favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Phần thứ ba - Chương II (I)

I

 

Trời trên ô cửa kính xám ngắt như màu mái tôn. Mùng một Tết. Năm mới rồi. Người nằm bên cạnh vẫn ngủ mê, rớt rã lòng thòng, thở phì phò mặt tái mét. Hắn còn phải ngủ đến trưa mới tỉnh nổi. Liêm bước xuống giường đi về phía buồng tắm, dừng lại giữa phòng. Dưới sàn gạch hoa, vũng mửa hồi đêm chưa khô hết lầy nhầy, thoảng bốc mùi hôi chua. Không nghe một tiếng động ngoài đường cũng như ngoài cửa buồng. Khuôn mặt nhăn nhúm đáng thương. Trong phòng rửa mặt, nước nóng vốc lên mặt làm tỉnh táo, cảm giác mới mẻ bén nhậy sau mấy ngày ê mòn. Tiếng còi xe hỏa rúc trong ga vẳng bên ngoài cửa kính.

Liêm thay quần áo, xếp dọn va-ly xong, đến đứng cạnh giường nhìn người đang ngủ. Mắt khép không kín hở lòng trắng. Phải đi cho kịp chuyến, không thể đợi, Liêm gọi: “Anh…” nhưng quên mất tên. Dưới lần da cổ mốc và cáu ghét, tiếng rên khe khẽ. Liêm kéo tấm áo da bị đè dưới chăn, hắn lăn quay người phía khác những vẫn không dậy. Liêm đặt tay lên trán nhờn ráp và yên tâm, mong là anh chàng không tự tử. Ngoài hành lang, cầu thang, buồng tiếp khách lạnh tanh. Khách sạn vắng lặng, lầm lì, không một hương vị, màu sắc của ngày Tết. Ngày Tết. Có cả mười năm không biết cái Tết là gì. Và có lẽ cũng sẽ chẳng còn được biết nữa. Nơi caisse, một thiếu phụ tươi cười chào đón. Nụ cười đầu tiên từ khi đặt chân lên đất. Liêm trả tiền phòng một ngày, cười khì che đậy vẻ lúng túng không quen khi nhận lời chúc mừng đầu năm của thiếu phụ. Bà ta sẽ nghĩ là mình bất lịch sự khi mình chỉ biết cám ơn nhưng có biết đâu cái thói quen mừng tuổi theo công thức có sẵn mình đã mất. Liêm nói: “Trên phòng vẫn còn một người ở lại”. Thiếu phụ lộ vẻ ngạc nhiên, lật số cái dò xem. “Ông ấy có lẽ ăn Tết ở đây và sẽ thanh toán tiền phòng sau”.

Nhà ga ở xế cửa khách sạn, ngoài thềm không một bóng người. Liêm đi ngang qua đường, nhìn vào trong phố thấy thấp thoáng một vài người xuất hành sớm lẫn sau các gốc cây. Trong phòng vé cũng không người, người bán vé đứng bên lối cửa ra ke. Ông ta thu tiền, bỏ vào trong một túi vải xám buộc giây đeo ở cổ tay, rồi tự tay bấm vé, trỏ về phía đoàn toa không đầu máy trên con đường sắt thứ nhì. Chiếc đầu máy đang lấy nước ở phía xa. Trong sân ga chỉ thấy những toa than. Liêm dẫm lên những hòn đá xanh lổn nhổn, đi chéo về phía toa hành khách có bóng đàn bà đứng ở cửa sổ chống soải tay trông ra ngoài. Trên cả toa tàu chỉ có bốn hành khách, kể cả Liêm. Hai người đàn bà cùng từ Sài-gòn ra không thấy, có lẽ họ về Hà nội bằng xe hơi. Toa xe thật rộng, ngoài hai băng ghế chạy dài bên thành toa, ở giữa còn thêm hai băng dài khác ghép dựa lưng vào nhau. Những người khác cũng đều đi một mình. Hai người đàn bà nhà quê với quang gánh và hai bồ hàng hóa. Một thiếu nữ, Liêm đã trông thấy lúc ở dưới sân ga nhìn lên, mặc áo dạ đen, buộc khăn trùm tóc, hành lý chỉ có một chiếc làn mây đặt ngay cạnh chỗ ngồi. Liêm đặt hai chiếc va-ly lên ghế, rồi bỏ ra đứng ở đầu toa chỗ bực lên xuống. Toa nổi là một toa hàng xám kín mít. Tàu rời ga, chạy qua một vài đường trong thành phố. Nhà đóng cửa, người ta mặc quần áo mới đi bộ nhàn tản hai bên hè và cả trên mặt lộ. Đường không có xe cộ. Liêm nghĩ đến anh chàng còn ở trong buồng khách sạn, hắn không thể tự tử được, chỉ mai hay mốt, có khi ngay bữa nay, hắn sẽ trở về nhà lủi thủi như con chó cúp tai... Quả là buồn cười, đêm đầu tiên, đêm giao thừa ở chung một buồng với một anh chàng chán đời. Điểm gì? Không hiểu sẽ còn gặp thêm những chuyện lạ gì nữa, nơi không còn phải là quê hương... Liêm bất chợt thấy mình đang sợ hãi. Không gia đình, không thân thích, một bức thư giới thiệu của Tường và Hà-nội. Tại sao lại trở về? Trở về cũng như lúc bỏ đi ngày niên thiếu là phiêu lưu, phiêu lưu ở trong quê hương đã xa lạ. Dường như ở đây đầy rẫy những chuyện ngoài trí tưởng của mình, dường như vậy...

