Trưa mùa đông không lạnh lắm, Liêm mặc trên mình tấm áo mới mua nghe hầm hơi, ghé vào hiệu phở đầu phố ăn bữa trưa. Từ trong hiệu nhìn sang bên đường là bờ tường một nghĩa trang đặt trong thành phố, không khí khuất tịch nín lặng trải trên mặt đường không có nắng. Liêm đến nhà Ngọc, bảo mình nghỉ buổi chiều để đi hỏi thăm tin tức Hải cho bà cụ. Ngọc nói vừa ở nhà Thái về, đã thảo luận với Thái về trường hợp của Hải, nếu Liêm biết tin Hải cũng báo ngay cho hai người để định liệu. Vợ Ngọc nằm lim dim trên võng, vạch trần nửa bên ngực cho con bú, đứa con ngủ lơ mơ miệng vẫn nút chóp chép. Chưa đến giờ làm việc, Liêm đạp xe xuống thẳng Kim-mã. Buổi trưa ngoại ô tiêu điều buồn bã hơn. Những chuyến xe hàng chạy đường Sơn-tây cũ kỹ già nua không người đỗ trước dãy nhà gạch lụp xụp dơ bẩn. Con ngõ gạch dốc chỉ có bờ bụi rậm rạp. Gian nhà của Hỗ, cửa đóng kín như không người ở. Vợ Hỗ tóc xổ dài, đi đất ra mở cửa. Trong nhà tối lạnh không nhìn rõ đồ đạc khi cửa khép lại, chỉ nghe hơi nhiệt của thân người đàn bà đứng kề bên cùng tiếng thì thào: Anh ấy đi Hải phòng từ sáng sớm làm sao chú cũng biết, nhớ quá. Liêm bước mò mẫm như một người say có cánh tay đỡ ngang lưng vào giường, nằm ngửa thẳng bất động, nhìn ánh sáng mờ nhạt ở một khe hở trên đầu vách, nghe trùng nhão các thớ thịt và gió ào trên các bụi cỏ sau nhà. Người đàn bà bắt Liêm tháo gỡ hết áo quần như mình; để được mặc tình ôm ấp da thịt gợn lạnh dưới chăn bông, Liêm hoàn toàn thụ động, chán nản mặc người đàn bà xoay trở một mình. Và Liêm thiếp ngủ ngay trong khi người đàn bà còn chưa chịu rời xa. Liêm tỉnh sau một giấc dài, ánh sáng trên đầu vách không đổi, ngoài cửa nghe tiếng chân nhảy lò cò thình thịch của trẻ con. Người đàn bà còn nằm nguyên trong thế gắn bó và cũng ngủ quên, Liêm tung chăn trở dậy, không rửa mặt. Người đàn bà hỏi: “Tối chú về không?” “Tôi sợ có nhiều việc bận”. “Muộn muộn về cũng được. Chú có xe đạp mà”. Buổi chiều bắt đầu u ám. Liêm lên đến phố đã gần hết giờ làm việc. Trong bót cảnh sát Liêm hỏi thăm, Hải không còn ở đây nữa, người cảnh sát còn trẻ, giở sổ tìm tên Hải không thấy; những người đã bắt buổi sáng không thấy. Liêm nghĩ Hải đã bị đưa sang Công-an, nhưng khi về lại nói với mẹ Hải là Hải đã bị đưa xuống trại Ngọc-hà. Bà cụ nóng ruột đã xếp đủ các vật dụng vào trong làn chỉ chờ Liêm về là đi ngay, suốt từ trưa bà không ăn uống gì cả và không thấy đói. Chỉ một buổi chiều, nhà cửa trông hoang lạnh buồn thảm. Liêm mua theo bánh tây về cho bà cụ nhưng bà không ăn được, Liêm đành ngồi ăn một mình với gói chả buổi sáng trong buổi chiều sập tối không thắp đèn. Bà cụ nằm trên ghế mở mắt đợi trời sáng. Liêm không thể nào ở lại trong nhà, lại đến Ngọc và hai người đi bộ đến Thái. Tối mùa đông phố vắng sớm, chỉ những rạp chiếu bóng tụ tập đông đảo. Cửa hiệu của Thái cũng đã đóng, dưới nhà đèn tắt, ngửng lên gác thấy đèn sáng, nghe tiếng Thái nói chuyện lớn. Ngọc phải gọi cửa một lúc trên gác mới có người xuống. Cửa mở, một người thanh niên dắt xe đạp ra trước, Thái ở đằng sau. Người thanh niên cười khúc khích như chưa hết thú vị về câu chuyện đã qua và nói: “Anh có khách này”, rồi đẩy xe thẳng ra đường. Thái cất tiếng gọi: Đồng ơi, người thanh niên đã ngồi trên yên, ghếch chân trên hè ngoảnh cổ, Thái chạy đến dặn dò nho nhỏ và người thanh niên lại cất tiếng cười ròn ấm trước khi đạp xe xuôi về mạn chợ Hôm. Thái quay trở lại rủ Liêm và Ngọc đến hiệu cà-phê cùng phố còn mở cửa. Ngọc nói: “Có lẽ Hải bị đưa sang Công-an”. Thái bảo hai người yên trí anh sẽ nhờ người bạn trong Công-an hỏi hộ. Liêm nói: “Tôi phải nói dối bà cụ, mai bà sẽ xuống dưới Ngọc-hà. Nếu anh được tin gì anh nên cho tôi biết ngay”. Sau đó Thái có ý trách Liêm tại sao không cản để cho Hải mua cầm theo tay một tờ báo kháng chiến, nhất là một tờ báo văn