Phần thứ ba - Chương I (I)
I
Khu vực nhà Rồng dài xa, mờ xám. Trên bến rộng, một vài người thấp nhỏ đi trong khoảng cách các kho hàng há mõm đen ngòm hoặc đóng bít cửa sắt nặng. Người hoa tiêu đang leo những bực thang lên tàu, bên kia vùng bến chợ Khánh-hội rào rào; giữa thân tàu và bờ ke hở một khe sâu nhỏ. Phía Sài-gòn những tòa nhà lầu cao đứng bên đường rộng chưa hoạt động trong màn sương thoáng đột ngột của những ngày cuối năm chưa tan hết.
Hồi năm giờ sáng thức dậy ra sau rửa mặt, nghe tiếng chân ngựa gỗ lộp cộp trong chuồng, mùi rơm cỏ nồng khai, ngửa hít khí trời nghe bụi nước đậu xuống mặt bất ngờ như đã về đến xứ Bắc. “Con về ngoài bình yên mạnh giỏi. Chắc là con không còn vô nữa”. “Thế nào có dịp con cũng vô lại Sài-gòn. Con không khi nào quên má và các em”. Má Hai, Hạnh và Nguyên xách đồ đưa lên xe thổ mộ của chú Năm hàng xóm; Hạnh buồn đứng lại bên bờ tre nhìn chiếc xe lăn chậm trên đường cát ướt còn tối trong xóm Đồng Ong Cộ; con đường xe lửa điện lên Lái thiêu đã bị bóc, ga Bà Chiểu đã bị phá để xây chợ mới, trên cầu Hàng Sanh quay nhìn xóm Lò-heo cũ. “Về ngoải vui chớ Thày Hai. Nghe nói Hà-nội đẹp hơn Sài-gòn”, chú Năm ghìm cương cho ngựa đổ dốc, bên trái vùng sình lầy chạy vô tới Cầu Sơn, Cầu Kinh lơ thơ ít nhà lá, nơi đây những ngày đầu kháng chiến, khi tiếng súng sáu nổ bì bọp vài phát ngoài cầu Bông, quận Tân bình bị chiếm chưa đầy nửa tiếng, toán du kích Hàng Sanh đã cầm cự trọn ngày cho tới khi hết đạn, quân Pháp phải dùng tàu đổ bộ bọc mặt sông, dùng báng súng lưỡi lê giết chết từng người một nằm ngâm mình dưới sình; miễu thờ đám tử sĩ ấy còn nằm giữa vùng hoang vu ít người dám lui tới. Kho đạn Thị-nghè dời đi nơi khác, kho đã nổ rung chuyển cả thành phố và vùng phụ cận ba ngày liền; “Hồi nổ kho đạn thày Hai ở đâu?” “Tôi ở trên Tân-mai”, chú Năm phất chiếc roi nhỏ lên mái thiếc, miệng khẹt khẹt theo thói quen. Đường Chasseloup dài hút dưới bóng cây, đường Paul Blanchy rộng và trống hơn, đường rầy lún sâu bị nhựa che lấp dẫn; Đại lộ Norodom vẫn còn sang trọng, “Hổi biểu tình độc lập, chú có đi không?” “Có chớ. Không nhìn thấy gì hết. Bữa tôi với con Hạnh nhà bà Hai chạy một mẻ chối chết. Phải bọc ngã Hàng Sanh tới mười hai giờ trưa mới về tới nhà”. Một hai, một hai... Tiến lên đi kìa trời thắm hồng... Mùa thu rồi ngày hăm ba ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến... Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng. Những bài hát của một thời lịch sử tầm vông giáo mác nhọn hoắt những nồng nhiệt ái quốc.
“Thày Hai vô uống với tôi ly cà-phê. Tôi không vô trỏng được. Tôi đưa đồ qua cửa rồi thày mướn người ta mang lên tàu cho”. “Thày Hai về ngoải mạnh giỏi. Tàu thày đi tên chi vậy?” “Saint Michel”. “Tôi gửi lời thăm hết lối xóm nghe chú Năm. Chào chú Năm”. Chú Năm quay xe về chợ Sài-gòn, đỗ bên hông nhà ga xe lửa, đón khách: Bà Chiểu đây... bà con cô bác ai về Bà Chiểu, Đất Hộ... Từ biệt Hạnh ở lại trong xóm Đồng Ong Cộ với các ngõ ngách rắc rối của nàng, nàng thường dẫn chạy trong các cuộc bố ráp, mà lính không thể kiếm thấy. Từ biệt những ngày sôi nổi và thơ mộng; từ thành ra bưng, từ bưng vô thành; từ biệt Giồng Ông Tố, An Phú Đông, Bà Quẹo, Hốc-môn, Củ-chi, Tân-uyên, Long- thành, Trảng-bom... những Bảy Bắng, Tư Hột, Mười Né, Ba Đen, Út Nhì... Từ biệt thành phố đã nuôi nấng mười năm lưu lạc.
