favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Phần thứ ba - Chương I (II)

An đi dọc theo đường Cát Dài, kiểm lại những nhà quen có thể gõ cửa. Người ta sẽ không cần dấu diếm vẻ ghê tởm khinh bỉ khi trông thấy mặt. Nhưng không thể không tiếp, người ta cũng không đủ can đảm để xô đuổi ngay tức khắc. Vừa ngượng ngùng, vừa khoái trá ở giữa sự lúng túng khốn khổ của nạn nhân. Chúng ta biết nhau quá rõ và chúng ta vẫn diễn mãi một tấn kịch giả trá. Moi cần một món tiền, con đau nặng, vợ đau nặng không đi làm được... Bao nhiêu? Một trăm, hai trăm, năm ba chục cũng được. Moi sẽ trả. Không cần, lần này là lần cuối đến phiền toi cũng ngượng chứ. Cám ơn, không bao giờ moi dám quên ơn toi. Không, lần này sẽ khác hơn những lần trước. Ông cụ moi ra Hà-nội, toi xem báo thấy chứ. Moi cần tiền tầu lên gặp ông cụ, về moi sẽ thanh toán ngay. Moi cần năm trăm, cố giúp moi như toi cứu người sắp chết vậy. Moi không không khi nào quên ơn toi đâu. Hà-nội, ở, tại sao không về Hà nội? Tôi sẽ đi lại trong thành phố mấy ngày Tết rồi lại biến mất như bóng ma. Không phải trở về với gia đình. Về Hà-nội thôi, để nhìn lại... Nhìn lại gì? Thành phố này chật chội, bụi bậm quá ngay trong mùa đông. Sẽ đi lại những con đường phố cũ, sẽ ngồi lại trên những bờ hồ, mùa này lộng gió và xanh mướt. Bước vào trong ngôi nhà yên tĩnh bên vườn tược nhìn Đồng thanh thản đọc sách. Hai năm, chưa đến, tôi như đã sống hết một đời mình, còn nó vẫn là thằng si tình, si tình muôn thuở. Không hàng quán nào còn mở cửa, An thèm một tách cà phê đặc đắng đến ứa nước bọt, dừng chân bên đường xe hỏa chạy xuyên ngang phố châm một điếu thuốc lá thay thế. Điếu thuốc rách hở hút không thấy khói nhưng vẫn ngậm trên môi. Rất có thể sẽ gặp ông bố ngoài đường; ông hỏi: “Bây giờ mày làm gì? Mày đã sáng mắt chưa con? Mày vẫn còn kịp thì giờ để làm lại cuộc đời mày”. “Làm lại. Có gì đâu con phải làm lại. Con rất bằng lòng về con như thế này... Chính con muốn. Cậu mợ yên tâm”. Sẽ chia tay như thế nào? Ông bảo: “Dù sao mày cũng là con tao... Cầm lấy món tiền này và nhớ là mày chẳng làm nên trò trống gì đâu con ạ”. Một món tiền. Bao nhiêu? Sẽ từ chối, nói: Không, tôi không cần. Sẽ nhận, cũng vẫn chẳng còn kiêu hãnh nữa. Thế thôi. Không phải, ông ta ngồi trong ô-tô, có người hộ vệ và không nhìn thấy hai bên vỉa hè. Chỉ có tôi trông thấy ông. Không đi qua nhà cũ, không qua những nhà quen gia đình và khỏi gặp ông. Ở ngoài phố, ông cũng như người khác không liên hệ.

An rẽ vào phố Trại Cau, giờ đã quá trưa, có lẽ họ đang ăn cơm. Cánh cửa nhà Hòa mở hé, Hòa ngồi quay lưng ra ngoài. Vợ Hòa trông thấy trước, giật mình ra dấu cho Hòa. Phải chính tôi đấy, cái bóng ma ám ảnh khuấy rối sự yên vui của các người. Hòa dấu nhanh được sự bực dọc, buông đũa đứng lên vồn vã:

— Đi đâu đấy? Ăn cơm chưa? Ăn luôn thể với moi đi.

— Cứ ăn đi. Mời chị. Không sao, tôi ngồi chơi được.

— Thì ăn. Đi giờ này chắc chưa ăn uống gì phải không?