Con tàu nặng nề, chậm chạp trong một nhịp điệu buồn tẻ. Không còn cái cảm giác say sưa được ôm trong gió vút của tốc độ ngày bé bỏng. Cánh đồng và chân trời xa tít như không thay đổi. Liêm nhìn bờ cỏ dốc của mô đắp đường rầy, những viên đá và then ngang, các móc nối và bàn sắt ủi giữa hai toa, giòng dây điện chạy song song nhịp nhàng để thấy sự chuyển động. Trong toa hai người đàn bà nhà quê ngủ gà gật trong góc, thiếu nữ ngồi quay nghiêng trên ghế nhìn qua cửa sổ. Dưới sân rác rưới bừa bộn, lá chuối khô, giấy báo rách, bã mía, quết trầu... Gió lùa trống. Màu trời giống như màu thiếc gò trong nhà anh Xuân. Căn phố cao nền đất, cửa tiệm đồ sắt chiếm phân nửa để ở và nhà bếp; trong nhà bếp khói đen, một bộ ván để ngủ gần trạn bát ngay lối cửa sau thông ra ngõ hẻm; Ngõ hẻm mở nhiều lối về các ngả, một ngả dẫn xuống phố Phước Mỹ. Trước hè la liệt những bàn bầu cua, tài xỉu quây quần người lớn cùng con nít; tiếng cãi lấy, giành giật đòi chung tiền, tiếng kêu chóe từng chập của những chiếc bóng hơi có lắp kèn ở đầu thổi, tiếng hối a của xẩm tài xỉu lẫn tiếng rao lộp chộp của bàn bầu cua, bên kia đường rầy xe lửa điện, chợ Bà Chiểu chạy dài trước các mặt phố lầu trên nền gạch trống với dãy quán cóc, nắng lên sáng rỡ trùm nắng nhà ga nơi góc đường; một gánh hát Sơn-đông bán thuốc nổi trống chiêng tập họp người xem. Hạnh đang làm gì? Trong xóm Đồng Ong Cộ cũng chỉ gặp những bàn bầu cua, những xòng bài cào trên các lối đất, tiếng chuông leng keng của xe cà-rem tàu đẩy dong qua các đám bạc, người lớn và con nít ngang hàng với nhau. Thiếu nữ quay mặt lại, bắt gặp Liêm đứng nơi cửa toa. Cô ta nhìn thẳng, quan sát không dấu diếm. Liêm lúng túng đi tới ngồi xuống gần chỗ đặt va-ly. Trên nét mặt thiếu nữ có ánh cười thân thiện. Liêm mỉm cười bâng quơ đáp lại, tựa lưng để cho sự lúc lắc ru ngủ. Không ngờ vẫn còn buồn ngủ đến thế. Tôi sẽ về đến Hà-nội và tôi sẽ đi tới đâu nữa. Có lẽ chỉ còn thành phố ấy là quen nhất. Thằng em chắc vẫn còn ngoài kháng chiến. Gặp lại hai anh em sợ khó nhận ra nhau. Mẹ? Bà còn sống...