Tàu tách bến, với hồi còi âm như không phải của nó. Tiếng còi gợi nhớ đến điệu kèn ô-tô ray tốc hành Hà-nội - Hải-phòng, toa ngồi sang trọng cửa kính bóng loáng. Những chiếc thuyền nhỏ chèo tay nép sát vào thân chiếc tàu còn neo bến, người trên thuyền đưa mắt nhìn lên boong cao, thân người dưới thuyền lùn ngắn. Ánh nắng đang làm sáng mặt sông. Khỏi Nhà Bè, tàu chạy đến những khúc sông rộng vắng, hai bờ cây chàm, dừa nước, ô rô xanh um không thấy nhà cửa, ở các ngã ba sông những chiếc phao nổi sơn đen mang đèn báo dập dềnh. Trời mỗi lúc một rộng thêm, tịch mịch và mát mẻ; máy tầu ầm ì cùng tiếng nước réo, một vài hồi còi bất thần như tiếng kêu quyến luyến. Sau lưng một vài người làm tàu đi lại vội vã; những hành khách đứng trên boong đã dần tản biến mất. Gió thổi từ mũi tàu đến phảng phất mùi biển mặn, nhưng dòng nước dập dềnh dưới mắt vẫn còn đục lờ. Từ biệt Hạnh... Từ biệt Sài-gòn. Điếu thuốc đốt hai ba lần mới cháy, đầu thuốc nám đen nhưng bập không nghe hơi khói trong miệng. Chỉ có hương nồng của một màu thiên nhiên hoang vu. Cảnh vật không thay đổi cùng với gió sông làm mờ mắt, trải loãng trí nhớ vào những kỷ niệm. Bây giờ, lúc này, bất chợt thức giấc mình đã là một người khác từ bao giờ. Cuộc sống lầm lũi trong nhiều năm, tích lũy dần ở đâu, tự kết hợp và bỗng hắt ra một hình ảnh khác những gì mình vẫn tưởng về mình. Không hiểu còn thích ứng được với đời sống nơi chôn rau cắt rốn nữa không? Quê hương. Tôi trở về quê hương? Những gì đã thay đổi ở tôi, ở nơi tôi trở lại. Mối lo lắng vu vơ tan hòa trong niềm hân hoan xao xuyến. Mười năm, mười năm rồi và tôi trở về. Ngày bỏ nhà trốn đi mười bảy tuổi. Đang ở nhờ gia đình bà cô ở Bắc-ninh, học trường Bách-Nghệ. Trường nằm trên một ngọn đồi, đối diện với một khu đồi trọc, dưới chân đồi trọc là sân đá bóng. Ngã ba trước cổng trường là chỗ gặp nhau của hai con đường từ Đáp-cầu xuống Bắc-ninh; một đường chạy ngang Thị-cầu, một đường nối dốc lừa uống nước qua trại lính Lê-dương mẹ và sấu um tùm gặp quốc lộ chạy từ sông Cầu xuống ngang nhà ga. Vượt con đường sau này, xuống sân đá bóng, leo lên một ngọn đồi thấp đã được bạt phẳng với những bực cấp chạy dài làm chỗ ngồi của khán giả, đi sát tới mép đồi dựng đứng sâu là đường xe hỏa Hà-nội - Lạng-sơn chạy ở dưới. Tiếng còi tàu thét vang ở khoảng đó vì sắp vào ga. Những buổi sáng mùa đông, đi bộ đến trường, quãng đường từ đầu phố chính Bắc-ninh nằm trần trụi giữa đồng với hai hàng lúc lắc xác sơ, những hơi gió thốc tê tái mặt mũi chân tay buổi sáng tinh mơ, nghe tiếng còi tàu xa xôi và ấm áp. Trí tưởng phiêu lưu buồn bã. Ngày nào đó, trong rạp hát mới lập ở Đáp-cầu, rạp Vũ Đình Bồn, chật ních người, nghe đào Ái Liên hát Tây, hát những bài cải cách đầu tiên (Tango mystérieux, J’ai deux amours... Meo, Meo, Trời sinh ra tôi kiếp con mèo) giữa những tiếng Bravo, bis của lính Tây Lê-dương, bọn thiếu niên mê say bỗng thèm khát đời sống, chưa vào tới. Chuyến xe tay đã chở hai đứa con trai mười bảy, mười tám tuổi tới đầu cầu Gia-lâm trong buổi sáng rét mướt, bùn lầy. Cái cánh gà che lấp trước mặt chỉ để hở một kẽ đục của bầu trời mưa phùn gió bấc. Giữa đồng trống, trên mô cao hai chuyến tàu hỏa đâm nhau gần ga Yên-viên mấy ngày trước vẫn còn nằm nghiêng nguyên vẹn. Tai nạn kinh khủng chỉ còn là cảnh mờ ảo sau làn mưa buốt hoang vắng. Hai đứa đi trên cầu Long-Biên vào thành phố như hai đứa nhỏ lạc đến Đảo Vàng. Nhưng một đứa đã bỏ cuộc trở về, còn một mình... Mười bảy tuổi với hai năm Bách-Nghệ và năm đồng ăn cắp của bà cô. Những ngày sống chui rúc dưới gầm sân khấu, làm chân phụ vẽ phông, phụ trông nom hệ thống đèn trên sân khấu; đêm đêm nhìn kép Huỳnh Thái đóng cặp với đào Ái Liên, thuộc dần những bài hát và lời đối thoại, lang thang trước các cửa rạp, nhìn những thành phố xa lạ mà buổi chiều đã ngồi trên xe chạy rong phố với tiếng trống tiếng phèng la, phát chương trình quảng cáo cho trẻ con. Vào đến Sài-gòn không còn muốn trở về nữa. Xứ Nam-kỳ, đất Sài-gòn, ngày và đêm, mưa và nắng, mở ra như một ngày hội bất tận. Những đêm ngủ ngoài trời sao bên hè phố, những buổi trưa trên ghế đá dưới vòm cây trong vườn Bờ-Rô, những ngày chen chúc trong các buồng xếp chữ các nhà in đợi hết giờ ngồi quán uống la-de. Bài học ái tình thứ nhất với người con gái đóng sách sau những chồng giấy cao trong một ca làm đêm. Bông. Mùi dầu dừa trên tóc, tóc sơ như tàu lá dừa dọc bên kinh lạch, thân hình mềm mại nồng ấm mát mẻ như trong đêm mưa nằm ngủ trên ván nhà sàn dựa mé sông, hai cánh tay choàng riết chi chít như cành lá trong rừng dầy, những nhịp chuyển động dồn dập mênh mông như vàm sông, như ánh nắng bọc trong gió đầy. Bông, Mỹ, Tươi... và những người đàn bà không nhớ tên, không nhớ mặt đi qua như đời sống ngày ngày giản dị tự nhiên. Và Hạnh. Những ngày đau ốm từ bưng về thành dưỡng sức, những ngày thất nghiệp để hoạt động nội thành, được săn sóc nuôi nấng. Đi về tự do như nhà riêng, nằm trong buồng có lối mở ra bụi tre bên chuồng ngựa, bóng Hạnh ra vào dịu dàng; đêm đến Hạnh rón rén vào mùng nằm rúc trong tay run rẩy, nhẹ hẫng như cơn gió trong bụi tre già chạy tới đám gò mả hoang phế. Tiếng kêu phải dấu nghẹn trong ngực trồi sụt như tiếng nấc, thân thể như cơn trốt cuốn giữa buổi trưa nắng, như con nước xoáy quanh chân cầu đá, miệng lưỡi ngọt ngào như hương thơm trong ruộng mía, những giọt nước mắt bất ngờ như sương của buổi mai cuối năm... Hạnh. Từ biệt Hạnh. Vậy mà bỏ đi? Trở về? Cái gì đã khiến mình trở về?...
