Phần thứ ba - Chương III (I)
— Chú Liêm này, tôi có mang.
Câu nói không gây ngay xúc động, lẫn trong tiếng ve sầu kêu ran theo hàng cây dài ngoài phố vắng trong buổi chiều đã thật tối. Đầu óc lười biếng, mồ hôi khô rít trên da trần, lưng nằm ngửa trên nệm giường nhầu nhẽo nóng bức. Không một cơn gió, đám lá cây ngoài cửa sổ với ánh điện đường mờ nhạt vừa bật lên lấp ló im phắc. Vợ Hỗ không nói thêm và câu nói đã mất hút không còn chút vang động nào. Màu trần vôi trắng nhiều vết hoen lang vàng khé, những vết lở lói của vôi, vỡ từ ngày nào, nhòa lẫn vào bóng mờ của gian phòng. Tôi có mang, một đứa con, Hỗ bị bắt, một đứa con với vợ Hỗ. Những ý nghĩ diễn qua lặng lẽ rửng rưng như bầu không khí buổi chiều mùa hè trong một phố khuất không tiếng xe cộ, không tiếng trẻ con nô đùa. Người đàn bà ngồi nhỏm lên, bới lại đầu tóc, da thịt nhễ nhại toát ra một hơi thở nồng khó chịu; hai cẳng chống lên, đầu cúi, lưng nghiêng về đằng trước, cặp vú hơi chảy xệ đụng vào bắp đùi. Liêm với tay, tuột đầu khỏi gối, đặt lên chiếc bụng da căng không có một dấu hiệu nào khác lạ, hỏi: “Mấy tháng?” “Hai tháng” “Đúng không?” Người đàn bà cười rúc một cách vô duyên, buông mình ngã xấp lên người Liêm. “Còn phải hỏi nữa. Con mình chứ con ai”. Con mình, không bao giờ tưởng tượng ra như thế. Rồi làm sao? Vợ Hỗ không đả động gì thêm nữa, mải lo đùa nghịch. Liêm lạnh mình, chợt nghĩ: bây giờ Hỗ nằm ở đâu? Liêm dụ người đàn bà sang một bên, “làm đau người ta, bắt đền bây giờ”, bảo: “Đi ra bờ Hồ cho mát”. Vợ Hỗ phụng phịu xong cũng ngoan ngoãn chiều ý. Xuống dưới đường, Liêm quay cổ nhìn vào khách sạn trong khi vợ Hỗ cẩn thận buộc chiếc chìa cửa khóa phòng vào khăn mù-xoa. Trên tấm bảng hiệu treo một bóng điện vàng bám bụi và muỗi, trên đầu bờ rào dặng giây thép gai với cọc sắt như trại lính. Đi vài bước bờ hè đã tối ngay dưới bóng những cây me già. Vợ Hỗ hỏi: “Đi đâu?” Liêm nghĩ giá vợ Hỗ ở lại trong buồng, được thong thả một mình sướng hơn. Xung quanh bờ Hồ đông người dạo mát, các quán nước đều chật khách, những chỗ cỏ tốt đều có người chiếm. Vợ Hỗ sung sướng ra mặt, “anh ấy chưa bao giờ đưa tôi đi hóng mát bờ Hồ buổi tối”, chị ta nhìn ngắm những người qua lại tò mò. Đi qua đoạn đường sáng, bến tàu điện đầu bờ Hồ, vợ Hỗ nhìn chăm chăm vào mặt Liêm hỏi: “Thích không? Có con thích không?” Ngồi xuống bờ cỏ bên bờ hồ, chỗ tối, Liêm gọi mua kem vừa ăn vừa nhìn mặt nước lấp loáng đằng xa, nghe tiếng vọng của máy phát thanh từ bên kia bờ hồ. Vợ Hỗ vẫn nói luôn miệng những chuyện đâu đâu. Thích không? Có con thích không? Tiếng xe, tiếng chân bước, tiếng cười nói vắng dần, chỉ những quán nước còn tụ tập được khách. “Bây giờ hết tàu điện về Bạch-mai rồi nhỉ”. “Hết lâu quá rồi”. Liêm nghĩ sợ đêm nóng bóc ngột ngạt này, giấc ngủ sẽ bị khuấy động từng lúc vì người đàn bà, chắc chắn như thế, trong gian phòng chỉ có chiếc giường nệm là chỗ nằm được. Vợ Hỗ phải giục hai ba bận Liêm mới chịu đứng lên. Ở đầu ngã tư, Liêm giữ người đàn bà đứng đợi cho hai ba tên Lê-dương say đi với gái vào khách sạn một lúc lâu rồi mới tiến tới. Vợ Hỗ lúi cúi mở khóa còn Liêm nhìn bâng quơ những cánh cửa đóng, chữ số viết bằng sơn trắng trên gỗ. Bước chân vào buồng, quờ quạng trong tối, Liêm có cảm tưởng vào trong nhà tù. Liêm ngồi ngây trên giường như người mất hồn, ánh điện bật lên trơ trẽn. Vợ Hỗ đứng rửa mặt trước tấm gương ố góc phòng mỉm cười khi lau mặt và cởi cả áo cánh mặc ngoài bỏ nửa thân trần. Nhìn mắt Liêm, đột nhiên người đàn bà quay mặt gắt: “Cấm nhìn người ta” rồi chạy đi tắt điện. “Bức quá, cởi quần áo ra cho mát” và trong bóng tối tràn ngập Liêm nghe người đàn bà chậm chạp cởi bỏ nốt những gì còn lại mang treo lên mắc rồi thong thả đi về phía Liêm ngồi. Liêm không thể cưỡng được những cử động, cũng tự động trút hết áo quần trên người. “Như thế này có phải sướng không”. Vào khuya Liêm nghe hàng quà rao không phân biệt được rõ tiếng dưới đầu phố, anh lính Tây say