favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Phần thứ ba - Chương IV (III)

III

 

Vào đến phố, Đồng mệt nhoài, thở không thấy hơi, mồ hôi ướt đầm trong mình giá lạnh. Gió bưng kín đầu mặt choáng váng, quang cảnh chập chờn mờ nhạt trong những bóng sắc trôi nổi, thành phố như không còn thực. Xe đạp vẫn lăn bánh, ghìm chặt tay lái, không dừng lại được. Tôi sắp ngã, chết, đập đầu xuống mặt đường... Tôi sắp ngã, chết, óc vung vãi. Đồng nhắm chặt mắt trong một giây, cắn mạnh vào môi dưới; mở mắt kịp lượn tránh cục đá ném bên vệ đường. Xe lảo đảo cọ bàn đạp vào vỉa hè, lạng ra giữa đường. Phố đìu hiu, không xe cộ, im khuất và Đồng hồi lại dần trong cơn lạnh toát khắp thân. Chuyến xe điện chạy ngược lên muốn đẩy lùi xe về phía sau. Hàng cây xanh um mở ở ngã tư cuối phố một vùng ánh sáng xa xôi. Cảm giác vĩnh viễn—con đường đi không hết, không đến chỗ nào, dằng dặc và sâu hút—trôi nổi và chẳng chuyển dịch. Đồng bỗng thấy mình đang khóc, nước mắt chảy ròng và vội nở một nụ cười với mình. Actes gratuits, phải không? Ngón tay cái tự động bóp chuông xe tiếng kêu lạch cạch, lạch cạch, lạch cạch hoen rỉ. Mặt hồ nước phẳng, cây xanh bò lổm ngổm lên cao, con đường ngoại ô không hoạt động, đường sắt đen nhánh, ngõ hẹp quanh co men theo bờ tường rêu. Đồng đứng tựa lưng khá lâu vào trong góc tường nhờn ướt trước cánh cửa gỗ nhà đóng. Có phải không? Ở trong ấy, những ngày tháng. Và cái chết, tôi sắp chết, lần này thì quỵ hẳn.

Tiếng trò chuyện vui vẻ, bát đũa khua quanh mâm cơm trên phản, vợ chồng anh Thái và những đứa con. Không kịp trả lời những câu chào hỏi ríu rít. Đồng đi thẳng vào giường, rơi mình xuống cơn sốt lạnh lẩy bẩy mê man chờ sẵn. Cơn sốt chụp kín mít, bốc ra khỏi sự nhịp nhàng của ngày tháng, ném vào giữa vùng tối ám hỗn loạn ào ạt. Lúc tỉnh, lúc mê, Đồng không nhớ được gì ngoài một ý nghĩ vắng vẻ hiu hắt không vang động bao nhiêu: tôi sắp chết. Sắp biết hình dung của cái chết với đôi mắt bơ vơ vẫn nhìn mình. Đôi mắt đen láy như trời đêm cuối năm mướt lạnh, không chớp và mở lớn. Et la mort aura tes yeux... Hồng-hà ơi, trôi cát đến chân làng xa... Cuối sông... Vẫn những điệu hát, điệu hát đuổi nhau trong một giấc mơ đã rách bươm trong những cơn ho xốc người, những giòng nước mắt vô tình khô như muối trên gò má. Điệu hát của vĩnh viễn dăng mở và quấn quýt chôn vùi, vang trong một vòm rộng thênh thang kéo dài không cùng. Không cùng nên trở thành đường hầm sáng quắc ầm ĩ những tiếng dội liên miên không ngớt, Đồng đứng ở trong đường hầm ấy choáng váng ngơ ngác nghe lẫn tiếng la hốt hoảng không phải phát ra từ miệng mình nhưng là của mình. J’ai un projet: devenir fou... Devenir fou. Faut pas gueuler comme ça, những khúc hát cũng là bóng dáng của cái chết bay nhởn, không quá khứ, không hiện tại, không tương lai, đó là vĩnh viễn. Vĩnh viễn buồn nhạt như mây mù trên hồ buổi mai, buổi chiều, vĩnh viễn như nhịp sống vẫn đập quanh nín thinh tội lỗi, vĩnh viễn như tình yêu không bao giờ thỏa. Cái miệng rộng ngoác của Thạch, Thạch, Thạch trên một thân thể trần truồng dựa vào hai chiếc nạng đang hát—Thạch không bao giờ hát, không biết hát—một bài ca tuyệt vọng ồ ồ. Một bài hát trơ trẽn, xúc động rẻ mạt. Mắt nhắm tít lại say sưa, Thạch, Thạch, a quoi bon? C’est moche. Thạch nói: Mày sắp chết rồi và tao hát đưa mày. Những con vi trùng chạy buồn buồn trong ngực, đang tìm lối bò ra miệng. Và Nga quỳ hôn sâu chuỗi tượng trên đầu giường. Anh biết không, em đẹp như một tội lỗi? Anh có yêu em như một tội lỗi không? Không biết, không thể nào biết được, Nga ạ. Chính nó, nó cũng đau ngực mà cậu không hay, nó cũng bệnh hoạn. Thật không? Sao anh không nghĩ đến điều ấy nhỉ? Rồi niềm im lặng rã rượi của những ngày đông tàn dần, ngọn lửa âm ỉ thiêu tàn những lượng máu dịu dàng, dưới lớp chăn bông nghe chân tay quều quào khô héo. Gương mặt già cả của mẹ nghiêng trong bóng mờ tối, di động ngập ngừng, lá rụng chạy ngoài vườn từng chập. Đồng dương mở hết mắt, bao nhiêu ngày bao nhiêu đêm đã qua, đời sống chia tay biền biệt không còn quay mặt trở lại. Tôi một mình, tê liệt ngóng đợi chuyến đi của riêng tôi. Đồng vẫn mỉm cười trong trí với mình.