Liêm bỏ tay vào túi quần, lấy ra gói khăn tay cuộn tròn Hạnh đã dúi vào tay lúc sáng sớm khi vắng người và dặn: “Chỉ khi nào tàu chạy rồi anh mới được mở coi”. Liêm nắn cái gói được cột chắc, mở thận trọng và nhìn thấy những tờ giấy bạc mới. Một ngàn đồng. Hạnh đã dành dụm bao nhiêu lâu để có chừng này tiền? Dưới giòng nước đã thấy những vùng xanh thẫm màu lá pha trộn với màu đen nhạt. Bờ cây lùi tít, mở rộng chân trời đằng trước mặt. Tiếng ì ào ngoài khơi còn xa. Nhưng trong không khí bay những bụi nước đáp phớt qua mặt. Trời nắng sáng gắt nhưng bị gió lộng thổi nhạt. Liêm vẫn đứng tựa lan can đón nhìn biển. Trên boong cao hơn, dành cho hành khách hạng nhất, ba người đàn bà, một Tây phương hai Việt-nam, nằm trên ghế ngả, mắt đeo kinh dâm ngửa nhìn trời. Đứng trước mặt họ, chống thẳng hai tay vào thành sắt, một sĩ quan hàng hải đang chỉ chỏ giải thích. Màu nước mỗi lúc một xanh kín, tiếng sóng động nghe rõ dần, bờ cây biến mất trong tầm mắt, nhưng mặt nước lại như phẳng lặng hơn; Máy tàu kêu lớn hẳn như gia tăng tốc độ. Một phút bàng hoàng mất phương hướng, Liêm cố gắng đưa mắt tìm kiếm trong khoảng lục bao la cửa sông tàu vừa ra khỏi. Gió dẫn êm hơn trong vận tốc đều hòa của con tàu chạy trên một mặt phẳng, nhẵn hết sức của thị giác. Liêm chờ nghe cảm giác nôn nao của cơn say sóng, sẽ tới nhưng tịnh không thấy; chỉ thấy hai chân và hai tay mỏi nhừ; nhìn đồng hồ tay Liêm biết mình đã đứng chôn chân một chỗ gần hết buổi sáng. Ở chỗ khuất nào sau lưng Liêm nghe tiếng cười nói lớn với nhau: đến Ô Cấp, tàu đậu lại một giờ, ăn bữa cơm trưa xong mới khởi chạy.
Liêm quay trở lại, tưởng như tàu không còn chạy nữa, tiếng nước vẫn sủi bọt réo hai bên thân tàu, nhìn thấy đằng xa những bóng núi Cap St. Jacques. Liêm leo qua những đống giây chão lớn cuộn tròn ném trên sàn tàu, hơi cúi thấp đầu giơ tay vịn những sợi giây cáp giăng chếch ngang lối đi, bước vào khung cửa sắt nhỏ gần đuôi tàu, tụt lui xuống hầm.
Dưới hầm thiếu ánh sáng, bức bối ngột ngạt và huyên náo như cái chợ vỡ. Chừng một đại đội lính Việt-nam di chuyển cùng gia đình. Kẻ nằm người ngồi la liệt trên các giường kép chồng chất không đủ, phải trải bạt nằm dưới. Quân trang, vật dụng chắn lối. La lối gây gổ tranh dành giường nằm, chỗ tốt; kêu gọi tìm kiếm nhau ơi ới; trẻ con khóc la dẫy dụa; đàn bà kể lể ồn ào; ga-mên chén đũa khua loảng xoảng... Ngồi trên một giường cao gần một cái lỗ tròn che mi ca đục để lọt ánh sáng trời vào, Liêm nhìn xuống vẫn thấy nhiều bóng tối hơn ánh sáng. Liêm nghĩ đến ba ngày ba đêm trong gian hầm tối lúc nhúc những người này và nhớ tới không khí thoáng lộng trên đầu. “Cơm”, tiếng gọi vọng từ trên cửa hầm vang xuống và gian hầm di chuyển rầm rập như một đám biểu tình xô đuổi nhau chạy tán loạn. Liêm nằm xuống gối đầu lên chiếc va-ly của mình, bỏ bữa cơm đầu tiên trên tàu vì không thấy đói, thiếp ngủ trong những tiếng động hỗn tạp kéo dài của bữa cơm quây quần chật chội dưới hầm tàu. Lúc tỉnh dậy, Liêm nghe tiếng sóng vỗ ào ào bên ngoài thân tàu, ghé mắt dòm qua lỗ hổng, thấy trời vẫn còn sáng và mặt biển xanh đục chông chênh nghiêng ngả. Xung quanh bắt đầu nghe tiếng nôn ọe say sóng và tiếng la lối nguyền rủa vì dơ dáy, trẻ con ré khóc từng cơn. Bữa cơm buổi chiều đã bớt sức khua động náo nhiệt, Liêm cũng cảm thấy cơn say nôn nao trong ngực, không muốn trở dậy, nằm im trên giường lơ mơ thiêm thiếp.
Giấc ngủ kéo dài theo cơn say. Sóng vỗ mạnh, lắc lư giường nằm, bắn tung tóe trên lỗ tròn hổng vào đêm không nhìn được. Những ngọn điện mờ soi gian hầm im lặng tức thở. Đêm biển hung dữ ghê gớm. Tất cả những người nằm giường xung quanh đều mê mệt. Chốc chốc tiếng ói mửa khiếp đảm. Thấp thoáng trên giường cao ở một góc vài ba người còn khỏe chụm đầu đánh bài thâu đêm. Tiếng nói âm vang trong gian phòng bị sóng lớn bên ngoài òa tạt. Và giấc ngủ cũng bị vùi lên dập xuống tơi tả chông chênh. Không còn thể phân biệt phương hướng thời gian. Chỉ còn tiếng sóng ì ào bất tận, đêm tối triền miên kín mít trong ánh đèn mờ đục không đổi thay, buổi sáng ẩm ướt nhớp nháp lạnh lẽo như mặt mi-ca. Người nghe nhẹ thênh như thoát sác, không ghi giữ thời gian, thần trí vài lúc tỉnh táo sáng suốt tách rời. Những người đánh bài vẫn mê mải im tiếng. Bước chân vụng về dẫm trên sàn sắt lùng bùng. Một vài lời nói ngắn trao đổi vu vơ. Nghe trên boong người đi lại tự nhiên. Tàu chừng như hãm bớt tốc độ.