An đặt cái mũ dạ lên chiếc bàn nhỏ gần đấy, chóng mặt vì mùi trầm trên bàn thờ, mỉm cười ngượng nghịu. Vợ Hòa gọi xuống bếp lấy thêm bát đũa, kéo ghế mời ngồi vào bàn. Sự sốt sắng ân cần cũng là một cách khóa miệng. Đã bao nhiêu lâu chưa trở lại đây? Phải vài ba tháng rồi. Lần trước Hòa đã dúi vào tay một trăm khi đưa tiễn. An cầm đũa, ăn chậm chạp không thấy đói trong khi vợ Hòa vừa tiếp vừa đưa mắt dò ý chồng. Hòa cau mặt tỏ ý khó chịu về thái độ của vợ. Họ đang tính toán âm thầm. Biết làm thế nào? Vợ Hòa đứng dậy sớm vào buồng trong. Hòa tự tay pha cà-phê mời, nói chuyện công việc ở trường, nhắc đến Cảnh—Ngày An mới xuống, cũng xin được mươi giờ dạy ở một trường tư cùng với Hòa và biết được Hòa và Cảnh khá thân nhau. Giờ này Phúc cũng đang ngủ trưa rồi dậy trang điểm sẵn đợi tối, hắn sẽ đón giao thừa ở dancing, sẽ say khướt như đêm Noël và hai tên đàn ông sốc vực hắn vào nhà. “Tăng xông. Thằng chồng moa nó nằm trong kia. Bon-a-nê há”. Hòa đã che tay, hả miệng ngáp. Mình sắp phải đứng lên, ra ngoài. Đột nhiên Hòa hỏi:

— Thế nào? Được không? Đằng trường nó bảo cậu có thể về dạy trở lại miễn là...

— Làm sao?

Hòa khoát tay làm một cử chỉ rộng, hiểu ngầm. Cái mặt béo tròn trông rõ. Thỏa thê, nó thỏa thê với hạnh phúc của nó. Một đứa tốt lành đến gần như giả dối. Nó là đứa duy nhất còn có những ý tốt với mình. Làm thế nào có thể cứu vớt nổi mình. Không được đâu, đừng mất công. Không ai phải chịu trách nhiệm về cuộc đời tôi cả. Chỉ mình tôi, tôi thôi. An lắc đầu nhìn ra cửa.

— Cậu đã thử cái thuốc tôi giới thiệu chưa? Không công hiệu à…

An ngao ngán muốn bỏ đi ngay. Đến lượt mình buồn ngủ. Chân tay bắt đầu máy động không tự chủ được.

— Không lẽ... cậu không thấy chướng. Sống mãi thế cậu không thấy chướng.

Còn phải chịu để cho nó hành hạ cho xứng với lòng tốt của nó. Lòng tốt. Kiếp sống của tôi trở thành một bằng chứng cho lòng tốt cũng như lòng độc ác của mọi người. Mệt quá.

— Cậu phải có can đảm dứt bỏ. Sống riêng một mình, tôi tin cậu sẽ thoát khỏi.

— Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng...

Phải phủ phục xuống cho vừa lòng nó. Chẳng còn gì kiêu hãnh và cũng chẳng còn gì xấu hổ nữa. Vợ Hòa quát nạt đứa con nhỏ khóc inh ỏi trong nhà, đứa nhỏ đánh đổ nước lên chiếc áo mới. Giọng đàn bà sắc nhọn. Hòa làm như không nghe thấy, nó còn phải đóng nốt vai trò cho màn kịch. Nó mong mình sẽ rút lui êm vì lòng tốt của nó.

— Cậu lười quá. Cậu chết.

An ngước mắt, nhìn lên cười, nhặt cái mũ đặt lên đầu gối nắn lại vành. Nó tự cho nó mọi thứ quyền đối với mình và nó sẽ mất quyền từ chối.

— Có lẽ tại cậu chưa có trách nhiệm.

Trách nhiệm? Nghe vang quá nhiều lần nên thấy trống rỗng. Trách nhiệm? Bắt đầu ngáp mỏi quai hàm.

— Chắc cậu cần tiền ăn Tết. Đợi tôi một tí.