— Anh Thái bảo đưa cậu xuống nhà thương. Cậu nghĩ thế nào?

Đồng lắc đầu phều phào không rõ tiếng. Còn gì nữa đâu để nói nhưng nước mắt vẫn ứa. Tiếng nói vô ích, thừa thãi đã rút xuống tận dưới cuống họng khò khè nín lặng, nhưng sự nín lặng tràn lan như một nỗi kinh hoàng bóp giật các bắp thịt mỏi rời. Lần này không phải là đùa rỡn, đang chết dần từng chút một đây.

— Hôm qua cô Cúc xuống thăm cậu. Cái cô làm cùng chỗ với cậu ấy.

Cúc hả? Hôm qua là bao giờ, những chuyện thật xa xôi. Cúc, Cúc còn trở lại lần nữa không? Một gương mặt nữa để nhìn, để thấy. Một dấu hiệu nào đó giữa muôn vàn dấu hiệu hoảng hốt. Đồng nhắm mắt lại nhưng không tưởng tượng được gì. Một luồng hơi ấm tỏa từ ngực nhẹ nhẹ bay lên đầu chỉ làm tăng cơn gió lạnh cùng tột. Đồng khóc gào lên nghe rõ như tiếng chó tru hãi hùng trong xóm. Giữa hồ lớn mênh mông, không còn đủ sức vào đến bờ, cố nhắm hướng cây gạo trụi lá Đồng tự nhủ tại sao không trở lại gốc cây sung sau đình nơi vẫn ngồi xem sách. Đồng thụt sâu, ngoi lên, sặc sụa nghẹt thở, thụt mãi xuống đáy dẫm chân trên bùn lầy nhầy. Sắp chết, không ai đến vớt được. Màu nước xanh rêu thật đẹp. Anh Thái cao giọng: Tôi không ngờ cậu hỏng đến thế. Cậu đã làm được gì cho ai? Để mà nói... Cậu vào nhà thương điên ở là vừa... Không, tôi không... Thạch đang cúi xuống cười, còn Đồng nằm ngửa trên cỏ, đầu ê ẩm gối trên một rễ cây sù sì. Tôi vừa ngất đi chăng? Cảnh vật im sững như trong một bức ảnh. Và tôi đang gắng cười, hơi nước lạnh toát như đá trườm. Từ một giòng sông thao thiết chảy dưới một bầu trời đỏ ối và đen thẫm. Trên con đường đất không ánh đèn lửa nhìn những đốm sáng dăng lơ lửng thật cao dài. Cầu Long Biên. Những đà sắt nặng xa tít không thấy chắc là đầm hơi sương. Chạy thật mau, chạy một lúc như thoát bay bổng rồi rớt xuống bò lết và cây cầu vụt biến mất. Chỉ còn cảm giác đau đớn râm ran, giữa một phố tối mịt, hai dãy nhà như phông vẽ. Người nữ tu làm dấu thánh giá, cười rũ rượi. Nga, Nga, em đau ngực phải không? Ai bảo anh thế? Anh bảo, anh sẽ hôn em không sợ gì cả. Em vào nhà tu rồi, đừng nghịch. Để anh nhìn tóc em. Em thấy không? Anh có thay đổi không? Hà-nội có khác trước không? Em nhớ Hà-nội và em nhớ anh. Em đã bỏ trốn. Chốc nữa em lại phải xưng tội, phải xám hối. Tội nghiệp Nga quá nhỉ? Nga không còn khăn, tóc chảy dài, tóc đen trên chiếc áo đen dài lòa xòa. Em bỏ nốt tấm áo kia ra, anh không nhìn, anh nhắm mắt mà. Đẹp bằng Phương không? Phương đây. Một bức tượng đá khắc nổi im lìm. Cánh tay giơ lên không cử động. Đôi mắt của bức tượng động đậy hé mở. Em chết rồi, em về đón anh đây. Đừng khóc, đừng khóc chứ. Em chết thật rồi ư? Chết nó như thế nào? Nga thốt cười rũ, gập đôi người, chết như anh mơ thấy chết.

— Anh Đồng.