hát lè nhè qua ngoài cửa buồng, súng nổ âm rền một góc trời xa trong không khí lặng thinh không cản trở. Liêm chợt nhớ đến Bích, tôi về Hà-nội đã nửa năm. Nửa năm giời, ý định trở lại Sài-gòn đã quên khuấy. Tại sao khi ở Sài-gòn mười năm không khi nào có cảm giác tạm bợ nhất thời, còn ở đây trong thành phố này cứ thấy như mình bập bềnh trôi nổi? Nằm bên cạnh tôi lúc này, không phải là anh chàng thanh niên chán đời ngày mới đặt chân xuống đất Bắc, một người đàn bà cũng mệt mỏi rã rời và một đứa con của tôi đang thành hình trong bụng. Vì đời sống tan nát vây quanh chăng? Bà mẹ Hải với hai đứa con trai lớn theo kháng chiến không biết mất còn, đứa con gái mệnh yểu và ông chồng mất không kiếm thấy xác. Và Khôi, Khôi không biết đã tìm được công việc làm chưa hay còn ở nhà Tế Bần. Thành phố này thật nhỏ thật xa. Hỗ bị bắt và vợ Hỗ nằm đây. Liêm đi ra cửa sổ nhìn xuống phố đang trong giờ giới nghiêm. Một con chuột chạy nhởn nhơ ra vào ở một lỗ cống gần bãi rác dưới ánh điện vằng vặc. Những mảnh chai nhọn cắm dài trên đầu tường. Tôi đã trông thấy những gì, nghe thấy những gì? Tại sao thế? Ngày mai nhìn từ thành phố này rắc rối bất trắc. Sài-gòn yên ổn, dễ dãi và đơn giản cách xa mấy ngàn cây số. Liêm đói bụng, quay trở vào giường, không thể ra chợ kiếm thức ăn bất cứ giờ nào như ở Sài-gòn. Trong giấc mơ, Liêm thấy mình trở lại Sài-gòn, gặp Hạnh và Hạnh bồng một đứa con đứng trước cửa quán, Sài-gòn chỉ còn nhà cửa đường phố không như trong những ngày bom Nhật.
Sáng Liêm thức dậy sớm nhưng người đàn bà còn ôm giữ lại, “còn sớm mà”, rốt cuộc đầu Liêm nặng như khối chì đặc. Người Liêm ráo hoảnh, nổi gai trong buổi sớm không gió. “Tôi về trước. Chị ở lại về sau”. Như buổi sáng nào, Liêm ra khỏi khách sạn một mình, đi bộ về chợ Hôm ăn quà sáng. Hè phố còn vắng và dơ bẩn, trời mùa hè trắng như trần nhà. Chưa đến tám giờ đã bắt đầu thấy nắng. Ở nhà in, Hải hỏi: “Đêm qua anh ngủ đâu?” “Ở nhà người quen. Đi tìm chỗ vận động cho cái anh bị bắt”. “Được không?” “Chưa biết”. Buổi trưa về nhà, mẹ Hải cho ăn bún chả khai trương món hàng mới của bà. Cơm nước xong bà bỏ ngủ trưa vội gánh hàng ra phố. Gần đến kỳ thi, Hải xanh xao gầy sút trông thấy. Vợ Hỗ vẫn lên xuống, bụng mang mỗi lúc thêm rõ, Hỗ vẫn chưa được thả. Ngày nào Hỗ về không còn được tính tới nữa. Chủ nhật Liêm về nhà Hỗ ở cả ngày, vợ Hỗ bảo: “Chú về nhà cho có đàn ông để họ đỡ bắt nạt tôi, nhà thương đang muốn đuổi nhà”. Liêm cười, nghĩ cứ tình thế này kéo dài không biết mình sẽ đi đến đâu. Hàng xóm chắc cũng biết chuyện, Liêm có ngượng nhưng thấy vợ Hỗ thản nhiên cũng yên tâm. Một hôm trong bữa cơm, mẹ Hải bảo: “Cả hai cậu dạo này đều xanh đấy. Phải giữ sức mới được”. Liêm soi gương chỉ nhận thấy mình già hơn nửa năm trước. Hải thức đêm mỗi lúc một khuya hơn, mặt mày hốc hác ngơ ngác trong tội nghiệp. Liêm khuyên Hải không nên cố gắng quá và Hải nói: “Tôi phải học như đi ăn cướp vậy. Không cách nào khác hơn anh tính nếu tôi muốn thoát khỏi cảnh ngộ của tôi”. Liêm tự hỏi: còn tôi làm cách nào thoát khỏi được cảnh ngộ của tôi? Làm cách nào? Cuối cùng vợ Hỗ cũng phải dọn nhà ra khỏi nhà thương, thuê một gian nhà lá ở Kim-mã trong một ngõ dốc bên đường tàu điện Ô Cầu-giấy. Con đường nhỏ lát gạch như đường vào làng chạy giữa những bụi chuối, bụi dứa dại xanh mát, nhà ở trước một ngôi từ đường đổ nát nàng bị các gia đình lao động xâm chiếm chia nhau thuê từng buồng trừ gian chính cửa vẫn đóng ỉm bụi bậm. Về đây Liêm không còn sợ ai dòm ngó và mỗi tháng ngoài bốn trăm đưa cho mẹ Hải, Liêm còn phải đưa cho vợ Hỗ ba trăm. Mặc dầu vợ Hỗ khuyên Liêm nên về ở chung đỡ tốn, Liêm không chịu, bảo: “Thế nào anh ấy cũng còn về chứ”. Nhưng Liêm vẫn lui tới thăm nom, sờ tay lên bụng người đàn bà nghe cái thai mấp máy. Và chờ đợi những ngày tháng sắp tới trong tâm trạng ù lỳ buồn bã. Những ngày tháng sẽ tới trong thành phố ngợp ngụa lạ hoắc mà khi trở về tôi tự nhận là quê hương của mình.