Hòa đứng dậy sỏ dép đi vào trong không đợi xem phản ứng. An tựa lưng vào ghế, xương sống, bắp đùi, ống chân mỏi nhừ. Mình sẽ không thể nói thêm một lời nào. Ông bố, chuyến đi Hà-nội đều là thừa, vô dụng. Hòa trở ra, nhét vào túi An năm trăm bạc và đưa tay cho bắt.

— Tôi không thể quên ơn anh. Mai Tết rồi...

— Đừng, đừng. Tôi hy vọng đây là lần cuối tôi phải đưa tiền cho cậu. Cậu biết chứ thực sự chúng mình chẳng có bổn phận gì với nhau. Ba tháng nay tôi vẫn đợi cậu trở lại. Món tiền này vợ chồng tôi để dành cho cậu, là của cậu.

Hòa đứng trên bực thềm, mặt nghiêm nghị, không đùa, An cầm cái mũ dạ loay hoay trong tay ấp úng:

— Tôi hiểu... tôi hiểu... Tôi làm phiền anh chị nhiều...

Nụ cười khoan dung rộng lượng. Mình như là cái đen cuối năm của vợ chồng nó. Nó muốn tống đi nhanh cho khuất để thảnh thơi đón năm mới. An đội mũ lên đầu, nói lời cuối cùng:

— Tôi không quên ơn anh chị...

Hòa đưa mắt lơ đãng trông sang hè bên kia, gật đầu với hai ba đứa học trò con gái đang xô đẩy nhau cười khúc khích. An quay lưng đi, hai tay lại thọc vào túi áo, sờ thấy mấy tờ giấy bạc của Hòa. Ở đầu một ngã tư, một đoàn convoi chạy rầm rầm ngang mặt. An móc tiền ra nhìn đếm. Nỗi nhớ mông lung đã tan biến. Chỉ còn lại cảm giác thoải mái dễ chịu. Thèm được nằm duỗi thẳng tay chân, thiếp đi trong quên lãng hoàn toàn. Quên cả những ước vọng gần gũi nhất…

Tiếng còi rớt vào trong bầu trời âm u mỏi mệt. Nước sông đục lầm phù sa. Hải cảng xám ngắt, hoang vắng như nằm giữa sa mạc. Trên ke một đám người túm tụm trơ vơ đón tàu cập bến. Hành khách các hạng đều đã ra trên boong đứng lóng ngóng. Gia đình ở chung dưới hầm với Liêm đang kiểm lại hành lý dưới chân. Người vợ hỏi: “Chắc là còn xe về chứ?” Người chồng đáp: “Còn kịp. Mình sẽ ăn cơm chiều ở nhà”. Liêm đứng giữa đám người nôn nao nhấp nhỏm, nghĩ trời không đến nỗi rét lắm như tưởng tượng. Chiếc áo dạ khoác trên mình còn thấy hơi hấp nóng. Tàu trôi sát vào một bờ gỗ làm bằng những tấm ván ghép. Dưới đất một hai người chạy đi chạy lại, bắc loa tay hét lên cao. Trên mũi tàu có những tiếng vọng đáp, người ta đang neo tàu. Gió ngoài sông thổi vào sau lưng. Quê hương tôi đây sao? Dưới bầu trời chìm lặn của mùa đông già, trong những điệu nói tíu tít bao vây. Một người đàn bà nói với chồng: không thấy ai thế này thì làm thế nào về kịp Hà-nội. Không khéo lại phải đợi mồng một về thì rông cả năm. Người chồng bình tĩnh hơn: chắc họ đón mình ở ngoài, trưa nay họ còn phải bận cúng chứ. Tôi không biết phải nói với ai về nỗi lo lắng của mình. Gia đình anh chàng thông ngôn cũng đã quên hẳn người bạn đồng hành trong ngày qua.