Cúc đứng ở bên đầu giường. Mở mắt nhưng không thể đáp. Không biết là lúc nào mà bặt không tiếng động. Ánh mờ tối bao quanh không đổi thay. Đồng muốn nói: Cám ơn cô và cố mỉm cười. Cúc không nhìn thấy, đứng đó, khắc dần vào bóng tối thành một hình nổi. Không rõ Cúc biến mất lúc nào, chỗ đứng vẫn thấy loáng thoáng những đường tan biến nửa vời. Có phải Cúc đã yêu tôi? Hay tôi mê gặp Cúc? Cúc đến làm gì?

— Anh đỡ chưa?

Đồng ra dấu muốn mở cửa sổ. Tiếng chân dẫm nhẹ đi vòng lên trên đầu, cánh tay nhoai lơ lửng ấn vào cánh cửa, mùi hương ấm. Cửa không mở. Cúc trở lại nhấc chiếc ghế đẩu ngồi xuống cách giường một khoảng.

— Ở ngoài lạnh lắm.

Tôi muốn được nhìn mặt Cúc. Trong nhà không còn ai? Không thể nhìn quá khỏi cửa buồng.

— Hôm nay anh thấy trong người thế nào? Khá hơn chứ. Hôm trước tôi đến anh mê đâu biết gì phải không? Tết đến nơi rồi. Anh tĩnh dưỡng cho khỏe mà ăn Tết. Anh nói được chưa?

Đồng mấp máy môi, đắn đo, sợ hãi. Tấm chăn bông dầy ấn nặng trên ngực, bên mạng sườn cấn giỏ nước nóng được ủ thêm. Đầu óc choáng váng, da mặt lạnh săn, gió nổi ở ngoài xa dữ dội và mơ hồ. Đồng nhắm mắt, hít hơi mạnh cố phát âm:

— Cúc.

Đồng không rõ mình có nói được thành tiếng không, trong tai lùng bùng như nước vỗ, đưa lưỡi liếm môi khô nẻ, nuốt miếng đờm khò khè vướng víu.

— Cúc.

Đồng thở mệt nhọc như vừa leo đến đầu dốc, đầu gối yếu khuỵu ngã lăn bất tỉnh. Dường như Cúc dạ. Dạ. Đồng tỉnh trở lại, nghe đâu đây tiếng chuyện trò của mẹ và Cúc. Tay chân bải hoải rũ liệt, nhưng cái đầu bập bềnh trôi bay như một quả bóng nhẹ. Muốn được nhìn mặt Cúc, nhìn cây nhãn ở ngoài cửa sổ, mặt nước hồ sau đình. Đồng rớt nghẹo đầu khỏi gối, bị dốc ngược vào cơn buồn nôn chóng mặt.

Khi Đồng có thể ngồi được lên, dựa vào thành giường, húp bát cháo nóng với muối và đậu om, Đồng nghe vẳng tiếng guốc của Cúc bên ngoài, tiếng Cúc trò chuyện với u già thân thiết dưới sân và nhìn thấy mắt mẹ tươi cười mừng rỡ. Bà không nói gì cả, chăm chú theo rõi cử động của Đồng, bưng bát cháo bỏ dở đi ra ngoài. Đồng ngả người xuống giường, thả trí bông lông trong bầu không khí se lạnh dịu dàng nhận được như dấu hiệu của đời sống vẫn miệt mài xung quanh. Một chốc Đồng sực nhìn thấy Cúc đang đứng trong buồng gần cửa, cũng vẫn còn mờ ảo như một chiếc bóng được tạc vào tường và Đồng hồi hộp, mồ hôi toát ướt hai lòng bàn tay giấu trong chăn. Đồng nghiêng hẳn mặt về phía Cúc, hơi ứ dồn trong miệng không dám mở. Có thể tiếng nói chưa phát được, Cúc vẫn đứng im, nàng trông chờ gì nơi mình? Một mối tình bệnh hoạn. Sự tỉnh táo sáng suốt còn chông chênh như màu sáng mờ tỏ trên nét mặt cách xa của Cúc và những bước loáng thoáng dưới nhà ngang.

— Anh có thích mở cửa sổ không?

— Thích.

Tiếng còn yếu nhưng lan động như một niềm vui đột ngột quá mạnh rồi tắt dần như sự luyến tiếc âm thầm chua chát. Cúc rời chỗ, vòng lên đầu giường, nhoài người mở cửa. Đồng quay đầu, ngửa cổ, nhìn thấy khuôn mặt Cúc treo ngang trên cao với nửa thân nghiêng gẫy tỏa xuống hơi ấm của tóc và áo như một luồng gió mạnh thốc làm nghẹn thở. Cánh cửa bị đẩy mạnh xô đập vào tường, ánh sáng bật lên nhức nhối như những tia nhọn cùng với nụ cười ngượng nghịu của Cúc khiến Đồng phải nhắm mắt. Đồng đợi cho Cúc rời chỗ, không nghe rõ Cúc tiến về hướng nào, đứng ở đâu, Đồng thấy mình đang quay trên một tấm thảm bay mất phương hướng một hồi lâu. Đồng vẫn không chịu mở mắt, đợi tâm thần bình thản đặt trả lại mình đúng vị trí nhận thức được rõ ràng. Đột nhiên nghe như một tiếng cười khẽ nhưng khi mở mắt Đồng chỉ thấy Cúc nghiêm trang đứng nhìn trong một vùng ánh sáng không rực rỡ như Đồng tưởng. Áo dài xám như màn trời, chiếc áo len đen khoác ngoài, gương mặt bầu bĩnh hơi trắng quá. Và Đồng mỉm cười đón trước nụ cười của Cúc:

— Tôi tưởng tôi chết.