Tàu đỗ im từ lúc nào, rất lâu. Tiếng hơi phì phì, đều nhỏ. Ga nhỏ không có bóng người, biển tên nhà ga tìm không thấy. Gian nhà gạch vắng tanh, tường bị cạo trắng loang lở, có lẽ là những khẩu hiệu nào bị bôi xóa. Sau lưng nhà ga là cánh đồng mùa đông, một con đường đất dẫn vào làng với một bụi tre còn mang rõ vết cháy vàng. Chiến tranh ngoài này khốc liệt hơn. Không hiểu con tàu đỗ lại chờ đợi gì. Một người xoát vé bước lên toa, ông ta dở mũ và ngồi xuống ghế giữa toa hỏi chuyện hành khách. Trong toa thêm một chị bán bánh dầy bánh giò, cả bốn người đều là khách quen. Ông ta đưa mắt nhìn Liêm như một kẻ lạ mặt đáng ngờ, nhưng không chú ý tới lắm. Ông ta không hỏi vé mà nói chuyện: chuyện ngày Tết, chuyện chiến tranh, chuyện làng Tề, chuyện kháng chiến. Liêm được biết tên thiếu nữ là Bích; trong câu chuyện người xoát vé hỏi thăm Bích về Liên, một bạn thân thường buôn chung với Bích đã lâu không thấy đi tàu. “Chị ấy ốm. Chồng chị không cho đi chợ nữa”. “Cô xuống Phòng có việc gì mà hôm nay mới về? Dạo này cô lại buôn gì xuống Phòng. Bỏ đường Cẩm-giàng rồi à?” người xoát vé hỏi. “Tôi xuống thăm chị Liên. Chị Liên bây giờ dọn xuống Phòng rồi. Với lại đòi tiền mãi mới được nên bị mắc kẹt không về kịp trước Tết”. Toa tàu bỗng trở nên vui vẻ ồn ào thân mật hơn khi Bích muốn ăn bánh giò và mời mọi người: “Tôi mới trúng áp-phe mà... Đừng từ chối. Mùng một tôi rông cả năm”. Và Bích quay lại nói lớn với Liêm để át tiếng động của tàu đang chạy: “Mời ông xơi bánh”. Liêm bối rối đáp: “Cám ơn cô”. Chị bán bánh bưng thúng bánh đến ngồi bên Bích, theo lời Bích, bóc bánh đưa đi mời cả toa. Trước hết là người xoát vé, rồi đến hai người đàn bà nhà quê, hai người này nhận bánh và mang đến chỗ Bích ngồi ăn nói chuyện. Khi đến lượt mình, Liêm chưa biết nên nhận hay từ chối, Bích đã nói: “Mời ông đến ăn với chúng tôi cho vui. Chẳng mấy khi mà lại phải ăn Tết lưu động như thế này”. Liêm đành cầm cái bánh đã bóc trên tay, đến ngồi cùng ghế với người xoát vé, vừa ăn chậm chạp vừa nghe người khác trò chuyện không biết cách góp. Trong câu chuyện, người xoát vé hỏi Bích: “Cô nghĩ thế nào về chuyện bà Cát Hanh Long trên Thái nguyên?” cải cách cải cách cải cách cải cách cải cách cải cách cải cách cải cách cải cách cải cách cải cách “Tôi có người nhà mới vào nói chuyện đấu tố là có thật. Kinh khủng lắm, không thể ngờ được”. Liêm hỏi: “Ông nói cái gì, đấu tố cái gì?” Người xoát vé nhìn Liêm bằng cặp mắt hoài nghi và Liêm vội giải thích mình vừa ở Sài-gòn ra. Ông ta thuật lại câu chuyện về bà Cát Hanh Long, đại điền chủ, đã từng cúng hết sản nghiệp cho kháng chiến từ lúc đầu, có ba đứa con trai đi bộ đội, bị đưa ra trước tòa án nhân dân phải tự vẫn. “Trong tuần lễ vàng, bà đã cúng đến cả chục kí vàng cho chính phủ. Bao nhiêu đồn điền của bà ở Thái-nguyên đều dâng cho chính phủ kháng chiến hết... Vậy mà bị kết tội là địa chủ phản động bóc lột”.cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất cải cách ruộng đất  cải cách ruộng đất Và câu chuyện chuyển sang ngả khác. Bích hỏi về chuyện Sài-gòn. Liêm kể về cuộc kháng chiến trong Nam, tinh thần của dân chúng, các tổ chức nằm ngay trong nội thành. Trẻ con, thanh niên hát những bài kháng chiến ngay ngoài đường phố, một lời kêu gọi bất hợp tác với quân Pháp tung ra học sinh công chức cả công an nữa bỏ thành ra bưng tới độ phải mời bớt họ về thành, những kẻ cộng tác hương chức trong làng hay nhân viên chính phủ bị ám sát giữa ban ngày... Và thành phố Sài-gòn vẫn nguyên vẹn rực rỡ, tấp nập. Bích hỏi: “Tài nhỉ? Tại sao thế?” “Vì Sài-gòn Chợ-lớn cũng là một chiến khu..” “Rồi ông sẽ thấy Hà-nội khác hẳn. Không giống như Sài-gòn đâu”. “Tôi cũng nghĩ thế”. Liêm thấy Bích dễ thân mật, con gái Bắc đã thay đổi chăng, không còn kiêu kỳ như mình vẫn tưởng chăng?