Trên chiếc thang treo đong đưa nhẹ nhàng, Liêm hai tay sách hai chiếc va-ly chậm chạp nối bước người đi trước, hai người đàn bà thì thầm về một món hành lý còn gửi lại trên tàu, ngoái cổ nhìn mấy người làm tàu nhàn nhã hút thuốc tựa vào thành sắt ngó xuống đám hành khách đang rời khỏi tàu. Có lẽ hai người đàn bà là dân buôn lậu, cũng có thể là những tay kinh tài đắc lực của kháng chiến, họ đều có vẻ đẹp đáng lẽ phải được dấu ở trong nhà. Liêm đặt chân xuống mặt gỗ, đi một quãng vào trong nền xi-măng rộng thoáng không còn bị vướng người, để hai cái va-ly xuống đất, nghỉ tay hít thở khoan khoái. Không khí có một mùi vị mới lạ, trong và nhẹ hơn bầu không khí dưới hầm tầu. Từ sau lưng một người phu khuân vác tiến lên đột ngột nói: Ông để cháu xách ra ngoài cho... và cúi xuống nắm lấy hai cái va-ly nhấc mang đi. Lối xưng hô lạ tai, ông, ông Liêm; mình đã thành một người khác, nên nhớ sự thân mật dễ dãi không có ở đây. Phải nhớ lại những kiểu cách, những phong tục, những lễ nghi. Liêm châm thuốc hút, bước theo chân người phu đi thoăn thoắt về phía một nhà kho lớn cửa chỉ mở một khoảng. Hành khách đi tản ngang trên một khoảng dài. Những nhân viên thuế quan và công an khám xét giấy tờ và hành lý ngay giữa trời. Họ làm việc mau chóng, mọi người đều nóng nảy trở về nhà. Chiều ba mươi đã chớm rồi với bầu không khí ấm cúng của gia đình chờ đợi. Tại sao không ở lại ăn Tết với gia đình Hạnh? Đâu có việc gì cần phải hoảng lên đi gấp như vậy? Ra đến ngoài Liêm hoàn toàn trơ trọi, mọi người đều vội vã lên xe nhà đón hoặc thuê xe chạy mất. Cả một khúc phố khuất tịch. Liêm tìm trong túi lót của chiếc áo dạ, hai bức thư giới thiệu của Tường đọc lại địa chỉ và phải xách va-ly đi bộ một quãng mới kiếm được chiếc xích-lô.

Thành phố chật chội hãy còn những dấu vết chiến tranh. Trong những phố tây vẫn còn một vài khu nhà đổ bỏ hoang. Phố ngắn hẹp không thể bằng Sài-gòn. Khu trung tâm buôn bán đông đúc bé nhỏ, tàu như Chợ-lớn-cũ. Liêm sách va-ly, đứng xuống dưới vỉa hè của một phố chính tương đối sầm uất, tuy mọi cửa hiệu đều khép cửa nghỉ Tết nhưng nhìn những tấm bảng hiệu la liệt trên mái, trên các đầu tường Liêm cũng có thể đoán biết Liêm gõ cửa một hiệu bán đồng hồ. Có lẽ nhà ở sâu, cả đến năm phút sau mới nghe tiếng chân người ra mở cửa. Người thiếu nữ ở trong nhà ra, tóc uốn trễ, ngắm nhìn từ đầu đến chân không dấu nổi vẻ ngạc nhiên:

— Ông hỏi ai?

— Thưa cô tôi hỏi nhà ông Phát.

— Vâng, ông là ai?

— Tôi vừa ở Sài-gòn ra đây. Tôi có bức thư của ông... trong Sài-gòn gửi cho ông Phát.

Người thiếu nữ trố mắt kinh ngạc như không tin. Một người đàn bà vấn tóc trần bước ra hỏi con gái: Chuyện gì đấy? Một lần nữa Liêm lại phải tự giới thiệu. Cuối cùng Liêm cũng được mời vào gặp chủ nhà. Người đàn ông bệ vệ an nhàn trong bộ pyjama, mắt hấp háy sau đôi kính trắng, tiếng the thé như đàn bà. Đó là người bạn thân một thời của Tường. Không thể tưởng tượng nổi người đàn ông ngồi trước mặt một thời lưu lạc giang hồ và chỉ mới trở về Bắc năm 45. Phát trông đặc vẻ con buôn nhà nòi tính toán lợi hại kỹ lưỡng, không ai có thể trông mong nhờ cậy. Liêm được mời uống nước trà sen, nghe hỏi han về Sài-gòn trong những năm qua. Phát thở ra hơi phản động chống báng kháng chiến và không hề đả động đến lời gửi gắm của Tường; Sài-gòn được nhắc lại như những kỷ niệm, kỷ niệm về khí hậu thời tiết, trái cây cảnh vật... Liêm cáo từ, Phát không cầm giữ đưa ra đến cửa dặn với:

— Sang năm, nếu có dịp, mời ông ghé nhà chơi.