Nắng chợt tắt nhanh, gió thổi là trên mặt cỏ. Chỗ Đồng nằm là khoảng cỏ thoải nhiều gốc cây giữa hai con đường, dưới lưng một lớp lá khô ròn. Trong đám cỏ nhìn sát được phóng lớn, những con kiến đen bóng chạy loăng quăng không thành đường, một con leo bò dọc theo cánh tay duỗi, gân phồng ở dưới lần da, buồn buồn. Thật xa cùng trên giải cỏ, chỗ nghiêng vòng thấp hơn, hai thiếu nữ áo trắng ngồi trên hai chiếc nón mở ngửa dưới hai gốc cây đối chếch bứt cỏ chuyện trò. Họ vừa từ trong Nha Học-chính ra, dựa xe dưới đường thấp lên ngồi đấy; có lẽ họ đi lấy phiếu báo danh, lát nữa họ sẽ vòng xuống Cổ-ngư ăn bánh tôm. Buổi chiều êm mát lười biếng trong vườn, nắng không lên nữa. Gió đang bắt đầu bốc lên cao, trên các con đường không tiếng động nào khác hơn những chiếc lá khô cuốn chạy. Sắp mưa, những trận mưa rào giông gió sẽ dập tắt mùa hè. Mùa hè như tiếng cười trong sắp sửa trôi xa, đôi bạn gái đã đi khuất sau các gốc cây lên xe đi. Hai chiếc xe, bàn đạp quay ngược từng nửa vòng một, từ từ qua ở con đường dưới họ im lặng cùng quay đầu nhìn lên chỗ mình đang nằm. Hắn đang mơ mộng những gì? Hết cả hình ảnh để mơ mộng, trừ nỗi cô đơn gói kín. Nỗi cô đơn của một thời gian quay vòng tròn, trói khít dần. Éternel retour. Đồng đứng lên phủi quần áo, dắt chiếc xe đạp dựa gốc cây, đẩy lên đường trên, đạp ngược dốc về nhà. Dốc là acte sexuel, mặt hồ xanh biếc dưới xa tít nhìn ngắm hằng ngày là cái bộ phận của người đàn bà, vừa vượt dốc vừa thở và nhìn hồ Tây; Trí óc đang hư hỏng dần như cái máy chạy không. Gió thổi ngược ào ào như trận mưa đã tới, chiếc xe đạp chao nghiêng muốn đứng im. Đồng đứng nhỏm lên khỏi yên xe, hai tay nắm chặt, môi bậm lại, nhấn bàn đạp. Tiếng người gọi nhau ơi ới trong các sân nhà lan truyền, cây gạo Quảng-bá đã chìm mau vào màn mưa trắng. Đồng đẩy xe chạy mau xuống lối dốc sau nhà, đập cửa thình thịch, chỉ nghe tiếng thở dồn lùng bùng trong tai. Cánh cửa bật mở tự động, Đồng nhấc xe qua cửa, nhẩy lên yên đạp lách qua các gốc cây, đầu cúi thấp tránh những cành cây xòa chắn ngang. Vào đến sân gạch tiếng chó sủa quẫng ngoài cổng trước cùng tiếng mưa bắt đầu rơi lộp độp trên ngói, náo động. Đồng cho xe chạy thẳng vào nhà ngang, chỉ gặp u già đang loay hoay xếp mấy mẹt cau khô vừa bưng cất. Đồng nghe tiếng gọi của chị Đạo ở nhà trên: Có người hỏi cậu ở ngoài cổng; chị ngồi ở bực cửa trên thềm tay cầm quyển truyện tóc vừa gội còn rũ hong. Đồng đứng thở nghỉ mệt nghĩ: còn ai đến tìm mình. Ai đến tìm mình nhỉ? Mẹ Đồng tay che tóc, chạy vào suýt vấp vào hai con chó theo bén gót, mắng: Tiên nhân cha con đẻ mẹ mày... Không biết Đồng đã về, bà lên ngay nhà trên, chị Đạo hỏi: Ai hỏi gì đấy cụ? Mưa trút ào ào át hết mọi tiếng động khác, Đồng nhìn lên chỉ thấy mẹ đang đứng nói chuyện với chị Đạo. Chị Đạo đứng lên, chỉ tay về phía Đồng, bà quay lại giơ tay vẫy gọi. Đồng nhe răng sua tay lắc đầu, cố sức la lớn: Con không nghe gì cả. Bà bước ra đầu thềm gần lối xuống nhà ngang, chị Đạo đi theo một tay vẫn cầm quyển sách, một tay vuốt đuôi tóc, chỗ ấy ống máng đổ nước xuống ào ào dẫn vào cái bể đầu nhà. Chị Đạo nói to: Cụ bảo... Thạch... Đồng bắc loa tay vào miệng: Để chốc nữa con lên, rồi cười đi vào ngồi xuống cái ghế con nhặt một miếng cau trong mẹt cọ răng. U già ngẩng lên bảo: “Cậu hút thuốc nhiều quá. Tay vàng hết”. “Cả ngày ngồi một chỗ buồn quá”. “Các cậu ấy đi đâu cả không thấy xuống chơi nhà nữa. Còn cậu Thạch dễ đến cả năm không thấy về”. “Bây giờ người nào có công việc nấy, đâu như dạo còn đi học nữa u”. U già bỏ dở câu chuyện, đi lại bếp ghế nồi cơm. U vừa vần nồi cơm trên bếp vừa hỏi: “Tại sao mợ Đạo ra vào luôn được mà cậu Đạo không về chơi nhỉ, cậu Đồng?” Đồng cười: “U lẫn thẩn. Ai người ta cho về. Mà cậu Đạo cũng sắp về u khỏi lo”. U nghiêng đầu, hấp háy đôi mắt kém hỏi: “Sắp yên rồi hở cậu Đồng?” Đồng gật đầu, vứt miếng cau sơ ướt ra sân. Mưa đã vợi nhẹ nhưng