Cúc kéo ghế ngồi xuống, kéo tà áo phủ lên đùi, quay nhìn nhà ngoài trước khi nhìn xuống Đồng. Trong mắt Cúc, Đồng đọc rõ những nét thảm hại của khuôn mặt mình, cảm thấy ngứa ngáy khó chịu vì hàm râu tua tủa. “Sợ không? Hôm nay thứ mấy nhỉ?” Cúc lắc đầu, cắn lấy môi trên của mình như đang đắn đo về một ý nghĩ. “Cám ơn Cúc”. Cúc lại lắc đầu, cúi nhìn vạt áo phủ dưới chân. Đồng kéo chăn phủ lên ngang miệng, quay ngó ra cửa sổ, những đám lá xanh nặng xóa mờ đi những cảm xúc.

— Anh thấy lạnh không? Đóng cửa lại nhé.

Đồng nằm chờ Cúc rất lâu, theo bước chân nàng ra khỏi buồng, xuống dưới sân gạch, ra vườn, mất dấu một quãng, rồi trông thấy mái tóc nhô trên mép khung cửa trước khi hai cánh được khép lại từ bên ngoài. Dường như Cúc còn đứng ngoài vườn một lúc mới rời bước, sự trông ngóng loanh quanh trong bóng mờ làm mắt Đồng nặng díu. Đồng chợp ngủ quên và lại nghe tiếng guốc Cúc dón dén vào buồng. Cúc về đây, Đồng thở những hơi thật dài yên tĩnh dễ chịu. Tuần lễ sau, Đồng rời được khỏi giường, bước những bước bấp bênh ra được đến nhà ngoài nằm trên võng, nhìn mẹ và u già dẫn vài người khách mua hoa Tết đi qua sân ra vườn rồi lại tiễn chân ra cổng. Nhìn lên bàn thờ đỉnh đồng lư hương chùi sáng; mấy tấm vải đều thay mới Đồng biết Tết sắp đến trong một hai ngày nữa. Đứa con anh Đạo chắc đã được gửi xuống anh Thái, sợ bị truyền nhiễm. Một chốc mẹ Đồng lên bảo: “Hôm nay hai mươi tám Tết rồi. Chắc là vợ anh Đạo ăn Tết ở ngoài với chồng không vào đâu. Tôi nhờ cô Cúc xin cho cậu thôi việc rồi. Có lẽ hôm nay cô ấy cũng xuống chơi đấy”. Đồng đùa buồn bã: “Con dâu tương lai của cụ đấy. Cụ thấy thế nào? Cụ có thích không?” Bà nghiêm giọng nhỏ to: “Tôi thích thế nào được. Cần nhất là cậu phải làm thế nào cho khỏi hẳn bệnh mới mong người ta thương chứ”. Cúc xuống bà mừng tíu tít khoe với Cúc về những cành hoa vừa bán được; Cúc không biết Đồng nằm trên võng, đứng ngoài sân quay lưng vào. Đồng nghĩ Cúc đang chứa chan hy vọng, mối tình nào cũng điên như mối tình nào nên cũng buồn thảm như nhau. Cúc bỗng quay mặt lại thấy Đồng và hỏi to: “Anh khỏe thật rồi à?” Mẹ Đồng bảo: “Cô lên nhà chơi” và bà bỏ ra vườn. Cúc bước lên thềm, đi thẳng vào chỗ Đồng: “Trông anh đã đỡ nhiều”. Đồng không còn thấy hồi hộp, người nhẹ nhõm, nhưng vẫn nằm dài trên võng hơi đu đưa, nhìn Cúc không chớp mắt. Có lẽ Cúc chỉ là một người bạn tốt? Một người bạn tốt còn quý hơn người yêu lúc này, Đồng bảo: “Cúc ngồi chơi”. Cúc giữ được vẻ tự nhiên như ở nơi làm việc, cười vặn: “Anh đổi lối xưng hô lúc nào thế?” Đồng cười xòa lấp liếm, định nói: Trong giấc mơ, tôi còn gọi bằng em. Buổi sáng trôi qua êm ả không một vẻ gì đổi khác nếu Đồng không thỉnh thoảng trông thấy bàn tay gầy guộc nổi gân xanh của mình và cảm giác láp nháp như cát mỗi lần sờ lên má. Cúc kể những chuyện lặt vặt ở cửa hiệu những ngày Đồng vắng mặt và nói có lẽ ra giêng nàng cũng xin nghỉ việc. Đồng hỏi Cúc định làm gì, lấy chồng chăng. Cúc bảo nàng có ý định học nghề hoặc thợ uốn tóc hoặc thợ may, hoặc y tá hay cô đỡ... chưa biết nhưng nàng muốn có nghề nghiệp. Cúc ra về vui vẻ, hẹn mùng hai xuống chúc Tết mẹ Đồng, Đồng tự hỏi phải chăng những lần Cúc bước vào buồng Đồng đã chỉ nhìn thấy những mơ tưởng của mình phóng lên những cử động của Cúc. Đời sống của mình cũng rẫy đầy những mơ tưởng như vậy. Đồng ngơ ngác nhưng không buồn, sự trống rỗng vẫn ôm đầy ngực hút hết mọi ảnh tượng và luôn cả mình ở trong ấy. Cái chết có nhiều đôi mắt khác nhau, của bè bạn, của người yêu, của người thân... Và Đồng hy vọng Cúc trở lại, ngồi ở ghế với khoảng cách đo lường và chuyện trò hay im lặng cũng được.