Cớ sao anh lại có ý định về Bắc? Cớ sao? Có phải vì mệt mỏi chán nản? Có phải chăng? Heureux qui comme Ulysse a fait un beau voyage... Chợt nhớ câu thơ từ ngày còn đi học. Không phải. Nhất định không phải thế. Buổi sáng nhớp nhúa này cũng giống như buổi sáng khi được thả khỏi bót Catinat. Cơn mưa chực sẵn trên nóc nhà thờ Đức Bà. Ba tháng, nằm ngay ở đầu phố sang trọng trung tâm Sài-gòn, gần những tòa nhà lầu cao ngất đẹp đẽ, trong một sân si-măng vuông bị vây bởi ba bức tường cao và một rào sắt như một chuồng thú cùng với hằng trăm nhân mạng khác. May mắn thì có được một chỗ nằm co cẳng, còn không thì ngồi khép cứng, không co ruỗi nổi tay chân; ăn ở đó, bốc bằng tay trong các ống lon, các tấm áo rách buộc túm, trên mảnh giấy báo mảnh lá bẩn, tiểu tiện ngay ở đó trong mấy cái ngách hẹp cũng ních người. Mối hy vọng duy nhất, mối hy vọng khiếp đảm tự vùi tắt: được thẩm vấn xong để được chuyển đi nơi khác; thiên đường mơ ước là khám lớn, sang khám lớn là được biết rõ số phận của mình. Còn ở trong khoảng sân ấy, dưới một khoảnh trời luôn luôn âm nặng những ngày mưa, phơi mình trong khắc khoải và hốt hoảng, thân thể như một đám sình hôi hám bốc cháy đau đớn; bị dựng dậy bất cứ lúc nào trong đêm dẫm lên những tay chân đùi bụng đầu la liệt trước mắt đi qua cánh cửa sắt vào trong hành lang để tới phòng lấy cung. Không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì chỉ còn những xúc động tả tơi rách mướp như da thịt, thần trí hôn mê ngất xỉu trong cơn tra tấn. Rồi được vực trở về ném trả vào sau cửa sắt, nghe những bàn tay chà sát muối ớt lên những vết thương rướm máu, nghe tiếng la hét ở đâu trong miệng mình, nghe những lời an ủi vỗ về. Người khác là những cơn đau đớn dự tưởng, khi mình ở ngoài dương mắt ngó. Những thiếu nữ, thiếu phụ bị dí điện vào vành tai, vào đầu nhũ hoa, cửa mình, bị chấn nước dốc ngược, bị treo bằng giây thép ở cườm tay, cổ chân, ngón tay... Tiếng kêu thất thanh không thoát khỏi những bức tường lót dạ ngăn tiếng động. Trong đêm bó gối ngồi nhìn những ngọn điện treo trên bốn góc đầu tường, nhìn đám người co quắp liệt rũ khốn nạn hèn mọn khắp sân, những cơn mê sảng dẫy dụa, âm vang của những cơn hành hạ thể xác. Đàn ông đàn bà lẫn lộn ngốn ngang nhưng không ai muốn mó tới thân thể người khác. Những người được kêu đi, không trở lại; những người mới tới ngơ ngác khiếp hãi trước cảnh tượng trong sân... Những tiếng hát cố gắng để xô đuổi sợ hãi bị dập tắt ngay vì những làn roi cá đuối. Những rì rầm to nhỏ bị quét sạch bởi những vòi nước sịt mạnh. Co rúm lại, co rúm lại mãi như hy vọng chịu đựng. Cơn sốt, cơn say, cơn mê hoảng phủ chung mọi người. Thoát khỏi nơi đó như được sống lại một cách mầu nhiệm, không biết lý do. Nằm ở nhà Hạnh được săn sóc, chữa chạy, nghe nỗi sợ hãi vây bọc cùng bệnh hoạn. Bỗng nhiên trở lại tình cảnh của đứa bé mồ côi lưu lạc với những bất trắc thiếu thốn của đời mình. Có phải vì thế tôi muốn trở về? Nhưng tôi còn gì ở nơi đó để tìm về? Một bà mẹ đã tái giá. Một đứa em trai. Tôi không còn gia đình, không còn quê hương. Đứa trẻ sống nhờ từ nhỏ, đã lớn lên, đã lưu lạc bỗng khiếp hãi, phải chăng? Và tôi chạy trốn sự sợ hãi? Có lẽ, có lẽ vậy. Những người cùng hoạt động, cũng bỏ rơi; anh Xuân đến thăm và bảo: “Chú tạm nghỉ công tác. Tĩnh dưỡng cho bình phục. Lấy lại tinh thần đã. Sau đó sẽ hay”. “Tôi muốn được làm việc lại”, “Lúc này tạm rút. Nhiều thay đổi lắm. Chú cứ yên tâm, lúc nào cần tôi sẽ cho người liên lạc với chú. Tạm chú đừng liên lạc với tôi”. “Tôi làm gì bây giờ?” “Tùy chú, chú được tự do trong thời gian này”. Muốn sống chung với Hạnh nhưng cũng sợ hãi nốt cái dự tính của mình. Không một chỗ nào là của tôi cả.
Trong hầm chợt náo động hỗn loạn như lúc mới xuống, mọi người nhốn nháo sửa soạn đổ bộ. Tàu lướt êm hơn, mặt biển thật phẳng ngoài cửa tròn nhỏ. Từ trên cửa hầm, những người đã thoát lên kêu gọi ơi ới vọng xuống. Tourane, Tourane. Lại những tiếng cãi cọ giành giựt vật dụng, trẻ con la ré, như mắc chứng động kinh, chân dẫm thình thình trên sàn sắt tàu... Liêm tụt khỏi giường, leo vội lên boong. Buổi sáng ở trên thật trong, mặt biển xanh mát tới cùng chân trời. Lần đầu ngoài biển cả Liêm thấy những cánh buồm thuyền đánh cá lênh đênh nhỏ bé.