trời tối xầm, sans amour et sans haine, mon coeur a tant de peine. Đèn nhà trên đã thắp, mẹ ngồi trên phản với cháu ngồi giữa hai chân tay đang múa may. Chị Đạo có lẽ đã lên nằm ở võng. Đồng sách chiếc nón lá của u già đội lên đầu, chạy ù qua sân, nước bắn tung tóe. Mẹ Đồng ngửng lên nói: “Cậu Thạch cho người nhắn về cậu ấy bị thương nằm trong nhà thương Bạch-mai”. Đồng khựng lại ở ngưỡng cửa, cúi đặt cái nón xuống đất, vuốt lại tóc. Một lát hỏi: “Có nặng không mẹ?” Bà bồng cháu đứng xuống: “Tôi cũng không biết. Mai cậu có vào thăm cho tôi đi với”. “Phòng số mấy hở mẹ?” “Vội quá tôi cũng quên không hỏi”. Đồng nói: “Mai mẹ đừng đi, xa lắm. Để con xuống trước đã” và Đồng vào buồng thay quần áo, nằm dài trên giường. Trên đầu giường quyển La chute de Paris, trang đầu có chữ ký của Cảnh với An, nằm dưới cùng chồng sách. Mưa đã tạnh, Đồng cũng không mở cửa sổ buồng, bóng tối đặc quánh dần trong mắt. Trong bữa cơm chị Đạo hỏi Thạch là ai, mẹ bảo bạn học của Đồng. Tại sao lại đi lính cho Tây? Cậu ấy bị động viên. Bao nhiêu người bị động viên đều trốn, sao cậu ấy không trốn? Chị Đạo nhìn hỏi Đồng và Đồng chỉ cười. Không có ai thương nó cả, đáng đời nó, nó tưởng mình là anh hùng, anh hùng theo cái kiểu của nó. Nếu Thạch chết? Mai tôi xuống đến nơi, nó có thể chết rồi. Sau bữa cơm Đồng vào ngồi trước bàn viết, lật quyển sổ ghi những ý nghĩ vụn vặt hằng ngày từ khi đi làm. Câu trơ khấc, cộc lốc không nhớ được những cảm xúc phát sinh; những câu thơ chép lại, ý tưởng không đầu đuôi. Tôi già hay tôi trưởng thành? Trưởng thành là một ý thức, ý thức về mình về người và về sự vật một cách rõ rệt. Tôi không làm gì được cho Thạch và nó cũng bất cần. Đồng lên giường đắp chăn nghe mưa bắt đầu rơi trên mái.
Buổi sáng trời trong mát mẻ. Đồng dắt xe ra ngõ, mẹ Đồng gọi với theo hỏi có tiền mang theo ghé chợ Đồng-xuân mua cam cho Thạch. Đồng dựng xe trước cổng, quay trở vào bảo: “Cụ có tiền thì cho con thêm cũng được”. Bà mần mò mở cái túi vải đựng tiền, đưa cho Đồng một trăm, dặn dò: “Cậu nói tôi sẽ xuống thăm cậu ấy”. Đồng cười khì: “Sợ nó chết mất rồi”. Bà mắng: “Cậu chỉ độc mồm độc miệng”. Đường nhựa còn ướt như xe phun nước vừa đi qua. Xe đạp nhẹ hơn ngày thường, cây lá xanh tươi rậm rạp. Đường Cổ-ngư hàng phượng đỏ ối bên bờ nước thẫm. Còn lâu nắng mới lên. Biệt thự gia đình Nga không thay đổi, im lặng thâm nghiêm, các cửa sổ mở rộng, sau những đám lá trong vườn. Đồng tạt vào chợ Đồng-xuân, mua nửa cân cam, đèo sau xe và đến hiệu ảnh xin phép nghỉ. Cúc bảo: “Anh cứ đi. Tôi sẽ nói lại với chú tôi”. Cúc mặc áo dài xanh nhạt, nàng cũng vừa đến, mặt hồng hào khỏe mạnh hơn ngày mới hồi cư đến tìm ông chú để xin được giúp đỡ. “Cô phải trông hộ tôi mệt đấy”, “Không sao. Thứ bảy, chủ nhật anh giúp lại tôi. Tuần này tôi cũng có việc bận”. Đồng bặm trợn đùa: “Hẹn với ai thế? Cô dạo này trông đặc Hà-nội rồi đấy”. Cúc cười không tỏ vẻ khó chịu, cặp mắt liếc tránh vào phía trong. Tại sao không yêu Cúc nhỉ? Đồng nhớ trong một nhịp rung mau tâm trạng của người mới lớn, khoan khoái thảnh thơi. Tôi có thể làm thơ được. Và bây giờ thì sẽ đọc những bài thơ tình cho Cúc nghe, không giấu giếm sợ hãi để rồi ném theo dòng nước cuốn. Trên đường xuống nhà thương, Đồng đạp xe thong dong, từ lâu rồi, từ ngày Nga đi, mất cái thú đi chơi các vùng lân cận thành phố. Những ngày tháng chật hẹp, bất giác nghiền ngẫm một cách âm thầm. Con đường tàu điện ngắt lưng chừng giữa một khoảng đồng trống. Gió còn lùa nhưng nắng bắt đầu hé. Sau lũy tre xa, tiếng còi tàu Văn-điển mất hút. Xuống đến cổng nhà thương, Đồng mới nghe mệt rã rời. Gửi xe ngoài cổng, Đồng hỏi thăm, đi lòng vòng đến mười lăm phút mới tìm ra chỗ Thạch. Trong phòng hai giường, Thạch nằm quay đầu nhìn ra cửa sổ, một chân bó bột treo đặt trên một mảnh gỗ, Thạch như chợt thức giấc mở mắt nhìn Đồng và mỉm cười. Đồng ôm gói cam, đứng ngẩn ngơ quan sát bạn, nó không