chương, cho rắc rối. Liêm đèo Ngọc về đến nhà đã gần mười một giờ đêm. Gió thổi giá buốt thêm, trời tối kịt. Liêm không còn đủ can đảm đạp xe xuống Kim-mã nữa. Suốt đêm bà mẹ Hải trằn trọc thao thức làm Liêm cũng mất ngủ. Nửa đêm gió nổi ào ào, Liêm mệt thiếp như chết. Bà cụ lịch kịch trở dậy lúc trời còn tối đen. Thấy ánh đèn Liêm ngỡ như thường lệ bà sửa soạn hàng bán. Sực nhớ, Liêm vội cố nhướng mắt dậy bảo: “Bác đi đâu sớm thế? Giờ này ai người ta cho vào. Để chốc nữa cháu đèo bác đi”. Bà cụ khăng khăng đòi đi, bà sợ xe đạp, bà sẽ đi tàu điện xuống hàng Đẫy và đi bộ một quãng. Bà chỉ sợ người ta đưa Hải đi mất không cho bà nhìn thấy mặt con. Bà hẹn Liêm sáng xuống sau gặp bà. Liêm nằm trở lại ân hận đã dối bà nhưng rồi cũng ngủ thiếp thêm một giấc nữa. Buổi sáng Liêm xuống trại Ngọc-hà, nhưng không thấy bóng bà cụ, không dám vào, đến ngồi ở quán nước xế trại ngóng nhìn. Đến chín giờ, Liêm quay về nhà in làm việc. Buổi trưa về nhà cũng không thấy bóng bà cụ. Mãi đến chiều tối bà mới về đến nhà. Bà đã hỏi thăm trong trại, không ai biết Hải và bà đã ngồi ngay ngoài cổng cả ngày rình các xe cộ ra vào xem có Hải đến hoặc đi không. Liêm bảo: “Như thế có lẽ Hải chưa xuống. Mai bác ở nhà cháu đi hỏi lại xem”. “Không, mai tôi lại xuống nữa. Tôi tìm cho bằng được mới thôi”. Liêm dỗ dành: “Bác ở nhà nghỉ cho khỏe. Để cháu tìm thế nào cũng thấy”. Bà cụ mếu máo: “Ruột tôi nóng như lửa làm thế nào ngồi yên được”. Ba ngày liền, bà dậy đi từ tờ mờ đất đến tối mịt mới trở về nhà, mệt mỏi phờ phạc, mặt hốc hác mất hồn; đêm ngủ nói mê ú ớ. Liêm chỉ sợ bà ngã bệnh, người bà vốn gầy gò ốm yếu. Ngày thứ tư gần trưa bà tìm đến nhà in để báo cho Liêm biết đã gặp Hải. Sáng nay người ta mới đưa Hải xuống trại, tay bị còng, bà từ bên vệ đường đã nhào đuổi theo xe mặc người lính gác ngăn cản hăm dọa, kêu réo lên ầm ĩ, cuối cùng người ta đành để cho bà vào gặp mặt con và bà đã trao cho Hải được giỏ quần áo và món tiến dắt lưng. Hải nhắn về bảo Liêm nói với Thái Hải bị đưa đi Thủ-đức nội nhật ngày mai. Bà đang nói chuyện với Liêm ngoài cổng thì ông Kiêm ra về. Ông sửng sốt nhìn bà hỏi: “Có phải chị Tín không?” Bà ứa nước mắt: “Anh còn nhận ra tôi ư? Thằng Hải bị bắt đi Thủ-đức rồi. Anh có cách nào giúp mẹ con tôi không?” Ông Kiêm càng sửng sốt hơn: “Thằng Hải là con chị? Tôi đâu có biết”. Ông mời bà mẹ Hải vào trong hỏi han gia đình. Bà mẹ Hải chỉ nhắc đi nhắc lại một câu: hai đứa con lớn bà còn ở ngoài kháng chiến, bây giờ có cách nào cho Hải được ở gần bà. Ông Kiêm chỉ biết an ủi, hứa đợi Hải ra trường ông sẽ tìm nơi quen biết gửi gắm: “Chị yên chí. Con trai thời này là phải đi lính cả. Không bên này thì bên kia. Không chết đâu chỉ sợ”. Bà chùi nước mắt bằng vạt áo, đứng lên, bà lại trở xuống để xin vào gặp Hải. Được tin Hải, Thái cũng lắc đầu: “Tưởng nó đưa sang Công-an thì có cách xoay ra. Chứ thế thì chịu. Nếu anh có gặp Hải nhắn chú ấy hộ tôi là ở hoàn cảnh nào cũng có thể phục vụ cho cách mạng được”. Buổi chiều, Liêm định xuống Ngọc-hà thăm Hải nhưng lính gác không cho vào, không gặp được mẹ Hải, Liêm đạp xe thẳng xuống nhà Hỗ. Hỗ đã về, được nghỉ ở nhà, trông thấy Liêm hỏi: “Chú ốm hay sao mà gầy tọp đi thế?” Liêm tự hỏi: mình gầy thật ư? và đưa tay lên sờ mặt. Vợ Hỗ lên Phủ Doãn thăm thai, “tôi mệt quá không đưa nhà tôi đi được”. Liêm ngồi lại một lúc rồi lại về phố, đạp xe lang thang đến tối quên cả bữa cơm chiều. Về đến nhà, Liêm thấy cụ lại đang xếp những món đồ mang thêm cho Hải vào làn, bà đưa cho Liêm một mảnh giấy của Hải viết vội: Anh Liêm. Mai tôi phải vào Thủ-đức rồi. Tôi đi vắng anh cứ ở lại nhà cụ đỡ quạnh quẽ. Học xong, chắc tôi lại được trở về. Anh nói với anh Thái, anh Ngọc không bao giờ tôi quên các anh ấy. Gửi lời anh ấy thăm ông San anh Tuất, Long, vì hoàn cảnh không thể từ biệt được. Hải.

