Phần thứ ba - Chương III (II)
II
Làm gì? Bỗng dưng nhớ mùi sình lầy trên một bờ sông san sát nhà sàn ven thành phố Sài-gòn, mùi nồng nặc trong không khí sau những trận mưa rào ngắn giữa trời nắng; nỗi nhớ đột cuồng như một sức đẩy mau trong máu, dưới thịt và tan hòa cũng nhanh. Gió khỏa sau lưng, tuôn về trước chạy theo một đường phố um tùm bóng cây, lấp ló những ngọn điện, không người. Bờ tường đá cao chạy dài, vây những khóm cây rậm cái tháp tối của một nhà tu kín, lầm rầm huyễn hoặc tiếng cầu kinh đông người, tiếng vọng mong manh của một thế giới khác, bay biến gờn gợn như gai ốc trên cánh tay vén trần. Tiếng hát ầm ĩ trống trải của hai ba tên lính Tây say ngả nghiêng trên một bờ hè khuất, phía bên kia vườn hoa sáng trơ những bãi cỏ, lối đi, ghế đá; chúng tiến về phía nhà khiêu vũ, ngọn đèn hiệu ngoằn ngoèo xanh yếu như lửa đom đóm, tiếng nhấn trên vòng quay bàn đạp trùng nhịp với điệu hát cổ của một thời vẫn được nghe lính Lê-dương hát ở tỉnh nhỏ. Mùa thu đó, nỗi bâng khuâng mệt mỏi tách lìa váng vất, thành phố như im tiếng khắp lượt chờ đợi vu vơ. Các cửa hiệu buôn bán cũng đang lên cửa. Liêm mường tượng những ngày biến động cũ trên những đường phố này, cái dáng vẻ ngây ngất triền miên mơ mộng của thành phố như bất tận. Các rạp chiếu bóng chưa tan, đèn thắp sáng ở hành lang bên ngoài sau những màn cửa sắt đã kéo lại. Vợ Hỗ sẽ sinh vào dịp gần Tết, một đứa con của tôi; biết đâu Hạnh đã không mang trong bụng nàng một đứa con khác nữa. Những đứa bé một mai lớn lên như tôi trong một khung cảnh nhất định rồi cũng bỏ đi như nhớ tiếc một điều gì xa vời tìm không thấy.
Xóm ở không đèn đóm, đường đất gồ ghề dội lên tiếng lọc xọc của dây xích. Gió lùa từ các hốc tối với tiếng côn trùng. Hải bắt đầu học lại, ngồi tựa lưng trên phản, sách mở trên hai đầu gối co, ngọn đèn đặt trên thành cửa sổ. Liêm cất xe đạp vào nhà, nghe da mặt ướt lạnh. Hải cười bảo: “Đi ăn cỗ về mà trông anh có vẻ buồn”. Lúc Liêm đã đi nằm, Hải bỗng hỏi: “Tối mai anh rỗi không? Anh đi chơi với tôi”. Liêm nói đi thì đi. Trong đêm khi Liêm kéo chiếc chăn đơn lên đắp, trong một quãng thức tỉnh, nghe một nỗi buồn vang dội như tiếng âm trong một tòa nhà cao rộng. Giọng nói của Tường bỗng nghe thấy rồi trộn vào trong giấc ngủ. Buổi sáng ở nhà in, Hải nói với Ngọc: Tối nay anh Liêm cũng đến. Ngọc nheo mắt cười: Tốt. Liêm hỏi: “Hai người âm mưu gì thế? Không được đùa dai”. Ông Kiêm, chủ bút, vào đứng giữa buồng xếp chữ nói chuyện bông đùa, nhìn Liêm xếp một tin quốc tế bằng chữ corps 6. Ông hỏi: “Nghe nói anh đã ở Sài-gòn?” Ông San ngồi bên cạnh đang chọn chữ đùa: “Anh ấy có vợ Nam-kỳ đấy”. “Thế hả? Có lẽ rồi chúng mình đến vào Sài-gòn cả thôi”. “Tại sao thế ông?” “Có thể nước ta chia đôi. Một nửa cho Cộng-sản, một nửa cho Quốc-gia”. “Thật như thế không?” Ông Kiêm người gầy gò, xương sấu, da mét như nghiện, mắt hấp háy sau đôi kính cận vốn người lừ nhừ ít nói, theo lời Hải ông là bạn đồng chí cũ với ông bố Hải bây giờ là một chính khách chờ thời. Ngày trước ông