chết. Giọng của Thạch trầm yếu hơn lúc thường. Thạch chỉ Đồng kéo chiếc ghế sơn trắng pha màu xanh loãng đến ngồi gần. Đồng hỏi: “Thấy thế nào?” “Đỡ rồi. Đợi tuần sau tháo bột là xong. May không phải cưa là phúc. Hai hôm đầu mê man chẳng biết giời đất. Cậu nhận được tin hôm nào?” Thạch dẫm phải mìn ở Hưng yên, được trực thăng chở ngay về Hà nội, khi tỉnh là yêu cầu báo tin cho Đồng biết. Thạch nói đùa: “Làm gì mua quà như đàn bà đến thăm chồng thế”. “Của bà cụ. Bà cụ sẽ xuống thăm cậu”. Đồng nhìn quanh gian phòng, người nằm giường bên bó kín ngực và băng quấn quanh đầu che cả mắt. “Hắn có lẽ mù”. Đồng ngửi mùi ê-te phảng phất, mùi y dược sực nồng, chóng mặt. Đáng lẽ chỗ của tôi phải ở trong nhà thương này, cái không khí yên tĩnh biệt lập một màu trắng xóa giống như những ngày tôi đang sống, hợp với tôi. Ở đây lắng nghe bệnh trạng của mình, tha hồ đuổi theo những ý nghĩ, tưởng tượng.
“Có tin tức gì của Cảnh với An không?” Đồng lắc đầu, nếu nó không bị thương, nếu nó chết ngay tức khắc, tôi cũng chẳng hay biết. “Còn tình hình thế nào?” “Tình hình. Có gì thay đổi đâu. Cậu biết hơn tôi chứ”. Thạch quay nghiêng mặt ra ngoài một cách khó khăn: “Từ ngày đi lính như mù mắt. Chẳng hay biết chuyện gì cả”. Đồng sực nhớ cuộc gặp gỡ với Nghiêm và nói: “Cách đây một tháng tôi có gặp Nghiêm. Nhớ Nghiêm không? Có nghe hắn nói chuyện chính trị. Hắn bảo tình hình sắp sửa có nhiều chuyện lạ. Chiến tranh Đông-dương sẽ phải chấm dứt bằng hòa ước như Cao-ly và có thể mình cũng bị cắt đôi chia cho hai phe giống như Đức với Cao-ly. Ranh giới sẽ rõ rệt. Tình hình thế giới đẩy đến như thế. Hắn có hỏi thăm tôi về các cậu và bảo chúng mình nên hy vọng. Thời cơ sẽ đến với những người đang ở ngõ bí”. Thạch đưa tay xuống gãi chân hỏi: “Nhưng hắn, thái độ của hắn vẫn mơ màng như cũ hả? Vẫn cái lịch sử của dân tộc Việt nhai mãi hả?” “Hắn nói mình nghe, tôi cũng chẳng hỏi thêm. Cậu nghĩ thế nào?” “Lâu lắm tôi hết nghĩ rồi. Nghĩ cũng vô ích, vô ích một cách ghê gớm. Nói chuyện cậu đi”. “Tôi, chuyện tôi. Chẳng có gì đáng nói. Không còn cả chuyện yêu đương nữa”. Đồng tự chế riễu mình, nhăn mặt nhíu mày, Đồng hỏi: hút thuốc được không? và rút châm cho Thạch một điếu, nhặt một chiếc hộp các-tông để trên đầu giường làm gạt tàn. Không ai vào thăm Thạch, hắn sẽ phải nằm cả tuần lễ như thế này, với bô lót dưới mông, điều dưỡng giúp cho ăn uống, thay quần áo. “Mai tôi phải đi làm không xuống thăm được. Cậu cần gì không?” Thạch muốn có sách đọc, những sách gì Đồng đang đọc. Trời bên ngoài nắng lớn, Đồng ngại trở về, xuống trước cửa nhà thương ăn cơm trưa rồi lẻn trở vào với Thạch. Thạch mệt, nhắm mắt ngủ chập chờn chốc chốc lại hỏi Đồng một câu vu vơ, Đồng cũng ngồi ngủ gật trên ghế. Buổi trưa không cả tiếng chân người ngoài hành lang, nghe rõ tiếng một con nhặng vo ve lọt vào buồng bay quẩn cao ở trên trần, tiếng ve kêu ran ở hàng cây lấp sau dãy nhà song song đối diện. Thạch tỉnh táo hoàn toàn từ lúc nào và cũng như đang dỏng tai nghe ngóng tiếng động trưa nắng trong bệnh viện. Đồng bỗng nói: “Ngồi ở nhà thương gần người bệnh, tôi cứ nghĩ đến truyện của Tchékov”. Thạch hỏi: “Có ở nhà không? Cho tôi đọc. Tôi chưa đọc Tchékov”. Ý tưởng bất chợt đến Đồng nói: “Nhìn cậu, nghĩ đến bọn mình, tôi thấy giống như bọn thanh niên Nga hồi thế kỷ 19 mà Tourgueniev tả, idéalistes, utopistes mỗi đứa một cách. Đọc Gogol, Dostoïevski xong mới hiểu nổi Tchékov. Tchékov như sự rớt xuống tầm thường hay sự trở về đời sống hằng ngày cũng thế. Tôi chắc là cậu sẽ không thích Tchékov. Chỉ có một điều khác là bọn mình không phải là bọn aristocrates”. Thạch cựa quậy, chân bị đụng mạnh, nhăn mặt kêu khẽ và nhắm mắt đợi cơn đau dịu xuống: “Chắc không? Có chắc mình không phải là một bọn aristo không? Tôi nghĩ có khi mình là bọn aristo mới của cái xã hội đang phân hóa. Cậu có thể được chấp thuận vì cậu là poète, hả, còn như thằng An hay tôi hay