— Bỏ đi lâu quá, tôi chẳng còn nhớ được mấy tí. Sắp đến đâu rồi cô.

Tàu đang chạy chậm, leo vòng lên một dốc cầu. “Cầu Phú- lương”, Bích nói. “Đến Hải dương đấy”. Người xoát vé chào Bích, đội mũ đứng lên đi ra ngoài đầu toa. Chị bán bánh, dẹp cuốn lá, ném ra ngoài cửa sổ, đập nắp thúng sửa soạn rời toa. Liêm bạo dạn ngắm Bích, đứng chống tay khum người nhìn ra ngoài.

Tàu chạy thật chậm trên cầu. Thành phố Hải dương trông xa lô nhô những mái nhà thấp bé và một vài phố ngắn, thành phố buồn tẻ Bích đã xuống vài lần với Liên không lâu quá hai tiếng đồng hồ. Con phố chính từ dốc cầu này chạy đổ xuống, gồm hai dẫy nhà một từng hai từng cũ mới lẫn lộn, chạy qua nhà thờ, phòng Thông tin, rạp chiếu bóng và đến nhà ga; những công thự ở lui trong các phố ngang. Trong một hiệu cao lâu ở phố chính, Bích ngồi nhấm nháp một cốc chanh quả, nhìn qua cửa kính ra phố nắng bụi mỗi khi xe chạy qua, trong khi Liên đi tìm gặp Labay, tên Tây lai chánh sở mật thám liên bang. Có lẽ họ gặp nhau trong bàn giấy, rồi về nhà hay đến một hôtel bẩn thỉu nào trong tỉnh. Bích vừa thương hại, vừa giận Liên. Không thể tưởng tượng Liên có thể nằm trong tay những người đàn ông như thế. Nghĩ đến cái thân thể ốm o, bẩn thỉu của Tích, cánh tay lông lá, cặp môi dầy, mắt đục như mèo của Labay sẽ đụng đến da thịt muốn lợm giọng buồn nôn. Một người đàn bà làm sao có thể yêu hai ba người đàn ông khác nhau, làm sao có thể nhận được những thân thể khác nhau. Cái thân thể đàn ông, Bích nghĩ, may ra vì yêu chịu đựng nổi một trong đời đã quá lắm. Không hiểu Liên có yêu những người ấy không, những người mà mỗi hơi thở là một tội lỗi với đồng loại. Không sao hiểu nổi Liên, cũng không sao hiểu nổi mình. Tại sao tôi cứ mãi là kẻ làm chứng trong những cuộc tình của Liên? Sau cái vẻ mặt hiền lành đến độ nhẫn nhục, nụ cười buồn bã như ánh nắng muộn, che dấu những gì? Mỗi lần trở lại đón Bích để lên tàu về, Liên ngượng nghịu bối rối trông thấy. Bích đã hỏi thẳng về những cuộc gặp mặt mờ ám ấy và Liên dối quanh. Chỉ là người quen cũ của gia đình, xuống nhờ việc, chạy một áp-phe. Không hiểu bây giờ Liên còn gặp Labay nữa không?

Còn anh chàng Thạch nữa, không hiểu thuộc hạng người nào? Hắn mất tích sau lần tìm đánh Tích sau nhà tắm công cộng Chợ Gạo, không thấy trở lại hỏi tin Liên nữa. Lầm lì, hung hãn giống như tên côn đồ. Không hiểu sao tôi lại bằng lòng đưa hắn đi tìm Liên tối hôm ấy? Có lẽ vì sợ. Bề ngoài tôi vẫn tỏ ra cứng cỏi đương đầu với bọn đàn ông luôn luôn vây quanh tìm mọi cách lợi dụng, khác với Liên mềm mỏng khôn khéo trong khi còn buôn chung, nhưng thật ra tôi cũng sợ. Hắn có thể gây những chuyện rắc rối phiền phức, trong cái xã hội tranh tối tranh sáng này không biết đâu mà lường trước được. Nhưng chắc chắn không thể như Liên, không thể như thế được. Chiến tranh sẽ chấm dứt, xã hội này sẽ thay đổi và Bích... Bích nghĩ tới Hội còn ở ngoài hậu phương. Hội. Anh như một mối hy vọng duy nhất, anh sẽ trở về. Sự thật chưa có gì cả, ngày ấy tôi còn nhỏ, nhưng tôi vẫn tự coi anh như người tình để được chờ đợi. Anh có thể không yêu em nhưng anh có thể chết, và anh thuộc về em. Nhưng anh trở về. Còn gia đình? Ông bố nghiện, lũ em nheo nhóc. Gia đình này thay đổi được không? Không còn dám nghĩ tới nữa. Cả nhà đợi mang tiền về ăn Tết, mà hôm nay đã mùng một Tết. Đáng lẽ có thể về từ hăm chín, tàu đang vào ga, sân ga cũng chẳng vắng hơn ngày thường mấy, chỉ tại Liên. Người đàn ông đã cởi chiếc áo dạ mặc ngoài, có những nét hao hao quen thuộc không nhớ gặp ở đâu. Tàu đỗ hẳn và người đàn ông nói:

— Nhờ cô nhìn dùm mấy cái va-ly, tôi xuống đất một chốc cho thoải mái. Tàu đỗ lâu không cô?

— Còn lâu. Ông cứ tự nhiên.

Hắn nhảy xuống dưới đất, đi ngược lên phía đầu máy. Bích nhìn chiếc áo dạ nằm vắt phủ trên hai chiếc va-ly, đã cũ trụi gần hết lông màu ngả bạc. Trời hé chút nắng ấm nhưng không thấy bóng. Nhìn đồng hồ tay, Bích nghĩ phải quá trưa mới về đến ga hàng Cỏ. Bích mở chiếc làn mây, kiểm lại các món vật hình như còn quên một thứ nghĩ không ra. Cảm tưởng mất mát lúc buổi sáng khi vội vã ra ga lại xuất hiện. Cả đêm ngồi tâm sự với Liên đến ba bốn giờ sáng mới chợp mắt một lúc. Tích ngáy khò khô trên giường, hắn có vẻ hãnh diện về việc làm hoàn tất của mình. Mãi chín giờ tối hắn mới mang tiền về, trao đủ cho Liên để trả Bích. Bích thở phào như thoát nạn. Bích mang xuống hai cân hàng mo, lẽ ra đưa hết cho chỗ tiêu thụ nhưng nghe Liên than phiền thiếu tiền ăn Tết đã trao cho Liên một cân để chạy ăn hoa hồng. Liên đưa cho Tích và giao hẹn trước mặt Bích: “Cô ấy giúp tôi tiền ăn Tết. Anh không thể làm lăng nhăng được đâu. Tích thề bán sống bán chết và mỗi buổi chiều hắn đều nhăn nhó khổ sở vì bị khất. Đáng lẽ Bích có thể về từ hôm hai mươi chín nếu không đưa hàng cho Liên. Cũng may, giao thuốc phiện cho anh nghiện chưa ai dại bằng Liên với mình, chẳng hiểu cơ gì hắn có thể sòng phẳng được như thế. Liên gầy và xanh hơn trước nhiều. Không hiểu còn gặp những người đàn ông khác nữa không? Trên cánh tay và bắp chân Liên có những dấu bầm tím. Tại sao Liên có thể chịu mãi được? Liên chỉ biết chảy nước mắt than thở: “Cái số của tôi nó khốn nạn như thế”. Lúc ấy giao thừa vừa xong và hai người còn ngồi trên ghế con ngoài hàng hiên ngắm những ngọn nến lay động chực tắt. Bích không muốn nhắc nhở Thạch với Liên trong suốt mấy ngày, cũng chẳng ích gì, nói rằng Thạch tìm Liên, nhắn không bao giờ quên Liên để làm gì. Chuyện đã quá xa cũ, Liên không thể làm hơn được. Phải không? Một ngày nào họ gặp nhau lại, họ sẽ tự nói lấy, nếu họ còn được gặp nhau lại. Cũng mong là Liên yêu Thạch vì dù sao có lẽ chỉ có Thạch là người đàn ông yêu Liên.

Người đàn ông trở về, tay cầm mấy phong bánh khảo, bánh đậu xanh, mời Bích. Bích nói:

— Bánh khảo đây ngon có tiếng. Ông để dành về Hà nội làm quà.

— Thú thật với cô, tôi chưa có ai quen ở Hà nội để làm quà. Chính tôi về cũng chưa biết ở đâu.

Bích ngạc nhiên, hoài nghi:

— Ông không có gia đình mà lại về vào ngày Tết này. Sao ông không ở lại Hải phòng đợi đến mùng bốn đã.

— Tôi đến Hải phòng chiều hôm qua. Ở Hải phòng tôi cũng chẳng có ai quen. Đêm qua tôi ăn giao thừa ở hôtel với một anh chàng say chán đời. Chán quá nên tôi nghĩ cứ về bừa Hà nội. Chẳng lẽ cả thành phố lại không có chỗ nào tá túc được hay sao. Năm tôi vào Sài-gòn tôi còn ngu ngơ hơn bây giờ mà chẳng chết nữa là...