Cảm giác tỉnh táo sảng khoái gợi thức dần dần cơn đói mệt. Sờ lên mặt nhớp nháp ẩm ướt râu mọc tủa. Tàu vẫn chạy tới gần phía núi mờ, nước reo sủi bọt trắng bên mạn. Đằng đuôi tàu, một người Pháp ngậm ống điếu thản nhiên ngồi trên một gù sắt thả giây câu. Lạnh tê trên hai bàn tay dài gầy nắm trên vòng sắt, lan dần khắp người hốc hác nghe thấy rõ ngày thứ hai trên tàu, đã hai mươi tám Tết. Bước chênh vênh trên boong có cảm tưởng dễ tuột ngã lăn xuống biển. Liêm trở xuống hầm ngồi trên giường ngắm nhìn những gia đình binh sĩ sửa soạn lên bờ, ngủ thiếp một giấc nữa. Khi tỉnh lại gian hầm vắng tanh im lặng.
Tàu đậu lại ngoài khơi Tourane nửa ngày. Dường như một trận bão đang thổi ngoài biển Nam-hải. Liêm nghĩ tàu có thể quay trở lại Sài-gòn và mình chắc chắn sẽ bỏ qua chuyến về Bắc. Sẽ ở lại xóm Đồng Ông Cộ với Hạnh hay sẽ ra bưng? Nhớ ngày quân Pháp mới đổ bộ, làm hướng đạo cho một đơn vị ngoài Bắc vào từ Biên-hòa về Gia-định, đã thấy mình hoàn toàn cách biệt với những người đồng hương. Khoảng mười giờ tối, đơn vị qua cầu Bình-lợi yên lành, đến cầu Băng-ky chỉnh tề đội ngũ cất tiếng hát tiến vào thành phố Gia-định. Đường không bóng người lai vãng, chỉ có tiếng hát và bước chân anh hùng rầm rập. Ngoài lộ bàn ghế tủ giường trong các nhà chất đầy giăng ngang làm hàng rào chướng ngại vật cản lối địch. Đơn vị được lệnh tản mác bố trí khắp các ngõ hẻm, núp dưới hầm hố dân chúng đào tránh bom Đồng-minh, nhưng đến hai giờ sáng lại được lệnh tức tốc rút lui về Biên-hòa; lệnh không thông báo kịp nhiều người bị bỏ rớt đến mờ sáng phải cải trang lẩn lút trốn ra khỏi thành phố. Chính đêm đó, đã nằm bên bụi tre nhà Hạnh, Hạnh đã mang chuối và bánh ra cho ăn; lúc vào cám ơn Hạnh để rút, Hạnh cũng đã tưởng mình là anh chiến sĩ lặn lội từ Hà-nội vào Nam. Ba giờ sáng còn sục sạo trên đường Ba-tay kiếm một anh tiểu đội trưởng thất lạc, gõ cửa những căn nhà rộng thênh không bàn ghế để hỏi thăm. Nghe các anh kể chuyện Hà-nội mà háo hức nhưng vẫn nhìn thấy họ không giống như mình; lịch sự kiểu cách văn chương ngay cả trong khi bần cùng nguy khốn có cảm tưởng họ không phải là những người đã vượt cả ngàn cây số đến. Có lẽ mình đã bị Nam hóa, miền Bắc đã bị xóa nhòa nơi mình? Vậy mà mình hiện đang ở trên đường trở về. Hạnh nói: “Anh về quê hương xứ sở của anh. Biết bao giờ anh lại trở vô. Con gái Bắc...” “Không. Anh về cho biết tình hình. Thể nào anh cũng vô lại. Nếu anh giàu anh đã đưa em cùng về chơi”. “Không ai về xứ mà còn muốn đi nữa. Em cũng vậy”. Hạnh muốn được kể cho nghe về miền Bắc, muốn biết thành phố mình sẽ đến để nàng có những căn cứ tưởng tượng khi nhớ nhung. Lúng túng và bối rối, không thể giảng cho Hạnh hiểu, tôi không có nhiều kỷ niệm với miền Bắc ngoài những năm thơ ấu đau buồn; tôi nhớ rõ những thành phố khác trên đường lưu lạc hơn cả Hà-nội; tôi không có quê hương xứ sở, chỉ có một cuộc đời phải sống mang theo mình.
Liêm mở va-ly, tìm chiếc áo dạ đã bị dán nhấm nhiều chỗ; chiếc áo của Tường tặng cho khi Liêm đến báo tin từ biệt. “Tháng này ngoài ấy lạnh phải biết. Chú cầm lấy xài đỡ. Chắc tôi không bao giờ dùng đến nữa. Kỷ niệm của tôi đấy. Tôi mang từ ngoài Bắc vào”. Trừ người thân, không mấy ai biết gốc tích của Tường. Anh vào Nam đã hai chục năm, lấy vợ Cần thơ, sinh năm đứa con, sống nguyên trong một xóm, xóm Lách gần cầu Mạc-ma-hồng, từ khi nghèo khổ độc thân cho đến khi phong lưu lập được gia đình. “Quê hương tôi là đây. Dù mai kia có yên ổn, tôi cũng không bao giờ dại dột mà về làm gì. Tôi không hiểu chú nghĩ thế nào”. Cười trừ. Anh đã bỏ nghề họa sĩ, làm maître d’hôtel cho một khách sạn lớn, và là ủy viên kinh tài của tổ chức; chính anh giúp Liêm xin giấy tờ thông hành, cấp vé tàu và một món tiền hai ngàn đồng với hai lá thư giới thiệu hai người quen: một ở Hà-nội, một ở Hải- phòng. “Quý lắm đấy. Vợ tôi đòi bán ve chai, tôi không chịu”. Liêm mặc áo, leo lên boong, trong bụng đói cồn cào. Nhiều hành khách vừa ăn cơm trưa xong đang đi dạo, ngắm nhìn hải cảng ở trong. Thành phố ở xa trông như một đường viền cao hơn bờ bể, núi tím thẫm. Liêm tìm vào phòng ăn của hạng nhì, điều đình với người đầu bếp chính đang thu dọn bàn, mua lại một phần ăn của khách bỏ không dùng. Anh đầu bếp vận âu phục tím, trịnh trọng như một nhà trí thức, bằng lòng cho Liêm ăn không lấy tiền, còn gọi thêm cho Liêm một cốc cà phê sữa. Có lẽ mấy bữa hắn không có người chuyện trò nên gặp Liêm hắn nói thao thao suốt buổi. Chuyện bên Tây, bên Tàu, những nơi hắn đã đặt chân đến, những kiến thức thâu hái được, những nhân vật trí thức danh tiếng mà hắn đã gặp trên tàu này và hắn đã có dịp nói chuyện bàn luận về các vấn đề hệ trọng. Liêm chỉ lặng thinh ngồi nghe, đợi tiêu bữa ăn và nghĩ: đúng là dân Bắc-kỳ sạo ke. Để làm hắn khỏi thất vọng, Liêm cũng đã nói khoác mình là dân buôn lậu giang hồ, bị mắc kẹt ở Nam-kỳ vì thời cuộc, bây giờ tay trắng trở về quê hương. “Tôi tính về bán mấy cái nhà ở Hà-nội, để dựng lại cơ nghiệp”. Liêm cười thầm: chính mình cũng bắt đầu trở thành dân Bắc kỳ, chỉ mới trong một nửa con đường trở về.