thằng Cảnh hả, nous sommes condamnés à mort, condamnés à se détruire... Tôi có ý nghĩ ấy từ lần trước khi tôi đưa một tên đồng đội về nhà thương này, gặp cái bọn cùng lớp với mình nội trú ở đây. Tôi nhìn bọn chúng, vẻ quan trọng của chúng trước đám bệnh nhân và thấy chính mình cũng có thể trở thành như thế. Chỉ một vài năm nữa thôi, nếu không có gì thay đổi, hả, cậu sẽ là poète nổi tiếng của nước này và ở mọi ngành khác đi đến đâu cậu cũng gặp bọn quen với cậu từ những năm còn đi học. Mình không phải là aristo còn là gì nữa? Cậu có thể nguyền rủa chúng nó, chúng nó có tức cũng chỉ cười, car nous sommes des amis, quoi?” Thạch mở mắt, nhếch mép cười hỏi: “Cậu có can đảm gọi tôi bằng phản động không? Không, chắc chắn là không. Chúng mình đồng lõa. Tôi hiểu rõ như thế. Cách đây mấy tháng tôi phải đứng dàn chào đón các phái đoàn chính phủ đến quan sát mặt trận có ông bố thằng An. Ông ta bắt tay tôi, nhìn tôi hồi lâu như cố nhớ, rồi ông ta hỏi: Mobilisé? Oui. Thiếu úy trước ở Hà-nội? Tôi bảo: Không, tôi chưa hề ở Hà nội. Ông ta đã nhìn thấy ở tôi cái dấu hiệu nào đó của sự đồng lõa với ông: cái marque Hà-nội. Cậu thấy không? Một ngày nào cậu cũng sẽ bị chúng nó bảo: À, thằng Đồng ấy à, cùng promo đấy mà, biết nhau quá. Cùng lắm có ghét cậu chúng cũng chỉ bảo: nó “tốc-kê”. Hòa cả làng”. Đồng rung rung lưng ghế, tưởng như bọn An với Cảnh cũng có mặt trong buồng: “Mà tôi đã bảo đời nào tôi trở thành poète được. Jamais”. Người bệnh cùng phòng rên rỉ, Thạch bấm chuông gọi: “Cô y tá săn sóc bọn này khá lắm. Để cậu xem. Hắn bị cùng một lượt với tôi. Đêm nó rên nghe mới sợ”. Cô y tá vào đến bên giường Thạch, trong khi Đồng ra đứng tựa cửa sổ, lên tiếng hỏi: “Thiếu úy cần gì?” Thạch bảo: “Cô xem hộ tên kia. Vừa nghe nó rên”. “Ông thấy trong người thế nào? Ông uống nước không? Tối rồi ông nên ngủ cho khỏe”. Đồng cười thầm, trời nắng dịu trong, quay mình nhìn cô y tá đang cho bệnh nhân uống nước. Ngày vẫn còn dài, Đồng lại ngồi xuống ghế, bóc cam cùng ăn với Thạch. Thạch như quên lửng câu chuyện đã qua, nói chuyện khác: “Những cái chết vô nghĩa hằng ngày trước mắt, cảnh tang tóc khi ruồng trong các làng bỏ ngỏ, những cơn hung bạo của bọn dưới tay phải chấp nhận, đêm tối bơ vơ rình rập và bị rình rập. Cậu không thể tưởng tượng đến được. Cái nguy là tôi bắt đầu quen. Nằm đây nhớ mới chết. Tôi cũng mong như tên Nghiêm nói chấm dứt cho xong xem mình thế nào”. Đồng đưa khăn tay của mình cho Thạch lau miệng bảo: “Cái gì rồi cũng quen. Tôi thì bắt đầu quen với cái đời ngày hai buổi đi làm đều đặn. Không biết bây giờ thất nghiệp thì sẽ ra sao nữa”. Vào khoảng bốn giờ Đồng từ biệt Thạch và nói: “Lúc nào tôi rỗi, tôi sẽ vào hả. Đừng buồn. Cần gì nữa không?” Thạch dặn: “Cậu gửi cho tôi mượn Tchékov”.
Trên đường về, Đồng rẽ vào đường Cổ-ngư, ngồi bên hồ Trúc-bạch nhìn những lưng nhà lô xô men bờ mạn Quan-thánh và trong Ngũ-xã. Tôi đang ở phía sau của thành phố, thành phố mà Thạch cho là một dấu tích tủi hổ phải từ chối. Những giọng cười đùa trong trẻo phía xa, những cánh buồm trắng lửng lơ, những chiếc périssoires ở ngoài khơi hồ Tây... cả buổi chiều mùa hè quang đãng đang nhẹ bay này cũng đều là tội lỗi như những xúc cảm của tôi. Quá khích, nó vẫn là đứa quá khích. Lẩn quất ở ngoài hay ở trong những vang vọng quen của những câu thơ muốn thành hình, nhưng tôi nhất định không viết, và chỉ chốc lát sẽ tan hút vào đáy sâu của bản thể và bản thể sẽ tiêu mòn cùng ngày tháng. Jamais. Đồng bước vào nhà, cảm tưởng như đã đi vắng xa lâu ngày, phải trả lời những câu hỏi săn đón của mẹ. Sau bữa cơm Đồng chỉ dẫn đường đi cho bà và suốt buổi tối bà loay hoay sửa soạn làm giỏ như ngày hôm sau đi lễ đền chùa nơi xa. Chị Đạo bảo: “Để mai con đưa cụ đi luôn thể cho biết. Cho cả cháu nó đi chơi nữa”. Đồng bỏ vào buồng nằm nghỉ, giấc ngủ đến thật mau, bóp siết đằng sau lưng ê ẩm rời rã, Đồng không kịp dậy mắc màn.