Bích nghĩ thầm: làm đàn ông thật sướng, bạt mạng chẳng sợ gì hết. Nghĩ đến những đêm phải ngủ trọ nhà lạ, thao thức trằn trọc, suốt đêm thấp thỏm lo sợ những hình thù mò mẫm trong bóng tối, Bích thấy tuy phải nằm ép mình giữa hai đứa em trong gian buồng chật chội, hôi hám hơi người và khói thuốc phiện còn hơn. Nhất là mấy đêm ngủ lại nhà Liên, nhà chỉ có một buồng nghe rõ tiếng lục đục bên giường, Bích nằm trên đi-văng cứng mỏi, ghê tởm. Nhiều lúc giật mình, tay chân giá cóng, hơi thở dồn, tim đập nhẩy, tưởng như Tích đến gần sờ mó vào người và Bích có thể giết chết được đứa đàn ông bẩn thỉu. Thế mà Liên chịu đựng được? Người đàn ông nói: Xin lỗi cô, và hắn xách va-ly nhỏ sang băng phía bên kia kê đầu nằm nghiêng duỗi thẳng chân. Hai người đàn bà nhà quê đã xuống ở ga Nam-sách, không có hành khách lên thêm, chỉ còn hai người trong toa rộng với gió nắng lùa chạy vùn vụt. Bích tháo khăn trùm tóc, nghe hai tay tê giá dần dần. Người đàn ông nào cũng giống người đàn ông nào, nặng nề, chậm chạp, ẩm ướt, nhiều khói bụi. Bích không tưởng tượng ra người chồng tương lai của mình như thế nào, Hội, lâu ngày đã quên hẳn mặt, nghĩ đến như một lý tưởng trừu tượng xa vời. Tình yêu chăng? Tình yêu như hướng vọng, đợi chờ một ảo tưởng có thể thành sự thật hay sự thật lúc nào cũng có thể thành ảo tưởng. Anh chàng Thiện, y tá bệnh viện Phủ Doãn, cao lòng khòng, chỉ có cái thú độc nhất là vô-lê-ban, người lúc nào cũng thơm nức mùi nước hoa, đỏm dáng như con gái; bà mối giới thiệu anh chàng sẽ là một người chồng, người cha gương mẫu, mỗi lần hắn gỡ đôi kính trắng lấy khăn lau mắt hấp háy như gặp nắng trông đần độn khó chịu, nhìn vào mắt hắn như nhìn vào đôi mắt mù. Một anh chồng không nhìn được gì vượt khỏi tầm mắt cận thị. Bích sực nhớ mình đã hai mươi hai tuổi, hai mươi bốn tuổi với tình yêu tự tạo để tưởng nhớ, để thuật với bè bạn khi cần chuyện tâm sự. Một thiếu nữ trong thành chờ đợi người tình ngoài kháng chiến. Ngọc bảo: đó là một hạnh phúc, và lúc ấy quả cũng cảm thấy tâm hồn bay bổng như được vuốt ve an ủi. Hội ở đâu? Hội ra sao? Hội còn nhớ đến tôi không, đứa con gái ngày đó mới chừng mười bốn, mười lăm tuổi. Tàu đỗ lại Cẩm-giàng, đợi chuyến xuống. Nhìn ra ngoài ga, phố quận đìu hiu hơn. Người đàn ông chừng ngủ say mệt, quay mặt ra ngoài lối đi. Nét mặt gồ ghề, sáng tối lẫn lộn. Bích loay hoay lục lọi trí nhớ tìm cái khuôn mặt giống đã gặp. Một khuôn mặt già sạm đứng im nhưng lẩn khuất những nét ngây thơ dại dột. Bích nghĩ không hiểu ở nhà bà cụ có xoay đỡ được ít tiền tiêu Tết không. Sáng mồng một, nhà tấp nập khách khứa mà không có tí gì coi cũng không được. Bích mừng thoát khỏi phải tiếp khách mệt nhoài. Ông bố chắc đã dẹp bàn đèn vào tận giường trong cùng và cả ngày bữa qua bọn em phải xoay trần dọn dẹp nhà cửa. Con Loan mệt, tối sẽ tìm một só ngồi khóc rấm rứt; đã hai năm nó vẫn mơ ước một cái áo dài. Tiếng chân đi dẫm trên đá xanh lổn nhổn bên thành toa. Kính đứng dưới đất nói lên:

— A, cô Bích. Hôm nay cô cũng đi chợ nữa sao? Năm mới chúc cô năm nay cho tôi uống rượu.