Trở xuống hầm một lúc, Liêm nghe tiếng ca-nô mang hành khách từ Tourane lên tàu. Trong gian hầm thêm được ba người nữa, chiếm ba giường dưới thấp kế bên; Đó là một gia đình về quê ăn Tết gồm hai vợ chồng trẻ và người em gái. Khi tàu tiếp tục cuộc hành trình vào lúc bốn giờ chiều, trời vẫn còn trong sáng. Ngủ một giấc, thức dậy không còn thấy lỗ hổng bên mạn tàu nữa. Đèn trong hầm đã thắp soi những hàng bù-loong tròn nhẫn và những chiếc giường sắt tênh hênh không người. Gió gào ở bên ngoài át hẳn tiếng máy. Liêm tụt khỏi giường, dẫm phải những bãi nước nhờn chơn, nhìn ba người thiêm thiếp như xác chết, định lên phòng ăn. Vừa leo đến cửa hầm, nước tạt hắt vào mặt, gió thổi rú đẩy lui lại sau, phải bám chặt vào tay thang sắt lùi xuống định thần. Tàu bắt đầu đi vào vùng bão thổi. Những ngọn sóng nhào khỏi thành tàu, rớt trên boong bắn tung tóe như cơn mưa lớn từng chập. Biển đen kịt và đặc kín tiếng sóng cuồng nộ. Liêm đành trở xuống hầm về giường lao đao. Vừa nằm xuống nôn thốc. Đầu buông rũ ngoài thành giường, hai tay nắm chặt hai bên, nghe người bị nhồi lắc lư. Con tàu bị nhấc bổng, ném xuống sâu từng hồi không dứt, lắc lư nghiêng ngả. Không nhìn thấy gì nữa, nước mắt nước mũi ròng ròng, chỉ nghe tiếng đồ đạc để dưới sàn lăn từ phía này sang phía khác bừa bãi khắp cả gian hầm rộng. Nôn mửa đến quặn ruột gan, miệng đắng ngắt và thiếp ngủ co quắp trong chiếc áo dạ. Một đêm mệt lả. Nhiều lúc thoáng nghe như con tàu liệt hết máy và chỉ được sóng đưa đi một cách chậm chạp. Ngày hôm sau, sức gió đã giảm nhưng mưa như trút. Nhìn qua lỗ hổng, trời như một buổi chiều dài quá. Con tàu vẫn nghiêng ngả nhồi lắc. Liêm vẫn nằm liệt thu mình trong áo, đèn trong hầm thắp cả ngày. Những người ở giường dưới đã phều phào trao đổi được vài câu ngắn. Người vợ thề không bao giờ chịu đi tàu thủy nữa và hỏi chồng về những món hành lý lặt vặt. Đồ vật được mấy người làm tàu thu gọn lại, những người ấy đều mặc áo dạ dầy, mũ và khăn chùm kín đầu cổ. Một người nói: Nốt hôm nay nữa thôi, mai là các ông các bà khỏe rồi. Khoảng cuối đêm ấy, mưa vẫn lớn, gió còn thổi nhưng sóng không còn nhồi. Giật mình thức giấc, giá buốt cả tay chân. Mùa đông, tôi đang ở trong mùa đông. Từ xứ mùa hè tôi đã vào tới xứ mùa đông. Không còn nghi ngờ gì nữa.