Kiêm và một số đồng chí khác ngày nay đều trở thành các “chiến sĩ quốc gia” tên tuổi đến ăn dầm ở dề nhà Hải, Hải còn nhỏ, không nhớ nhưng được nghe mẹ kể lại. Ông Kiêm không biết Hải, Hải cũng không bao giờ muốn nhận những bạn của bố; Hải nói: “Thuộc về quá khứ. Bố tôi là Việt-quốc, còn tôi không bao giờ là Việt-quốc”. Ông Kiêm tháo cặp kính lau mắt: “Chỉ nay mai là điều đình thôi. Như thế cũng tiện. Ai thích Quốc-gia thì ở với Quốc-gia, ai thích Cộng-sản thì ở với Cộng-sản. Cho dứt khoát” rồi cười khà, điệu cười ngắn ngủi nhạt nhẽo. Tuất hỏi: “Còn những người chẳng thích thứ nào hoặc thích cả hai thứ họ mới tính sao đây?” Liêm nghĩ đến Sài-gòn, thấy thoáng hiện mơ hồ tia hy vọng có cơ hội trở lại. Lúc đó... trí tưởng tượng cụt hẫng không thể phóng tới một tương lai chưa thành hình. Trở lại Sài-gòn? Để làm gì? Ở lại đây? Hết giờ làm việc buổi chiều, Liêm đi cùng với Hải ra phố Huế đến một hiệu sửa xe đạp và mô-tô. Trước cửa, ngay ngoài hè, người chủ nhà đang xoay trần quanh chiếc Motobécane ráp lại máy. Hải đứng sau lưng gọi: Anh Thái. Thái ngoái cổ cười: Chú Hải, đợi tôi xong ngay, rồi cúi xuống vặn nốt những con ốc cuối cùng. Thái đứng thẳng người dậy, chùi tay vào một cái dẻ lớn, nghe Hải giới thiệu Liêm, nở miệng cười—Thái có nụ cười rộng rãi chân thực—đưa cổ tay cho Liêm bắt: “À, anh Liêm. Tay tôi bẩn quá. Mình vào nhà chơi. Ngọc đâu?” Hải đáp: “Anh Ngọc đến sau”. Thái đẩy chiếc mô-tô vào nhà; trong cửa hiệu còn hai chiếc mô-tô khác và dăm chiếc xe đạp, những chiếc sườn xe mới sơn treo thành hàng, hai bên tường là tủ kính chia ô bầy các món phụ tùng. Vượt qua cái tủ kính thứ ba dùng làm vách ngăn chia cửa hiệu với bên trong, là một căn buồng giả kê một tấm phản và một bộ bàn ghế uống nước. Thái đi trước vào trong sân—sân gạch dài trống chỉ có ba bốn cái vại đặt bên tường rồi đến bếp—trèo lên một cầu thang xi-măng mà tay vịn nhiều chỗ loang lở. Buồng trên gác là chỗ ở của gia đình Thái, vợ Thái đang ngồi chơi với hai con trên chiếc giường sát bên cửa sổ trông xuống phố. Chị bồng một đứa, dắt tay một đứa, lặng lẽ chào khách bỏ xuống nhà dưới. Liêm theo Hải ngồi xuống bên một cái bàn gỗ chữ nhật đặt bốn chiếc ghế trong khi Thái đi theo vợ dặn dò một vài điều nơi đầu cầu thang. Thái trở vào, ngồi trước mặt Liêm, hỏi về những chuyện kháng chiến miền Nam. Vui câu chuyện, Liêm nhớ được lại những kỷ niệm bất ngờ chính Liêm cũng cảm thấy thú vị như truyện bà Năm Lửa dưới Hậu-giang tự xưng mình là Phàn Lê Huê đội mão mang hia cầm quân xuất trận. Ngọc đến và lúc bấy giờ Liêm mới vỡ nhẽ Hải đã đưa mình đến một tổ kháng chiến nội thành. Đó chỉ là một cuộc sinh hoạt thường lệ để học tập đường lối. Có lẽ Hải đã nói sao đó nên cả Ngọc lẫn Thái đều mặc nhiên coi như Liêm đã là người trong nội bộ và Liêm đành ngồi im nghe. kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt Thái lấy trong giỏ ấm một cuộn tài liệu in nhập nhòe trên giấy xấu trao cho Hải và Ngọc, nói: “Chú Hải và anh Liêm nghiên cứu chung một tập cho tiện”.