— Năm mới chúc Thiếu úy thăng chức. Có nhắn gì Ngọc không, tôi về nói lại cho.

Kính đỏ bừng tai, chớp mắt, nhe răng cười. Hắn là trưởng đồn, vốn thầy tu xuất, vẫn theo đuổi Ngọc. Ngọc lấy làm xấu hổ vì bị một người như Kính mê, cô nàng nói: “Trông nó bề ngoài lờ mờ vậy mà giết người không gớm tay”. Ngọc nghỉ chợ vì ngại gặp Kính, cô nàng đi buôn như làm những chuyến du lịch, con một gia đình thầu khoán phong lưu, Ngọc đòi đi buôn để được theo Bích và Liên xuôi ngược hằng ngày. Chiều nay sẽ lại thăm Ngọc, cô nàng bây giờ lại hoạt động hướng đạo trong khi chờ đợi lấy chồng.

— Hôm nào Thiếu úy về Hà-nội?

— Có lẽ còn lâu.

Kính rút khăn tay lau mặt và cổ, có lẽ hắn muốn hỏi thăm Ngọc nhưng không biết cách mở lời, hắn cũng biết Ngọc ghét hắn. Hắn đứng nép vào thành toa ngửa cổ nhìn đoàn toa xuống ép hắn vào giữa, tiếng máy chuyển động át mất câu nói của hắn. Mãi sau Bích mới nghe được đoạn cuối: ... Các cô nghỉ chợ, Cẩm-giàng buồn quá. Bích cười nhìn theo Kính mập mạp, lùn thấp len giữa hai đoàn tàu và leo lên mất hút ở một toa tàu bên. Người đàn ông thức dậy ngồi lên ngơ ngác.

— Gần đến Hà-nội chưa cô?

— Chưa. Ông có thể ngủ một giấc nữa.

Hắn móc thuốc lá châm hút, nhìn qua đoàn tàu ngược tò mò. Bích cố nhớ lại những nét quen trên mặt người lạ và một chốc những nét quen bị bôi xóa chỉ còn lại hình ảnh xa lạ hoàn toàn của một người đàn ông giống như những người khác. Trời còn se lạnh nhưng vẫn nghe mồ hôi dâm dấp, có lẽ đói và khát. Cảnh vật trở nên nhàm mắt. Đồng ruộng, đồn bót, làng xóm trong bầu trời thoáng nắng ủ ê. Con đường cái chạy theo tàu lúc sát tới, lúc lui xa, lúc cắt ngang mất tích. Lâu lắm mới gặp một chiếc xe hơi trên đường. Tàu đỗ lại những sân ga không người, chỉ có tường gạch loang lở hoặc lỗ chỗ vết đạn bên những đầm nước bèo cỏ mọc hoang mọc tủa lên những cọc nứa dăng hàng, một hai phố quận chỉ là hai dãy phố lụp xụp dựng bên đường cái với đồn canh chặn đầu. Vẻ hoang tịch trên mọi vật phơi bầy. Liêm muốn được nhìn thấy cảnh tượng đang diễn trong vòng những lũy tre dầy cô lập các làng mạc giữa vùng đồng ruộng bát ngát. Ở đây vừa trống trải, vừa cô đơn. Không còn sự luông tuồng nối kết dằng dặc bởi bờ bụi, cỏ cây, nương rạch từ làng này qua làng khác như đồng ruộng trong Nam. Bất cứ chỗ hẻo lánh nào giữa bưng biền vẫn có thể gặp người và nhà ở. Ở đó hoang dã nhưng không cô đơn. Liêm nghe thốn trong bụng cảm giác mình đang dấn mình về nơi không được che chở. Bích bỗng hỏi:

— Ông về Hà-nội định làm gì?

— Tôi chưa biết. Cũng có thể ít lâu tôi lại vào Sài-gòn.

— Ông có vẻ thích Sài-gòn.

— Tôi có cảm tưởng như tôi đã là người Sài-gòn. Tôi đã ở trong ấy hơn mười năm. Về đây thấy cái gì cũng lạ. Cũng sợ. Chắc tôi không thể sống được ở Hà-nội.

Bích cười, nàng búi lại đầu tóc, tiếng cười trong đơn giản. Liêm cười theo, rồi đứng dậy nhấc va-ly đặt về chỗ cũ.

— Quê ông ở đâu?

— Từ nhỏ tôi đã sống ở tỉnh. Tôi đã bao giờ về quê đâu. Mười bảy tuổi là tôi bỏ nhà đi rồi.

— Ông anh hùng nhỉ?