Sáng ngày cuối cùng trên tàu, trời tạnh ráo. Cùng ba người khách đồng hạng lên boong ăn bát cháo nóng với đậu om, bữa điểm tâm của hạng ba. Con tàu vẫn còn đong đưa nhẹ nhưng người thật tỉnh táo. Xoa hai bàn tay vào nhau, há miệng thở nhìn khói bốc ra trắng nhờ như màu trời. Những đầu ngón tay nhăn lại nhưng khi vuốt lên mặt thấy da căng lên. Tiếng người thiếu nữ chuyện trò với chị, giọng nói trong và ấm, giọng nói thuần chất du dương đã lâu lắm mới được nghe lại. Gió thổi tê rát cả mặt mũi nhưng trong cơ thể tưởng đã đuối liệt hơi nhiệt vẫn bốc ra. Liêm lân la làm quen với người chồng, gia đình anh ta về Kiến-an ăn Tết. Anh làm interprète cho quân đội viễn chinh. Trông anh cũng là người có học, Liêm không hiểu lý do khiến anh chịu làm công việc hèn hạ. Liêm nghĩ đến những cuộc bố ráp, phải ngồi cả buổi giữa trưa nắng, đội chiếc bao bố với hai lỗ nhìn, chùm kín mặt tên điểm chỉ, đi qua nhận diện từng người, theo sau chiếc bao bố là bọn sĩ quan, hạ sĩ quan Pháp và duy nhất một tên thông ngôn Việt-nam. Liêm nói: “Tôi ở trong Nam lâu quá nên chẳng hiểu tình hình ngoài Bắc thế nào”. Anh ta thú thực miễn cưỡng mới phải làm cho Tây, thực tâm không muốn. Anh nói: “Bọn quốc gia thối nát quá. Mình đến thua Cộng-sản mất thôi”, “Cộng-sản nào?” Anh ta chăm chú nhìn Liêm, bật cười và nói lảng sang chuyện khác. Liêm cố gắng lái trở lại câu chuyện: “Tôi chỉ thấy có kháng chiến thôi”. “Không đơn giản thế đâu. Quê anh ở đâu? Anh cứ thử về quê anh khắc rõ. Về đâu? Quê anh ở đâu? Bắc-ninh? Đó là một thị xã nơi tôi sống nhờ. Cái làng nhỏ trong tỉnh Hà-đông, trên bờ sông Hương tích. Làng của mẹ tôi, tôi đã về một lần từ ngày nhỏ đến nay không nhớ nổi tên. Quê nội? Tôi không biết”. Con tàu lướt êm trên vùng biển lặng. Gió lạnh nhạt nhưng giá buốt. Người thiếu nữ ngồi trên giường chải tóc, hát nho nhỏ bài hát thật hay được nghe lần đầu. Về đây khi gió mùa thơm ngát, ôi lũ chim giang hồ... Đáng lẽ không nên trở về. Quê hương tôi không phải ở đây. Mọi sự đều mới mẻ, xa lạ. Tôi đã đi quá xa và biết bao nhiêu thay đổi trong chừng ấy năm. Tôi không có chung những kỷ niệm với những người tôi sẽ gặp. Trở lên boong một mình, làm quen với hơi gió bấc. Mặt nước xanh trong khác hẳn. Vẫn còn nghe tiếng hát của người thiếu nữ vọng lên qua cửa hầm đằng sau lưng. Bỗng nhiên tiếng còi tàu kéo lên như lúc khởi hành. Tiếng còi tắt trên một vùng mênh mông vẫn chưa thấy bến bờ. Trên boong cao nghe tiếng cười nói vui của những người đàn bà và chợt nghe ra giọng nói của mình lơ lớ không thể giấu giếm được.
An bước ra khỏi ngõ, thu hai tay trong túi áo, mắt cúi thấp, mũ dạ đội trên đầu. Hai bên hè phố vắng người, một vài đám trẻ chơi pháo siết quanh các cột đèn. Các mặt nhà đóng cửa hoặc chỉ hé mở cửa chính, trên các cánh cửa dán giấy điều, tranh Tết sặc sỡ. Ba mươi Tết, hôm nay đã ba mươi Tết. An đi lên cầu, vào thành phố. Dưới sông trong những khoang thuyền tối thấp thoáng ánh hương nến trên các ban thờ bầy ngay trên chiếu hoa phủ sạp thuyền. Những ống khói xưởng máy nhô cao khỏi những nóc nhà nhấp nhô một bên bờ sông, không còn hoạt động, lên một bầu trời thoáng nắng nhưng vẫn còn rét. Bên kia, con đường chạy qua khúc sông cụt bẩn thỉu rác rưởi chật ních thuyền bè, đến trước công trường nhà hát thành phố, thẳng mãi đến những phố tây sạch sẽ sang trọng. Ngoài phố xe cộ thưa thớt, những người đi xe đạp thong dong. Mùi khói hương trong các nhà bay tỏa ra ngoài hè; trước các bàn thờ cỗ đã bầy chờ giờ cúng.
Không thể về nhà nhưng không biết đi đâu? Cần một bữa cơm và tiền... Nhà, không nên nghĩ đến, không phải là nhà của mình... Tôi không có cái gì là của tôi. Tôi bây giờ chỉ là một tên ăn bám, ăn bám vào một con đàn bà cũng chẳng ra gì. Đêm nay, mai, ngày kia, ngày kìa... An móc chiếc tăm nằm lẫn giữa bụi mốc trong kẹt túi, đưa lên miệng xia. Một thiếu phụ sực nức mùi nước hoa, vượt qua, quay nhìn vào mặt sỗ sàng trước khi bước vào một nhà gần đấy. Chẳng còn gì để xấu hổ cũng như chẳng còn gì để kiêu hãnh. Vẫn có thể về nhà, nói những câu bông lơn lấy lòng từ thằng bé con không được hưởng ứng, chờ bữa cơm ngồi vào bàn ăn dù không ai mời không đếm xỉa đến vẻ lãnh đạm khiêu khích của Phúc; nếu về muộn sau bữa cơm, tự động xuống bếp lục trạn tìm thức ăn nhai một mình ở bàn như con mèo đói giữa những cặp mắt soi mói của mọi người, rồi nằm thui thủi ngoài đi-văng để ngoài tai những lời cạnh khóe châm chọc của Phúc, của đứa ở, tự nhủ: bọn đàn bà nhỏ nhen. Đàn bà bần tiện, không nhìn được gì hơn ngoài những nhu cầu hằng ngày. Nhưng tôi? Tôi còn gì? Một thảm kịch hiện hình trong cái đời sống lê lết, khốn nạn này. Một thảm kịch, tôi là một thảm kịch? Một cái bóng mập mờ vang ngân của những gì đã qua rồi, đã tắt rồi. Chỉ là sự hèn nhát kéo dài mãi cùng ngày tháng, sự hèn nhát thoi thóp như hơi thở, như ánh trời buổi trưa cuối năm này. Hèn nhát. Nhưng nếu không, tôi làm được gì hơn? Làm được gì hơn nào?