Ngày hôm sau, trời kín gió như một chiếc bầu đặc không một âm vang nào khác hơn tiếng chuyển động vù vù quanh quẩn. Đồng vẫn nằm trên võng, quấn chăn quanh mình, ngây ngất trong một giấc ngủ lúc nào cũng có thể tới và lúc nào cũng có thể mất. Đồng nghe tiếng ai gọi ở ngoài cổng, giật mình hốt hoảng rồi lại mơ màng chìm đắm, tiếng gọi bị gió cuốn bay không vượt xa được; Đồng nghe gọi tên mình: Đồng, Đồng ơi nhưng không động đậy. Ai? Mẹ Đồng dẫn Thạch vào lên đến trên thềm nhà Đồng mới biết. Thạch bảo: “Tôi về ăn Tết. Thế nào ốm đau ra sao?”

— Tôi tưởng chết.

Thạch bước khập khễnh, dáng đi trở nên hấp tấp hơn, đứng bên cạnh võng: “Thật không?” Đồng không muốn tỏ ra yếu đuối trước mặt bạn nhưng tự dưng cũng thấy nước mắt cồm cộm trong mi. Thạch xoay mình, ném mẩu thuốc ra sân: “Vẫn bệnh cũ?” tiến đến đặt cái sắc tay lên phản, rồi trở lại: “Tết buồn nhỉ? Tôi đi chơi một mình à. Điệu này đến mùng hai lại phải đi sớm mất thôi”. Thạch chỉ ở nhà buổi sáng hôm ấy, sau bữa cơm Thạch xuống phố biến mặt. Tối có lẽ Thạch ở lại với một người đàn bà nào, có lẽ trong cái nhà chứa đã có lần Thạch dẫn Đồng đến, Đồng không hiểu Thạch nói những chuyện gì với những người đàn bà không quen. Chiều ba mươi Tết, Thạch mới lò dò trở về trong khi Đồng còn ngủ. Thấy Đồng từ trong buồng men tường ra, Thạch rời võng đứng lên: “Cậu gầy thật. Trông như ông già sáu mươi”. Đồng nằm xuống võng, ngắm Thạch đi qua đi lại trong gian nhà đã sạch bóng, chiếc chân phải hơi lết trên gạch, mặt càng ngày càng khắc sâu những nét đen đủi lầm lì. Thạch hỏi: “Vợ chồng anh Thái không về ăn Tết?” Đồng bảo chắc sáng mai, anh Thái sợ ngừa cho sức khỏe của mấy đứa bé. “Nhiều lúc tôi nghĩ xin vào nằm quách trong nhà thương là yên chuyện. Đỡ phiền người khác. Chỉ sợ lại không chết”. Thạch không nói gì cả. Buổi tối, Thạch và Đồng ngồi ở nhà trên, mẹ và u già loay hoay dọn dẹp nhà dưới và sửa soạn mâm lễ giao thừa. Đồng tỉnh táo và căng thẳng lạ thường, tưởng chừng không thể kéo dài được lâu chỉ chốc lát có thể tắt thở bất ngờ. Thạch bỗng nói: “Sáng đi chơi buồn quá tôi ghé thăm Nghiêm. Gặp lúc hắn đang in báo bí mật. Chẳng kịp nói chuyện gì cả”. Rồi Thạch nhắc đến hôm về suýt bị mìn trên đường số Năm. “Chiến tranh sắp kết liễu mình không biết sẽ đi về đâu nữa. Có khi chính tôi chết trước cậu là khác. Lính bắt đầu đào ngũ nhiều, rồi đến lượt sĩ quan. Chẳng biết đám như Nghiêm còn hy vọng gì không?” Gân máu bên thái dương Đồng nhảy giựt hai ba cái một. Mùi hương trầm trên bàn thờ làm nôn nao khó chịu. Trong không khí vắng lặng rì rào trên xa, mắt Đồng sụp xuống, quên hẳn Thạch, một phía khác vọng lại nỗi bát ngát của mặt hồ lạnh. Thạch ngồi trên ngưỡng cửa, quay mặt ra hàng hiên trông xuống sân hút thuốc lá, Đồng chỉ nhìn thấy tấm lưng phẳng và những đốm tàn thuốc gió thổi bay lả tả rồi ngủ quên trên võng. Lúc Đồng thức dậy, tấm chăn đã được phủ ngang ngực, chân đi bí-tất vẫn buốt giá, ngoài sân bàn lễ giao thừa đèn nến lung lay. Cảm giác hãi hùng không ngờ như khi bị người lạ mặt trong khu nhà điên nắm cánh tay, ghé sát vào mặt. Tấm phản của mẹ Đồng vẫn nằm đã nhường cho Thạch ngủ, bà sẽ ngủ với u già dưới nhà ngang trên một tấm phản khác. Nếu mình chết, Thạch sẽ hết chỗ tá túc khi về Hà-nội. Lúc ấy Hà-nội còn không? Thành phố sẽ thay đổi như thế nào? Đồng rùng mình tưởng đến lúc cái ý thức vẫn hằng ngày ôm ấp thân quen vụt tắt vào trong một cuộc hôn mê vĩnh viễn không khi nào còn ngoi lên được nữa. Cái ý thức không biết khởi sáng ở đâu, bao giờ và không thể biết tàn lụi lúc nào, chỗ nào; chỉ biết mỗi phút giây vẫn vùng vẫy muốn thoát ngoài những trói buộc một cách mãnh liệt. Đồng chập choạng lần vào giường một mình không tin mình có thể đi đến nơi, nghe tiếng Thạch hỏi theo ở trong màn. Đồng đi ngủ đấy à? Liệu có ngã được không? Đồng muốn đáp nhưng sợ hụt hơi và vội tựa tay vào tường bên cửa buồng.