Mùa hè đã hết. Những trận mưa rào cuối mùa không còn. Đêm tối vắng bặt tiếng ếch nhái trong đầm ao, bắt đầu nghe gió thổi nhẹ ngoài những bãi trống lùa vào nhà lay động màn ngủ và ngọn đèn dầu soi bài học cho Hải. Đã gần tuần lễ không xuống Kim-mā, Liêm như quên hẳn vợ Hỗ và cũng không thấy chị lên tìm ở nhà in. Liêm ngại trông thấy cái bụng đã trương phềnh, dáng điệu uể oải mệt nhọc của người đàn bà. Trong giấc ngủ Liêm nghe chập chờn tiếng đọc thì thầm hoặc tiếng ho húng hắng của Hải cùng tiếng trở mình thở dài của bà mẹ. Thường khi bà cụ hỏi: Đi ngủ chưa con, và Hải vừa đập muỗi dưới chân vừa trả lời: Chưa mười hai giờ mà mẹ. Buổi sáng ngày Hải đi thi, hai mẹ con dậy từ tờ mờ sáng. Bà đưa tiền cho Hải, nói với Liêm: “Hôm nay tôi khao hai cậu ăn phở. Anh đi ăn phở cùng với em cho vui”. Liêm đèo Hải trên xe đạp của Hải ra phố lúc trời còn nhọ nhem. Hải nói: “Anh đèo tôi đi một vòng chơi cho thoáng lấy tinh thần, chốc nữa vào làm bài”. Và Liêm đạp xe ra đường, bờ sông. Dải đê cao cỏ tối chạy dài như một bức tường. Đèn đường còn thắp nhưng ánh sáng tỏa xuống mặt nhựa đang tan. Gió từ sông thổi vào gợn lạnh. Đến cột Đồng hồ, Liêm vòng lại xuống bờ Hồ. Hải gõ tay xuống ghi-đông làm nhịp hát: kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt kiểm duyệt. Liêm rẽ vào đường Trường-thi, nhìn vòm cây xanh mát dài đến cuối tầm mắt. Hải chun miệng thổi sáo vang lừng. Những bông hoa ngày mai, đón tương lai vào tay. Những xuân đời mỉm cười ca hát lên... Ngưng hát Hải quay ngước lên nhìn mặt Liêm nói: “Tôi đỗ kỳ này, tôi sẽ phải tìm việc khác chiếm ít thì giờ hơn để học tiếp. Tại sao anh không cố học thêm?” Liêm bỏ một tay sờ hàm râu lởm chởm một ngày không cạo: “Tôi già rồi. Tôi bỏ học hằng chục năm nay. Chỉ tại cô Ái Liên. Hôm nọ thấy ảnh in trên báo cô ấy bây giờ già cú đế. Cậu còn trẻ, nhiều hy vọng lắm”. Hải gập người xuống, khuỳnh hai khuỷu tay chống lên ghi-đông nhìn thẳng trước mặt: “Mai kia xã hội mới, cách mạng rồi, anh sẽ phải học. Được học là sướng nhất. Đi học không còn là đặc quyền của bọn nhà giàu”. Liêm bảo: “Cậu trông tẩm ngẩm thế mà ghê hả”. Liêm dừng xe trước cửa hàng phở gần chợ hàng Da, Hải khóa xe cẩn thận trước khi vào. Trong hàng phở, Hải không nói thêm gì nữa. Liêm vừa ăn vừa ngắm Hải cũng vui lây vẻ hy vọng cương quyết. Liêm nghĩ: mình đã dại bỏ về Bắc, chỉ cần một lòng tin và hoạt động với những người thân sẽ có đủ mọi thứ. Liêm không hiểu mình đang buồn hay vui. Ở hàng phở ra, Liêm đèo Hải trở lại trường thi. Vẫn sớm, bọn học sinh còn tụ tập trên vỉa hè trước cổng trường. Liêm đứng cùng với Hải dưới gốc cây sát vệ đường, Hải nhìn những đứa học trò khác qua lại có bạn bè bằng đôi mắt xa lạ. Hải nói: “Anh thấy không. Tôi đi học như tên ăn trộm lẻn được vào nhà”. Liêm cười xòa: “Thế mới hay chứ”. Khi tiếng trống nổi trong sân trường, Hải dục Liêm về nhà in cho kịp và dặn: “Hôm nào thi xong tôi sẽ nói chuyện với anh lâu hơn”. Liêm đi bộ về nhà in trong buổi sáng mùa thu mới chớm với nhiều cảm xúc mới lạ dễ chịu. Tâm thần thoải mái, những nặng nhọc của ngày hè đã tan. Hà-nội khoác một bộ mặt quyến rũ hơn trong màn trời và cảnh phố. Trong khi làm việc không còn phải cởi trần, ấm nước chè tươi khi nguội lạnh có mùi vị đặc biệt, và những hơi thuốc lá đầu tiên trong ngày thơm dịu. Buổi trưa ăn cơm nhưng giấc ngủ ngắn ngủi âm u mệt mỏi như trời đất. Tối phải đắp chăn đơn, Hải trong mấy ngày thi cũng ngủ sớm hơn thường lệ, bọn trẻ cũng vẫn reo cười khắp xóm nhưng không còn thức khuya như những đêm mùa hạ. Hải đỗ, bà mẹ mừng chảy nước mắt. Anh em trong nhà in khao Hải một chầu Siêu-Nhiên và xi-nê. Mọi người uống