Liêm lại đứng trên vỉa hè với hai va-ly dựng hai bên. Trời gần chiều, lạnh êm xuống. Mùi hương trầm trong nhà kín còn phảng phất. Liêm quay nhìn hai cánh cửa đã đóng chặt, một bên dán tranh ông Thiện một bên ông Ác, những khuôn mặt còn đó thản nhiên của một thời thơ ấu. Thành phố hoàn toàn lạ, không còn một chốn quen thuộc. Phải về Hà nội, ít nhất cũng là nơi mình đã biết. Tường nói đúng đây không phải là quê hương của những người như mình, như Tường. Không thể ngủ trên một ghế bố ngoài đầu hè được và chắc cũng không ai mở cửa đón vào nhà một người lạ mặt trong mấy ngày Tết. Không hiểu những ngày tới về Hà-nội thế nào? Trong một lúc thất vọng Liêm ân hận đã quyết định trở về. Mai mốt có thể như Phát, Sài-gòn và đoạn đời hoạt động cũng lần mờ thành kỷ niệm để nhắc nhở cho vui trong một vài dịp. Liêm xách va-ly, đi bộ từng quãng dài trên vỉa hè lại đặt xuống nghỉ hút thuốc với ý định đến ga xe lửa. Trên đường không còn tìm thấy bóng một chiếc xe. Mỗi lần hỏi thăm đường bọn con nít, Liêm lại nhận được những tràng cười vui thú của chúng vì giọng nói và bộ tịch của mình. Xe lửa, cái gì là xe lửa chúng mày, bến xe lửa, bến xe lửa ở đâu? Chúng cười khúc khích, dương mắt ngắm nhìn như vật lạ. Một đứa đã lớn hiểu biết hơn hỏi: Ông là người Sè-goòng. Liêm gật đầu và lũ trẻ vỗ tay reo mừng trước một khám phá kỳ thú, nhiều đứa bỏ chạy vào nhà kêu gọi người lớn ở trong: có một người Sài-gòn, một ông Sài-gòn hỏi thăm đường và thêm nhiều đứa trẻ khác đổ ra đường. Liêm đứng bên cột đèn, nhìn lũ trẻ vây quanh, trong một vài khung cửa có cả mấy cô thiếu nữ ngấp nghé tò mò. Giống như ngày nào trong xóm Đồng Ông Cộ, bọn con nít cũng đã chạy ngang ngoài ngõ nhà Hạnh hát vang thành nhịp: Bắc kỳ sạo ke, ăn me chấm... Liêm phải loay hoay mất mấy phút mới tìm đúng chữ diễn ý. Bọn trẻ lại được dịp ồ lên cười như nắc nẻ: Ả, à ông ấy hỏi nhà ga, ga tàu hỏa; lúc nãy ông ấy gọi là gì nhỉ, xe gì. Xe lửa, a, xe lửa là tàu hỏa. Ông định đi đâu? Liêm nhắc lại: phải, ga tàu hỏa. Phải đi ngược lại một đoạn phố đã qua. Một vài người đàn ông đi dạo trên hè, quần áo giầy dép tề chỉnh ít thấy trên các đường Sài-gòn. Trời xẫm rất nhanh rồi đứng lại như không thay đổi nữa. Gió bắt đầu gấy rét, vẫn quyện mùi hương cúng. Phố xá đìu hiu không còn hoạt động. Khỏi những dãy nhà thu kín, đến những bãi trống đổ rác và xóm lao động bẩn thỉu. Trên một vài khoảng đất chỉ còn nền nhà và gạch vụn chất đống. Chiến tranh ở đây nhìn rõ hơn không như Sài-gòn. Có lẽ rồi sẽ trở vào. Cứ bầu trời mùa đông u uất này với cảnh vật như đang tàn tạ vây kín cả chân trời cùng với cái đời sống rút khép vào trong hất đẩy mình ra ngoài. Mình không còn ai ở đây ngoài mình, nhưng tôi đã biến đổi quá nhiều.