Những ngày Tết qua mau trong sự tẻ nhạt lạc lõng. Sáng mồng một bà mẹ Hải đi lễ chùa, Liêm vẫn không mở nổi mắt, cơn say đè nặng lấy đầu óc. Mãi đến hơn mười giờ, Liêm mới rửa được mặt mũi, la cà ngoài sân xem những đám bạc của bọn trẻ con trong xóm. Người lớn đánh bạc trong nhà, những canh bạc thâu đêm suốt sáng với những người rời chiếu bạc vội vàng đạp xe sang tận Gia-lâm làm giờ phụ. Bà mẹ Hải vào một ngôi chùa quá Hà-đông mãi tận chiều mới về, bà bóc sẵn bánh chưng và nồi thịt kho để trong trạn cho Liêm. Ăn xong Liêm đóng cửa và lại ngủ. Tối đến bà mẹ Hải bảo: “Thế là hết Tết” và hỏi: “Cậu không đi đâu à?” Bà ngồi chuyện trò một lúc và đi ngủ sớm, nhắc Liêm sao không tìm cách hỏi thăm tin tức của mẹ và em, bà biết vẫn có nhiều người ra vào buôn bán giữa hai vùng, thuê tiễn người ta có thể bắt liên lạc tìm hộ người nhà, Liêm cười: “Thật cháu có biết hiện giờ gia đình cháu ở đâu mà nhờ”. Bà trách: “Các cậu con trai thật tệ”. Sáng mùng hai, Liêm đến ông San, nhà ông khóa cửa đi vắng. Liêm đành trở vào phố, không mục đích, mấy lần định xuống vợ chồng Hỗ. Hà-nội ngày Tết nửa quen nửa lạ, quang cảnh phố phường vẫn như những ấn tượng đã mờ xa trong trí nhớ xuất hiện rõ rệt hơn. Trời rét ngọt thấm thía, hè phố rác rưởi không quét dọn. Những phố hẹp quanh co nhà thấp cũ kỹ toát ra màu sắc và hương vị cổ kính lâu đời. Gần trưa Liêm trở lại ông San và ở lại uống rượu với ông. Con gái ông San không còn vẻ gì là người buôn bán ngoài chợ, cô trang điểm như một thiếu nữ Hà-nội trung lưu, Liêm nghĩ: ông San nói thì nói, Hải làm thế nào lấy được cô. Sau bữa ăn cô rủ em đi xem chiếu bóng và Liêm thấy thoải mái hơn khi được ngồi riêng với ông San trong nhà. Ông San có lẽ hơi ngượng về con gái, ông nói: “Ấy, con gái là thế cả. Nó không bằng lấy một phần mười của mẹ nó. Nhưng cũng tại ở Hà-nội. Ở Hà-nội không thế không được cơ”. Liêm làm như không để ý, lảng sang lối khác. Ông San bảo Ngọc ngỏ ý muốn Liêm cùng về làm với anh em lại cho vui. Liêm thối thác nại tính mình ưa thay đổi cũng không thích làm mãi một nghề. Ông San hỏi Liêm còn nghề gì khác, vui câu chuyện Liêm thuật lại quãng đời lưu lạc từ năm mới lớn. Ông San sửng sốt hỏi tên đứa bạn ngày ấy đã cùng bỏ trường kỹ nghệ Đáp-cầu đi với Liêm sang Hà-nội, Liêm không thể nhớ được. Ông San cười ha hả thích chí: “Thằng con lớn của tôi đấy. Bây giờ nó làm ở sở Lục-lộ trong Hà-đông ấy. Bốn con rồi. Thằng Sinh đấy mà, phải không? Ngày ấy tôi cứ rủa mãi đứa bạn nào rủ rê nó, không ngờ lại là anh. Ít ngày sau cu cậu thất thểu về nhà và từ đấy ngoan ngoãn hẳn”. Liêm cười: “Chính Sinh rủ cháu mà. Cháu còn kém Sinh một tuổi”. Ông San hẹn hôm nào sẽ vào thăm Sinh để hai người bạn cũ gặp gỡ, hôm qua Sinh cũng đưa vợ con về chúc Tết bố. Từ nhà ông San về Liêm tự hỏi nếu ngày ấy Liêm cũng theo Sinh trở lại, không biết bây giờ mình ở đâu và trở thành người như thế nào. Bây giờ thì mình là anh chàng thất nghiệp vất vưởng chưa biết rõ ngày mai, không nơi trông cậy. Bà mẹ Hải vừa là kẻ cưu mang mình lại vừa là một gánh nặng tinh thần bất ngờ. Suốt ngày mùng ba Liêm nằm buồn ở nhà không bước ra khỏi cửa, bà mẹ Hải lo lắng tưởng Liêm ốm. Mỗi ngày Liêm càng bị dồn vào thế khó xử với bà. Việc kiếm không ra, đạp xe dong cả ngày ngoài phố, tối mới về ăn một bữa cơm với bà và bà vẫn săn sóc tận tình như ngày còn đi làm chung với Hải. Cuối tháng giêng Liêm định đành trở lại với Ngọc, không thể kéo dài mãi tình trạng bông lông, Liêm sẽ đến thẳng Ngọc nói chuyện hơn là nhờ qua ông San. Sẽ nói với Ngọc: tôi cần việc làm, mình bỏ qua chuyện cũ, nguyên do chỉ vì Hải không hỏi ý kiến tôi trước, tôi đã bỏ Sài-gòn về đây cũng chỉ vì tôi không còn thích cách mạng nữa, cách mạng gì tôi cũng không thích, anh nên hiểu cho tôi như thế, tôi không có ý gì khác. Nhưng buổi tối hôm ấy bà mẹ Hải về nhà mang theo thư của Hải, báo cho Liêm tin mừng là trên nhà người họ nhờ bà chỉ giúp cho một người thợ in để giới thiệu với người quen. Bà đưa địa chỉ cho Liêm, bảo sáng mai nên đến ngay cho kịp. Sáng hôm sau bà đánh thức Liêm sớm, trước khi bà gánh hàng ra chợ. Liêm đến trước một ngôi nhà hai tầng gần ngõ Hội-vũ, nằm trong phố Quán-sứ dốc chạy bên nhà thương Phủ Doãn, không bảng hiệu, nhìn qua cửa rào sắt ở trong tối om chẳng có vẻ gì là một nhà in; cách đấy mấy nhà là một tòa báo nhỏ, Liêm nghĩ bà mẹ Hải có thể nghe lầm số nhà. Liêm vào ngồi uống nước trong hiệu đã đến một lần khi đi thăm vợ Hỗ, nhìn sang hè đường cạnh chân tường nhà thương vẫn còn đống rác lớn. Mười lăm phút sau Liêm bấm chuông gian nhà kín đáo, một người đàn ông mặc quần tây dài, áo sơ-mi ngắn tay, tóc cắt cua bờm xờm xuất hiện. Ông ta nhìn Liêm bằng cặp mắt dò xét hoài nghi, lặng lẽ nghe Liêm trình bày lý do, đưa vào nhà mời vào bàn nước nói chuyện. Ông hỏi han cặn kẽ đủ điều như lấy khẩu cung: Trước làm ở đâu? Có gia đình chưa? Quen thuộc thế nào với người giới thiệu? Những năm tản cư ở đâu? Có theo kháng chiến ngày nào không? Sức học đến trình độ nào? Có xếp được chữ Pháp không?... Liêm nhức đầu khó chịu trong gian buồng bức bối ở thấp như một căn hầm nằm dưới một tầng gác không cao lắm ở trên. Sau này Liêm mới rõ ông Phạm với ai cũng có những câu hỏi tò mò lẩn thẩn không chán như công việc hằng ngày ông làm. Ông ở nhà soạn sách và tự điển tự in lấy, nhà sau là buồng xếp chữ và một chiếc máy in nhỏ, chỉ có Liêm làm thợ xếp và một người trông máy in khi nào cần mới gọi đến. Mỗi buổi sáng ông xuống nhà dưới bật đèn ngồi làm việc đều đặn như ở công sở đến trưa, ông viết đủ cho Liêm xếp trong một ngày nếu không có công việc làm phụ từ ngoài cửa hiệu sách ngoài hàng Bông đưa về; buổi trưa ông ra ngoài cửa hàng trông nom công việc phụ với bà vợ và Liêm làm việc một mình nhà dưới không bị ai quấy rầy, hết việc có thể ra về sớm. Chủ nhật Liêm được nghỉ. Những ngày làm việc thảnh thơi nhàn hạ không lo lắng thắc mắc về người xung quanh, những buổi về sớm Liêm xuống hàng Da vào xem chiếu bóng và nghĩ cuộc đời mình cũng tạm yên.