An đứng lại trước nhà hát, nhìn vào phố Cát Dài, có thể trông xa. Trong những buổi trưa hè nắng bụi, đã đi lang thang bên hè, đôi săng-đan đất đóng thành cục trơn dưới gan bàn chân, mồ hôi chảy ròng nhờn bẩn, mắt mờ hẳn, miệng há hốc cứng lại và ngửa tay xin tiền người qua lại. Không quen thuộc với ai, quả tình tôi là tên ăn mày lạc lõng không nhà cửa, không thân thích. Tôi sống qua ngày để chờ dịp trở lại quê hương. Tôi vừa ở tù ra, cần tiền xe về... An liệng chiếc tăm xuống cỏ, nghe chân răng ngứa ngáy, thèm những ngụm nước trà bỏng rát lưỡi làm trơ hết cả vị giác. Con phố bên trái chạy men theo vườn hoa, vào giữa hai hàng cây xanh và biệt thự im lặng hoàn toàn. Sự im lặng thanh nhã của cái thế giới tôi đã bỏ đi không muốn ngoái cổ nhìn. Đã bỏ đi và không khi nào còn trở lại. Chỉ còn chừng ấy thôi. Ít nhất còn chừng ấy, với mình, để không ai có quyền phán đoán mình ngoại trừ mình. Tôi có thể làm mọi điều để giữ được điều ấy. Không ai hiểu như thế cả. Tự dưng nghe một nỗi nhớ mông lung làm chảy nước mắt. Nước mắt dưng không như vậy. Những giọt nước mắt sẽ khô lạnh thành ngấn trên gò má xương sầu. Và sẽ không còn nữa. “Anh khóc... Thôi anh đừng khóc nữa. Đàn ông như anh tồi lắm. Anh không nuôi nổi mẹ con tôi thì tôi phải đi làm chứ. Chẳng nhẽ anh muốn mẹ con tôi chết đói hay sao? Tôi đi nhảy chứ phải tôi làm đĩ đâu mà anh ghen”. Không, không đó là những giòng nước mắt bất lực. Tôi không làm gì được cả, râté hoàn toàn. Phúc đi nhảy như thế Phúc đã hơn xưa. Nhưng còn tôi? Những đêm nằm trong nhà, nghe tiếng chân Phúc trở về cùng tiếng cười ròn vui trong ngõ vắng nín bật khi đến trước cửa, phải nín thở như ngủ say không biết. Một đêm lần mò đến nơi làm việc, ngồi trong một góc nhìn Phúc nhảy với những tên Lê-dương say mèm và cười một mình như một triết nhân. “Anh đến đây làm gì? Về đi? Đừng sinh chuyện. Anh cần tiền phải không? Anh cầm lấy đến chỗ của anh đi”. Ở ngoài đường, đêm rét cóng đặc gió. La Cumparsita... Khúc nhạc ấy vẫn còn lại như một dấu vết không bôi xóa được. Cuộc đời không phải là một thí nghiệm, tôi đã lầm, không bao giờ là một cuộc thí nghiệm. Rồi những tên đàn ông đến tận nhà đưa đón Phúc, lẩn mặt vào buồng trong nhìn đứa bé con gọi mình bằng cậu và con ở nhưng chẳng tự coi ngang hàng. Không còn cả sức ham muốn để khiến nó phải kiêng dè nể mặt. Một cái bóng khốn nạn. Khốn nạn, nhưng biết làm gì hơn?
An đi dọc theo đường Cát Dài, kiểm lại những nhà quen có thể gõ cửa. Người ta sẽ không cần dấu diếm vẻ ghê tởm khinh bỉ khi trông thấy mặt. Nhưng không thể không tiếp, người ta cũng không đủ can đảm để xô đuổi ngay tức khắc. Vừa ngượng ngùng, vừa khoái trá ở giữa sự lúng túng khốn khổ của nạn nhân. Chúng ta biết nhau quá rõ và chúng ta vẫn diễn mãi một tấn kịch giả trá. Moi cần một món tiền, con đau nặng, vợ đau nặng không đi làm được... Bao nhiêu? Một trăm, hai trăm, năm ba chục cũng được. Moi sẽ trả. Không cần, lần này là lần cuối đến phiền toi cũng ngượng chứ. Cám ơn, không bao giờ moi dám quên ơn toi. Không, lần này sẽ khác hơn những lần trước. Ông cụ moi ra Hà-nội, toi xem báo thấy chứ. Moi cần tiền tầu lên gặp ông cụ, về moi sẽ thanh toán ngay. Moi cần năm trăm, cố giúp moi như toi cứu người sắp chết vậy. Moi không không khi nào quên ơn toi đâu. Hà-nội, ở, tại sao không về Hà nội? Tôi sẽ đi lại trong thành phố mấy ngày Tết rồi lại biến mất như bóng ma. Không phải trở về với gia đình. Về Hà-nội thôi, để nhìn lại... Nhìn lại gì? Thành phố này chật chội, bụi bậm quá ngay trong mùa đông. Sẽ đi lại những con đường phố cũ, sẽ ngồi lại trên những bờ hồ, mùa này lộng gió và xanh mướt. Bước vào trong ngôi nhà yên tĩnh bên vườn tược nhìn Đồng thanh thản đọc sách. Hai năm, chưa đến, tôi như đã sống hết một đời mình, còn nó vẫn là thằng si tình, si tình muôn thuở. Không hàng quán nào còn mở cửa, An thèm một tách cà phê đặc đắng đến ứa nước bọt, dừng chân bên đường xe hỏa chạy xuyên ngang phố châm một điếu thuốc lá thay thế. Điếu thuốc rách hở hút không thấy khói nhưng vẫn ngậm trên môi. Rất có thể sẽ gặp ông bố ngoài đường; ông hỏi: “Bây giờ mày làm gì? Mày đã sáng mắt chưa con? Mày vẫn còn kịp thì giờ để làm lại cuộc đời mày”. “Làm lại. Có gì đâu con phải làm lại. Con rất bằng lòng về con như thế này... Chính con muốn. Cậu mợ yên tâm”. Sẽ chia tay như thế nào? Ông bảo: “Dù sao mày cũng là con tao... Cầm lấy món tiền này và nhớ là mày chẳng làm nên trò trống gì đâu con ạ”. Một món tiền. Bao nhiêu? Sẽ từ chối, nói: Không, tôi không cần. Sẽ nhận, cũng vẫn chẳng còn kiêu hãnh nữa. Thế thôi. Không phải, ông ta ngồi trong ô-tô, có người hộ vệ và không nhìn thấy hai bên vỉa hè. Chỉ có tôi trông thấy ông. Không đi qua nhà cũ, không qua những nhà quen gia đình và khỏi gặp ông. Ở ngoài phố, ông cũng như người khác không liên hệ.