thật say và khi kéo nhau ra khỏi hiệu mì, ông già San chập choạng ôm lấy Hải suýt ngã xuống cống bảo: “Đâu con rể lại đây với bố”. Cả bọn được mẻ cười thỏa thích khi ông San đẩy lưng bắt Hải phải đi vào ngõ hàng Giầy. Cái ngõ hẻm chật tối bẩn thỉu nhiều lính Tây và những ả mặt phấn, Hải kêu trời nhưng cả bọn phụ họa thúc dục “bố vợ cho con đi chơi cho biết mùi đời” khiến ông San không buông tha Hải. Chỉ khi một tên Tây đen đang đứng giữa ngõ chắn lối nắm lấy Hải, ông San sì sà sì số đối đáp bị nó xô ngã, và dẩy ép Hải vào trong tường, mọi người mới tỉnh rượu. Tuất nóng mắt xông vào đánh thằng Tây đen, cả bọn vội ùa theo trợ lực. Cả ngõ náo loạn: bọn lính trong các nhà chứa đổ ra kéo theo bọn gái điếm, bọn con gái trở mặt quay đánh lính Tây thêm mấy bác xích-lô bỏ xe chạy vào đánh hôi. Liêm bị một chiếc đòn gánh nước phang vào lưng tỉnh hẳn, bỏ chạy ra khỏi ngõ, mua vé chui vào trong rạp tuồng ở phố hàng Bạc. Giờ đồng hồ sau, Liêm bỏ ra khỏi không khí nồng nực hơi người, phố xa đã thưa vắng hồ Gươm đang thiếp ngủ trong heo may. Hải đã về đến nhà, mắc màn ngủ. Bà mẹ Hải hỏi: “Các anh làm gì nó thế?” Liêm đáp: “Không có gì”. Sáng đến nhà in vắng mặt ông San và Long, Tuất sưng vếu một bên mắt, Ngọc bị một vết trầy bầm máu ở cánh tay phải, Hải bầm một bên gò má. Chỉ có Liêm không mang dấu vết gì nhưng đau ê ở bả vai. Một lát cô con gái ông San đến báo cho Ngọc biết bố mệt cảm không đi làm được. Tuất cười khúc khích trong góc nói khẽ với Hải: “Chỉ tại cô ấy thôi”. Hải nghiêm mặt lừ mắt. Mãi tới mười một giờ Long mới đến, hắn bị giữ ở quận cảnh sát “suýt nữa thì bị chở xuống trại Ngọc-hà, tôi phải cãi mãi là chưa đến tuổi”. Long đang nói chuyện huyên thuyên, Liêm nhìn ra cổng nhác thấy bóng vợ Hỗ. Anh thấy cò gọi: Anh Liêm ơi. Liêm còn cầm theo bản vỗ mo-rát ra đưa cho anh này, nói vài câu bâng quơ, xong mới đi ra cổng. Liêm giật mình khi nhận ra Hỗ đứng lấp sau cột gạch ngoài vỉa hè. Trông anh già và gầy nhom, mắt lờ đờ ngơ ngác. Hỗ nói: “Tôi mới được ra ba bốn hôm nay. Đợi không thấy chú xuống chơi. Nhân tiện đi qua ghé thăm, cám ơn chú. Nếu không nhờ chú giúp đỡ trong thời gian tôi bị bắt, vợ tôi lại có mang, thì chắc là…” Hỗ lúng túng không nói tiếp, mắt anh thành thực đáng thương. Liêm ngượng ngập đáp: “Có gì đâu anh. Anh cũng đã giúp tôi nhiều lắm”. Hỗ bảo: “Chiều chú về nhà ăn cơm với vợ chồng chúng tôi”. Liêm chỉ biết nói theo: “Vâng”. Trước khi quay đi, vợ Hỗ ân cần: “Chú xuống sớm đừng để vợ chồng tôi đợi”. Trong mắt người đàn bà không tiết lộ tình ý gì. Liêm trở lại bàn đứng làm việc ngơ ngác như người mất hồn. Buổi chiều, Liêm mượn xe đạp Hải nói thác phải đi ăn giỗ tối về cho tiện. Sau mấy tháng bị giam Hỗ đổi hẳn tính trông thấy, thâm trầm kín đáo hơn xưa. Anh nói anh chưa biết làm gì, ít nhất cũng phải nằm dưỡng tinh thần nửa tháng mới lo kiếm việc được. Anh cầm bát đũa ăn cơm, không còn đòi dùng dao phống-sét như ở dưới nhà thương, không thấy chê bai cách ăn ở thiếu vệ sinh của người Việt-nam. Vợ Hỗ chốc chốc liếc Liêm mỉm cười âu yếm một cách tự nhiên như người trong gia đình cũng săn sóc một người thân. Liêm hoang mang không biết nói năng cách nào, chỉ ngồi im nghe, thỉnh thoảng nghe giọng cười lạc lõng của mình nổi lên. Lúc Liêm ra về, trong ngõ xóm đêm như đã khuya, dắt xe đẩy trong bóng tối rậm rịt cây lá. Lên đến trên tường Liêm ngơ ngác bên đường tàu điện trống nhìn những căn nhà lụp sụp tối om ở ngã ba Kim-mã, hàng điện thẳng chấp chới dẫn vào trong phố. Gió thổi từ ô vào vi vút, trên cao phía sau lưng những đám cây cao trên đồi Giảng-võ rào rào. Bây giờ tôi phải làm gì? Liêm tự hỏi. Tôi phải làm gì?