Sáng hôm sau khi bà cụ xuống đến Ngọc-hà, trời chưa sáng rõ, người ta đã mang Hải đi mất. Buổi trưa đi làm về, Liêm gặp bà nằm dài trên ghế quay mặt vào tường, chiếc làn còn nguyên vẹn không trao được đặt dưới đất. Liêm ngồi lên phản, không biết phải ngỏ lời thế nào. Nếu tôi gặp lại mẹ tôi, nếu bà mẹ Hải nằm kia chính là mẹ tôi, bà có thể là mẹ tôi được chứ, bà vẫn chỉ là kẻ xa lạ không dính dấp không ràng buộc. Nỗi thống khổ của bà, tôi hiểu, tôi hiểu rõ hơn ai nhưng tôi làm gì được. Tôi ở lại bên cạnh bà cho bà bớt quạnh quẽ, thay thế những đứa con ruột của bà, tôi ở lại và tôi vẫn chỉ là kẻ xa lạ. Cố gắng mãi Liêm lên tiếng: “Bác ăn gì không?” Bà cụ không quay mặt ra, bảo với Liêm lục tìm trong làn lấy bánh tây mua từ sáng cho Hải mà ăn. “Bác ăn cho đỡ đói”. “Không. Cậu cứ ăn đi”. Bà ngơ ngẩn ra vào không làm ăn gì được đến hơn tuần lễ và Liêm như bị nhốt tù trong vùng ủ ê buồn bã của bà. Chỉ ngay hôm sau bà thổi cơm lại cho Liêm ăn nhưng không đi bán hàng, Liêm phải về ở trong nhà ngoài giờ làm việc không bỏ đi đâu được. Đêm mùa đông, cửa đóng kín, gió xô đập, Liêm nằm một mình trên tấm phản rộng, đèn tắt sớm, lắng nghe sự im lặng đè nén của bà cụ lẫn trong bóng tối buốt lạnh. Hơn một tháng qua, Liêm nhận được thư Hải gửi về cho mẹ. Tối hôm ấy, Liêm đọc thư cho bà cụ nghe, bà vừa cười vừa khóc và Liêm nhẹ nhõm thơ thới cả người. Liêm kể cho bà nghe cảnh vật, phong tục miền Nam, bà say sưa nghe và Liêm tưởng như chính mình đang ở trên đường trở về Sài-gòn. Rồi Liêm thay bà viết thư vào cho Hải, Liêm muốn giới thiệu Hải lúc nào được về Sài-gòn tìm đến Tường nhưng không nhớ được số nhà, muốn viết thư cho Hạnh nhờ Hạnh đưa đến nhưng nghĩ Hải không thể vào xóm Đồng Ong Cộ. Vả lại một năm rồi biết bao nhiêu đổi thay làm sao lường được—nên chỉ viết vài dòng hỏi thăm thường tình. Ngày hôm sau, bà cụ dậy sớm đi chợ, bà về trước giờ Liêm đi làm với đôi quang gánh đồ vật, bà bảo: “Mai tôi lại đi chợ. Ở nhà cũng buồn”. Bà đưa cho Liêm mấy cái bánh khúc còn nóng. Liêm vừa thổi vừa ăn nhồm nhoàm, bảo: “Ở trong Nam không có bánh khúc”. Buổi sáng càng ngày càng rét cắt, Liêm hé mắt nhìn ánh đèn chập chờn, nghe tiếng động lịch kịch quen thuộc; một mình bà cụ trong tấm áo kép, thỉnh thoảng miệng suýt soa, nhóm ngọn lửa đầu tiên trong xóm, sửa soạn gánh hàng buổi sớm; Liêm cũng mong ngày Hải được trở về để trả lại gian nhà và bà mẹ.

Thêm vào giỏ hàng thành công