Tám giờ hơn, Liêm và Hải mới ra về. Ở ngoài hè, Liêm hỏi: “Tại sao cậu không hỏi ý kiến gì tôi cả mà đưa tôi đến? Nhỡ tôi không thuận thì sao?” Hải bối rối giây lát đáp: “Tôi nghĩ thế nào anh cũng thuận. Người lao động nào cũng có ý thức cách mạng”. Liêm mỉm cười, nhớ đến câu đã nói với Tường: Tôi không phải sinh ra để làm cách mạng. Chưa khi nào tôi muốn tìm hiểu sâu về cách mạng? Tại sao phải làm cách mạng? Tôi chỉ muốn được làm việc, được sống. Không khi nào tôi quen được cái không khí của những buổi hội họp. Tôi muốn làm những công tác cụ thể và trở về trong xóm gặp Hạnh. Nhưng bây giờ không có các thứ ấy, hằng tuần Liêm theo Hải đến gặp Thái và Ngọc, những giờ rảnh rỗi phải thảo luận đối đáp với Hải. Một lần Liêm bảo Thái: “Anh có thể giao phó một công tác nào cho tôi. Tôi vẫn quen hoạt động nội thành”. Thái đáp: “Chưa cần. Chúng ta là những phần tử nồng cốt của cách mạng. Không thể phí phạm. Chừng nào đến nhiệm vụ chúng ta, chúng ta sẽ làm. Hiện nay hoạt động nội thành không cần thiết nữa, đã có những người khác phụ trách. Không nên có cái mặc cảm anh hùng cá nhân. Lúc này là lúc chúng ta được nuôi dưỡng để phát triển ý thức cách mạng lao động”. Công tác của Ngọc và Hải chỉ là báo cáo những luận điệu phản động nghe được trong tòa soạn và thỉnh thoảng giả vờ lơ đễnh bỏ sót một đoạn tin tức hoặc bình luận bất lợi cho chính phủ kháng chiến. Nơi họp mặt cũng thay đổi luôn, lúc nhà Thái, lúc nhà Ngọc, lúc trong một ngôi đền ở phố hàng Đàn, người giữ đền là một anh đồng cô bạn học của Thái từ thời nhỏ. Ngọc ở phố Lò-đúc, cuối một ngõ hẻm, gia đình gồm một vợ, bốn con, vợ Ngọc tóc hoe vàng, có máu lai, nên những đứa con tuy trông lam lũ vẫn có vẻ trắng bụ bẫm. Người đàn bà mang nét mặt ủ rũ ẩn nhẫn của Việt-nam tương phản với những dấu tích Tây-phương còn ghi lại trên dung nhan, chị ru con bằng những điệu quê mùa chưa thuần và chưa một lần nghe chị thốt tiếng nói trước người lạ. Những ngày tháng ấy của Liêm trống trải đầy ắp. Một đôi khi Liêm chẳng còn ý nghĩ, thản nhiên xuống thăm vợ chồng Hỗ và quên mọi chuyện thắc mắc. Hỗ đã xin được một chân chào thuốc cho một công ty nhập cảng dược phẩm, phải về các tỉnh, vắng nhà luôn. Vợ Hỗ hài lòng về việc thỉnh thoảng Liêm trở lại thăm và những lúc Hỗ vắng chị giữ Liêm ở lại để khoe về những biến động của cái bào thai. Có Hỗ ở nhà thì ba người ngồi ăn cơm để nghe Hỗ thuật lại về những chuyến đi của anh. Liêm tự hỏi không hiểu Hỗ có rõ chuyện không, hay anh cũng học theo Tây coi thường việc ngoại tình của vợ. Vợ Hỗ càng ngày càng trở nên ì ạch, nặng nhọc vì bụng quá to, Hỗ tỏ ra lo lắng sợ chị quen dạ như lần trước và thường nhắc Liêm: “Chú phải xuống luôn nhỡ tôi đi vắng còn có chú xoay sở hộ. Đàn bà sảy một lần là đáng ngại lắm”. Liêm nghe như Hỗ nhắc lại một bổn phận của mình, và Liêm sực tỉnh thảng thốt ngơ ngẩn, còn vợ Hỗ lại nhoẻn miệng cười lẳng lơ, ngớ ngẩn. Vợ Hỗ thì nói: “Chú phải để dành tiền đưa tôi cất cho. Sau này còn phải lo cho con. Ai lại con mình mà bắt người khác chịu hết”. Người đàn bà nằm trần truồng với cái bụng phưỡn căng trắng hếu, tỏa ra một hơi nóng trong bầu không khí ủ đặc của buổi chiều thu muộn, tiếng chuông tàu điện leng keng tít đầu ngõ, tiếng kèn ô-tô vang khuất như gặp ống hút, Liêm nằm câm như thóc vừa xấu hổ vừa tức giận. Nhưng Liêm không nỡ nói một lời tàn nhẫn. Mỗi lần người đàn bà quay nghiêng, chiếc bụng ấp vào mạng sườn gồ lên, nghe tỏ cả những tiếng lạo xạo cồn cào. Liêm chỉ còn biết mong ước một cách sợ hãi đứa nhỏ không thể ra chào đời được hoặc một tai nạn làm cho hai mẹ con cùng chết lúc sinh nở, Liêm sẽ được giải thoát. Liêm cũng tự hỏi những đêm mất ngủ, Hải vẫn còn dong đèn ngồi học, tại sao không rời chỗ ở, không thay đổi việc làm; lúc đầu tôi chỉ có ý định ở tạm trong gia đình Hải rồi tôi quên hẳn ý định ấy. Muốn thay đổi chỗ ở, công việc phải có thì giờ tìm kiếm, tôi không còn tự do nữa. Lúc ấy Liêm bỗng trực nhớ đến Khôi, người bạn đã gặp trên ghế đá ngày thất nghiệp sống nhờ nhà Tế Bần, không hiểu còn sống hay chết. Rất có thể anh đã tự vẫn vì chẳng biết phải làm gì ở đây; trong mấy tháng thành phố đã vớt được ba bốn xác đàn ông tự tử ở hồ Bảy-mẫu, hồ Thiền-cuông không mang căn cước trong người và một người chết còng queo một buổi sáng trong nhà Tế Bần mà người ta độ chừng là một tên hành khất. Một tên hành khất. Liêm vẫn tham dự những cuộc sinh hoạt của tổ, nhưng từ chối khi Thái đưa cho một tờ khai lý lịch đảng viên dự bị mà Thái đã long trọng tuyên bố trước như một vinh dự lớn lao không phải ai muốn cũng được. Liêm thối thác: “Lập trường tôi vẫn chưa vững. Vả lại từ ngày còn ở trong Nam, tôi cũng chỉ hoạt động như một công dân. Tính tôi không ưa đảng phái”. Thái bảo: “Anh nói lập trường anh chưa vững thì tôi tin. Vấn đề ấy rồi tất cả anh em trong tổ sẽ mang ra mổ xẻ. Nhưng còn anh không ưa đảng phái là một điều sai lầm. kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt Nếu anh muốn phục vụ thực sự cho cách mạng, anh cần phải hy sinh cá nhân cho đảng”. Liêm đáp: “Các anh để cho tôi nghĩ lại”. Sau buổi ấy, Liêm hết sức lẩn tránh câu chuyện của Hải, ngại phải thảo luận, phải phanh phui con người mình, tôi cũng chưa biết rõ hẳn về tôi, những ngày tới của tôi sẽ được xếp đặt như thế nào; những đuổi bắt ý nghĩ hôm nay có thể buộc tôi phải lựa chọn, sự lựa chọn cầu âu vô nghĩa lý. Ở nhà in, Liêm chăm chú vào công việc ít chuyện trò vẩn vơ; sau giờ làm việc buổi chiều, Liêm thác cớ mệt mỏi không về nhà ngay đi bộ ra mạn bờ sông thơ thẩn. Gió thổi lộng trên mặt đê, con đường vắng vẻ với cây cối bàng hoàng thảng thốt, nhà cửa kín mít một bên hè như không người ở, Liêm nghe trong người rời rã như bị cơn bệnh không tên xâm nhập; trong nỗi rã rời quyện theo hất hơi nhẹ bay bốc lên đầu cứng và rỗng, tỏa một vùng sương ngăn cách trí nhớ và tưởng tượng len lỏi một thứ âm thanh đìu hiu xa khuất. Thành phố như một sức hút chậm chạp không ngừng nghỉ, một sức nặng đè không gỡ thoát. Những ngày cuối mùa thu hoang mang vẫn đục trong cảm giác mù mịt bất định. Một hôm bà mẹ Hải nói riêng với Liêm, nhờ Liêm khuyên Hải chỉ nên chăm lo học hành đừng tham gia hoạt động chính trị, bà sợ những tai nạn có thể xảy đến, sợ Hải giống như số của người chồng, Liêm hứa cho bà yên lòng, nhưng biết chắc mình không khi nào nói lại với Hải. Những lo nghĩ của bà không thể nào lay chuyển được đứa con trai ham mê lý tưởng ấy, hắn sống trong thế giới của tương lai ở đó không có những vướng bận nhỏ nhặt phiền toái của những người như bà. Và cả mình nữa. Làm sao nói được?