Nhà ga vắng vẻ, trơ trọi trước con đường loang lổ ổ gà. Tiếng còi tàu kêu không ở trong ngắn ngủi không âm vang. Liêm bước vào khách sạn trước cửa ga. Trong phòng khách chỉ có một ông già gác đang tiếp ba người khách: hai người đàn bà đã đi trước Liêm lúc rời tàu buổi sáng và một người đàn ông, đội mũ dạ, mặc chiếc áo vét nhầu cũ xốc xếch, chân đi xăng-đan. Hai người đàn bà đợi ghi xong thẻ căn cước vào sổ khách sạn nói: “Thôi, thế cũng xong. Mai đành đi tàu hỏa về vậy”, rồi bỏ ra ghế dài ngồi đợi. Đến lượt người đàn ông hỏi thăm về giá cả các loại phòng, rồi quay sang Liêm đề nghị: “Hay mình thuê chung một buồng cho đỡ tốn, chắc ông cũng chỉ cần một chỗ ngủ đêm nay thôi. Nhất là giao thừa có bạn cũng đỡ buồn, ông nghĩ sao?” Một người đàn bà ngồi ở ghế nhanh nhẩu: “Ông nghĩ cũng phải. Chắc các ông mai cũng đáp tàu về Hà-nội. Về nhà vào đúng ngày đầu năm kể cũng vui”. Người đàn ông gầy gò bẩn thỉu, bàn tay đen đủi cáu ghét, hơi quay lại sau hỏi: “Các bà ở đâu đến thế? Tôi, tôi là người ở đây”. Hắn cười khì trước vẻ ngạc nhiên của hai người đàn bà và Liêm. “Tôi không thích ăn Tết ở nhà. Rắc rối phiền phức. Ăn Tết ở khách sạn có lẽ thú vị hơn. Ông nghĩ sao? Nếu ông đồng ý ông đưa thẻ căn cước tôi ghi luôn hộ. Tôi cam đoan với ông rằng lên phòng có nước nóng tôi sẽ tắm, tắm tất niên mà để ông khỏi ghê tởm. Và nếu có thể sáng mai tôi sẽ đưa chân ông về đến Hà-nội. Tôi không hứa trước. Vâng. Cảm ơn ông. Lê-văn Liêm số... thợ in. Ông là vô sản chính cống bà lang Trọc đấy. A, ông lại ở Sài-gòn. Thật là may mắn cho tôi”. Người đàn ông chìa tay bắt, cặp mắt lờ đờ dại dột, hơi say; hắn còn trẻ thì phải, giống như mấy chàng văn sĩ thất nghiệp chán đời lang thang nơi các tòa báo ngày nào. Hắn cúi xuống, nằng nặc đòi mang chiếc va-ly nhỏ hộ: “Tôi xách được mà. Tôi còn đủ sức ông bạn”. Người lệch hẳn vai, chân lết trên những bực cầu thang. Hai người đàn bà vẫn đi trước, thỉnh thoảng liếc dòm tỏ vẻ thương hại.

Vào đến buồng, Liêm chỉ muốn được nằm nghỉ ngơi. Người bạn bất đắc dĩ một đêm, đặt chiếc va-ly lên bàn gần cửa sổ đứng tựa cạnh bàn nói:

— Tôi là An. Rất hân hạnh được quen ông. Nếu ông thích đêm nay mình sẽ uống rượu đón giao thừa. Tôi còn chai rượu đây.

Hắn rút chai Cointreau vẫn đút lủng lẳng một bên túi áo, giơ ra trước mặt. Cũng hay, nếu không có lẽ mình cũng chẳng biết làm gì đêm cuối năm trong buồng khách sạn này. Liêm ngồi xuống giường bảo:

— Ông hơi đã rồi đó.

Hắn nghiêng tai nghe, chừng không hiểu - Liêm nói lại: ông hơi say - bật lên cười rũ, vừa cười vừa nhìn bóng mình trong gương.

— Ông nói nghe du dương ghê.