Mùa hè đến gần, nơi làm việc hằng ngày của ông Phạm và Liêm bắt đầu sắp thấy ngột ngạt. Dưới ánh đèn da ông Phạm xanh mướt thiếu máu, ông hoạt động uể oải chậm chạp, bỏ nhiều thì giờ trò chuyện với Liêm. Không khí thành phố căng thẳng, xôn xao vì những tin tức loan truyền. Một buổi chiều Liêm ra về sớm, đi vào phố hàng Da, gặp những gia đình dân quê gồng gánh lếch thếch đi rong trên vỉa hè, mặt mũi sạm đen ngẩn ngơ. Một đứa trẻ con ngồi trong thúng giữa đống quần áo rách rưới lẫn gạo gào khóc, người mẹ gánh bồng đầu nặng đầu nhẹ không buồn nhìn đến, người cha cầm cây gậy tre đi trước lủi thủi. Nhiều gia đình trải chiếu ngồi nghỉ ngay trên hè phố, choáng lối người qua lại, dân hàng phố nhìn ngó hoang mang. Liêm không hiểu chuyện gì đã xảy tới. Buổi tối về nhà, trong xóm đồn ầm tin quân Pháp đã bỏ Nam-định - Thái bình đột ngột, không báo trước. Việt-Minh sắp về đến Hà-nội. Bà mẹ Hải cũng thuật lại những chuyện của đám dân chạy loạn mới đổ về Hà nội không ngờ trước, các anh của Hải sắp về đến Hà-nội và Hải thì gần đến ngày ra trường. Sáng hôm sau, Liêm vừa bước chân vào nhà ông Phạm đã nhận thấy cảnh tượng khác lạ, chỗ làm việc của ông Phạm đồ đạc ngổn ngang, tụ tập đông người, hai ba gia đình dưới quê vợ của ông Phạm mới tìm đến lúc chiều tối qua. Suốt buổi sáng ấy, ông Phạm và Liêm không còn bụng dạ làm việc. Ông Phạm ngồi hỏi tẩn mẩn cả buổi về những việc mới xảy ra. Quân đội Pháp rút lui giấu kín ý định với dân chúng nhưng người ta vẫn biết. Xe vận tải nhà binh không đủ chở, người ta nhảy bám theo kêu khóc ngã lăn lóc xuống đường, tàu thủy đã rời bến vẫn còn người lội đuổi bị nước cuốn chết đuối. Tại sao vậy? ông Phạm hỏi. Người ta sợ. Sợ cái gì? Sợ V.M. về. Trong cái thành phố bị bỏ rơi hỗn loạn, tiếng kêu khóc la ó vang rân, Liêm không hiểu kịp những biến chuyển. Sự sợ hãi, kinh hoàng như một chứng bệnh truyền nhiễm mau lẹ, Hà-nội cũng bắt đầu sống trong thảng thốt khắc khoải. Đám dân quê túa về đã được dồn vào trong các trường học bắt đầu nghỉ hè sớm. Những ngày nối tiếp chập chờn mê hoảng như một giấc mơ dữ, Liêm cũng bị dìm đắm vào trong cái tâm trạng mong mỏi bất an của thành phố. Những gia đình tạm trú trong nhà ông Phạm rời đi, trả lại cái không khí êm tĩnh nặng nề của mùa hè cho nơi làm việc. Ông Phạm không còn xuống nhà được đều đặn nữa và Liêm thì quanh quẩn không công việc trong nhiều giờ. Đợi chiều ra bờ Hồ đứng ngóng nghe tin tức ở phòng Thông-tin cùng đám đông tụ tập, tối về xóm lân la sang nhà có máy thu thanh ngồi quây quần bàn tán. Ông Phạm quyết định ngưng làm việc, trả thêm cho Liêm một tháng lương, hẹn thỉnh thoảng ghé ông xem tình hình thế nào nếu làm việc Liêm sẽ trở lại. Trên đường về nhà, Liêm đi qua các phố vắng, các biệt thự Tây ở, trông thấy đồ đạc bầy trên vỉa hè trước một vài ngôi nhà vài mươi người lân la dạm mua bán. Liêm nghĩ: Không hiểu mình sẽ đi đâu? Trở lại Sài-gòn chăng? Bằng cách nào? Muốn thoát khỏi cơn mê sảng kỳ quái của thành phố này, cơn mê sảng của những kẻ khác. Tôi chỉ thèm một chốn yên ổn mà không được. Bà mẹ Hải đón Liêm reo mừng: “Tuần sau Hải về rồi”, bà đưa cho Liêm xem điện tín của Hải. Liêm thở dài nhẹ nhõm, thoát nạn, nghĩ mình được giải phóng. Tôi sẽ làm gì? Không biết. Tôi tự do, không còn vướng bận. Và tôi... tôi sẽ bỏ thành phố này, bỏ không thương tiếc, Liêm trông đợi ngày về của Hải, đó là vào tháng sáu trời trong sáng không mây, những cơn gió hốt nóng phả đầy vào mặt.

Thêm vào giỏ hàng thành công