Liêm hơi bực mình, nhíu mày. Chẳng hiểu còn làm những trò gì nữa, khi không lại phải chịu đựng một tên say giữa đường. Liêm nghĩ nên xuống phố kiếm cơm ăn, rồi đi xem giao thừa ngoài phố, khuya về có lẽ hắn đã say vùi, đỡ mất công. Chiều nhọ nhem ngoài cửa kính. Và Liêm đứng dậy hỏi:

— Tôi chưa ăn cơm. Ông biết còn quán nào mở cửa không?

— Bây giờ thì hơi khó đấy. Ông thử đi xuống dưới đầu phố xem. May ra thì còn.

— Ông để cửa đừng khóa. Tôi có lẽ về muộn.

— Được. Được mà. Đồ đạc của ông không mất đâu. Ông cứ đi dùng cơm. Tôi sẽ đi tắm rửa sạch sẽ, đợi ông về mời ông uống rượu. Nếu ông lại mua được món nhắm thì tuyệt...

Hắn đến đứng trước gương soi sát mặt và không quay lại. Ra đến cửa Liêm ngập ngừng dặn:

— Ông coi chừng, đừng tắm. Gặp lạnh nguy hiểm lắm.

— Không sao, ông khỏi lo. Tôi phải sạch sẽ để mừng năm mới.

Liêm bước ra hành lang khép cửa lại, có lẽ trong cả khách sạn này chỉ có bốn khách trọ, nghe tiếng chân mình bước vang âm. Hạnh không thể nào tưởng tượng được cái cảnh ngày đầu tiên tôi đặt chân về xứ. Nàng nghĩ tôi đang vui vẻ giữa những người thân và cảnh vật được gặp lại chắc đã quên hẳn xóm Đồng Ông Cộ. Tôi đang cười, đang nói, đang kể lể trước sự hỏi han dồn dập của bà con quyến thuộc, không bao giờ Hạnh chịu tin là tôi không có gia đình. Tôi trở về xứ như phiêu lưu vào đất lạ. Gian phòng tiếp khách dưới nhà bỏ vắng không dưới ánh điện. Ngoài đường gió thổi ào, lần đầu tiên thấy rét thật sự. Liêm thọc sâu hai bàn tay vào túi áo, khép chặt hai cánh tay, nghe trong thân ứng nóng nhưng mặt và tai giá buốt. Quãng đường vắng, điện đường không đủ sáng hết. Liêm tìm được một hàng gánh bánh mì cà-phê ngay đầu phố. “Thật hên, bữa nay mà ông còn bán”. “Tôi sắp về. Kiếm được đồng nào hay đồng nấy. Nhưng ế quá…” Người bán hàng lặng lẽ quan sát, chắc muốn hỏi đôi câu nhưng lại thôi. Liêm ngồi trên chiếc ghế con được nhường lại, còn người đàn ông ngồi co ôm gối và hơ tay lên bếp đang nấu cà-phê. “Bây giờ mới hơn bẩy giờ chứ gì phải không ông? Còn lâu mới đến giao thừa. Tôi vừa ở bên Hạ-lý về nghỉ ở đây. Nghèo là chẳng thấy Tết đâu cả. Chứ bán bên phố này ai mua”. Gió thổi động các chòm cây dài mút phố. Ngoài hiên, trước cửa nhà đã thấy lác đác bầy bàn thờ đợi cúng giao thừa. Nhà nào nhà nấy đóng im cửa nhưng đèn sáng rực. Liêm mua thêm hai chiếc bánh mì, bỏ vào túi, một cái cho va, lỡ đêm đói còn có thức ăn; rồi đứng lên tiếp tục đi sâu vào trong phố. Chỉ nghe gió thổi, đêm đen kịt, mùi trầm hương thoang thoảng lẫn tiếng cười đùa quanh chiếu bạc trong các nhà. Người ta đang đánh tam cúc. Thỉnh thoảng mới gặp một chiếc xe hơi nhà binh hay một vài người đi xe đạp co rút cổ. Tại sao tôi lại đang ở đây? Liêm quay trở lại, con phố mập mờ không hình thù rõ rệt như chạy suốt vào đêm tối, trong một thoáng tưởng như tòa nhà khách sạn đã biến mất. Có thể tên chán đời ở nhà tự tử thì rầy, Liêm đi vội như bị ma đuổi.

Nhảy hai bực thang một, Liêm chạy trong hành lang rồi đứng khựng lại để nhận số phòng. Phòng hai người đàn bà tắt đèn, có lẽ họ chưa về. Hắn làm gì trong phòng mà cửa khép kín không nghe tiếng động? Liêm gõ cửa, cẩm xoay quả đấm. Người đàn ông ngồi gục mặt trên bàn, run lật bật. Hắn đã tắm rửa thật. Không nghe nói gì, Liêm phải bảo: để tôi cho ông mượn cái áo len mặc tạm, và mở va-ly kiếm chiếc áo Hạnh đã mua ngoài chợ Bến-thành. Hắn ngửa mặt nói: Cám ơn ông, tôi làm phiền ông. Nước da đen xám, môi tái mét, hàm răng vàng ởn, đúng là dân ghiền. Liêm an tâm, dân ghiền không có can đảm để làm gì cả. Và Liêm bỏ mặc, thay quần áo, rửa mặt mũi tay chân. Liêm ở lâu trong phòng tắm, một lúc sau nghe tiếng gọi: Ông bạn xong chưa? Mời ông ra uống rượu với tôi cho vui, giọng tỉnh khô. Trở ra ngoài, Liêm bảo:

— Tôi buồn ngủ quá. Mấy hôm đi tàu biển thật nhọc. Xin lỗi ông. Ông cứ tự tiện. Tôi ngủ trước.

Người đàn ông nài nỉ:

— Ông uống một tí cho ấm, ngủ càng say.

Liêm bắt buộc phải tu một ngụm trong chai và sực nhớ:

— Tôi có mua hai ổ bánh mì để trong túi áo. Ông có đói cứ ăn. Tôi mua để phòng đấy.

— Cám ơn ông. Ông cũng cho tôi tự nhiên.

Liêm leo lên giường chui vào trong chăn bông nồng mùi băng phiến. Vải nệm và chăn còn lạnh giá. Chỉ có lúc này là dễ chịu nhất từ khi đặt chân xuống đất, nếu không có hắn đỡ bận tâm biết mấy. Liêm nằm duỗi thẳng ngó lên bóng đèn để khỏi chú ý đến người lạ.

— Ông có cần tắt đèn không? Tôi ngồi trong tối cũng không sao.

— Không cần. Ông lấy cái áo dạ của tôi khoác thêm cho ấm. Trong túi có bánh mì đấy.

— Vâng. Ông có muốn xem giao thừa không? Tôi sẽ đánh thức ông.

— Không. Tôi cần ngủ.

Một lúc không nghe gì nữa, Liêm lắng theo tiếng gió ngoài cửa kính và thiếp ngủ mau. Loáng thoáng nghe người lạ hỏi: ông về Hà-nội có việc gì? Hay thăm gia đình? Ông ở Sài-gòn lâu không? Dường như ú ở không đáp được vì bị giấc ngủ dìm kéo. Không chắc mau hay lâu, Liêm thức giấc vẫn thấy mình nằm trên giường một mình và xung quanh tối om, gió thổi lạnh cả mặt, vội quơ tay tìm nút bật điện. Cửa sổ buồng mở toang, người đàn ông ngồi gục đầu trên bàn như ngủ quên. Liêm ra khỏi giường, đóng cửa sổ, định đánh thức, bắt gặp khuôn mặt hốc hác ngước lên, hai mắt đỏ hoe, nước mắt nước mũi tèm nhem.

— Giao thừa chưa nhỉ?

Hắn không trả lời, cúi mặt bật khóc nức nở. Tội nghiệp hắn muốn tâm sự mà mình buồn ngủ quá. Liêm kéo cái ghế ngồi xuống. Chai rượu đổ nghiêng lênh láng cả mặt bàn, hắn tuyệt vọng. Hắn vẫn khóc như không hay biết có người ở trước mặt.

Liêm không thể đừng được phải che tay lên miệng ngáp. Kỳ cục, hắn thất tình, chán đời, bị ruồng rẫy, lường gạt, hay điên. Cuối cùng Liêm phải xốc nách dìu vào giường, hắn vùng vằng yếu ớt, chân khuỵu lết bước không nổi, tay lạnh như đá. Nằm trên giường hắn vẫn còn khóc, nhưng Liêm bỏ mặc, Liêm cần ngủ.

Thêm vào giỏ hàng thành công