— Không phải. Mỗi người có một hoàn cảnh.

Anh hùng. Không tôi không phải là anh hùng. Đó là lời nói mỉa. “Tôi không phải sinh ra để làm cách mạng. Tôi tầm thường, tôi sống như mọi người. Tôi phục chị Hai nhưng tôi không muốn làm như chị”. Chị Hai, vợ của nhà cách mạng nổi tiếng đã chết ngoài Côn đảo trong thời Pháp thuộc, được anh em tôn gọi và kính nể, sống hẩm hút với mấy đứa con tại chùa Bà-đầm nhưng vẫn nuôi chí chồng, cầm đầu tổ chức phụ nữ nội thành; Tường đã dẫn Liêm đến thăm sau ngày Liêm được thả và thất vọng chán nản vì bị bỏ rơi, hy vọng Liêm trông gương chị. Tường bảo: “Ở bất cứ địa vị nào người ta cũng có thể tham gia cách mạng”. “Không. Tôi không làm cách mạng, tôi chỉ muốn làm việc”.

— Tôi có người bạn cũng người Bắc vào Nam từ lâu, lúc tôi về anh có khuyên tôi không nên. Tôi không tin.

— Ông vội quá. Ông đã về đến Hà-nội đâu.

— Cô đã chẳng nói Hà-nội không giống Sài-gòn hay sao?

— Tôi nghĩ ở đâu rồi quen đấy.

Vấn đề không phải là quen, sống không thể chỉ là thói quen. Trưa đang nhẹ dần, không khí ấm hơn. Tàu bắt đầu chạy chậm, qua cửa sổ những mái nhà thấp bé bắt đầu xuất hiện. Bích nói: Đến Gia-lâm rồi. Bỗng dưng Liêm nghe nao nức lạ lùng, thò đầu ra ngoài cửa sổ nhìn. Quang cảnh nhà ga đượm vẻ thân cũ, những bồn nước, cần ghi, các kho tối đóng cửa, các toa than rải rác, đường sắt dan díu, nằm nguyên chỗ như chưa bao giờ đổi thay. Trong một phút, tâm trạng biến đổi hẳn, tôi đang đặt chân bước vào ranh giới của một vùng mơ ước của tuổi nhỏ.

— Tôi không hiểu Hà-nội thay đổi thế nào nhưng tôi thấy Gia-lâm không thay đổi mấy.

Bích quàng khăn lên đầu, mở nắp làn mây có lắp tấm gương con soi mặt. Liêm nhấp nhỏm chờ đợi con tàu huýt còi rời ga để chạy lên cầu Long Biên. Đường phố Gia-lâm vắng ngắt như trong một bức ảnh chụp kỷ niệm. Ngày nào xa lắm, tôi đã ngồi trên chuyến tàu này cùng đứa em trai và mẹ lên Hà-nội sau khi bố chết. Thạch đội chiếc mũ nồi đỏ, chiếc mũ nồi lúc qua chợ Đồng- xuân bị kẻ cắp giật mất khi nó ló đầu ra ngoài cửa sổ tàu điện dáo dác nhìn phố; sức giật quá mạnh khiến môi nó vập xuống thành cửa gẫy mất một cái răng. Gió bốc lên từ mặt sông Cái nước đã rút bớt, thành cầu ầm ì vang động lùi mãi. Giải đất nổi chia đôi mặt sông xanh um cây cối, thỉnh thoảng xen những khoảng vườn ngô đều hàng thưa trống. Tiếng động của gióng cầu như một khúc nhạc vang âm và từ phóng trong thời gian của trí tưởng. Hà-nội như một niềm thân mật cuối cùng còn sót phải tìm lại. Đường bộ trên cầu chỉ là lớp gỗ nằm gung đen bóng thỉnh thoảng điểm một vệt sáng đen của sắt. Đường bờ sông bến Nứa, bồn nước hàng Đậu... vẫn còn nguyên. Tàu chạy trên cầu đá qua hàng Giấy, sông Tô-lịch, men theo đường Thành. Như từ đỉnh cây dòm xuống, thành phố nghiêm trang vắng người bốc lên một bầu không khí huyền hoặc.

— Hà-nội vẫn không thay đổi gì cả.

Bích đứng lên, Liêm nhích người nhường chỗ cho nàng trông xuống phố. Bích quay nghiêng mặt khẽ mỉm cười, hai bàn tay nàng víu lấy thành cửa tím trắng.

— Tôi chỉ thấy nó nhỏ quá, không còn lớn như trong trí nhớ.

Tàu đã chạy xuống phố, ngang qua những rào cản. Một vài người, hai ba chiếc xe đạp, một chiếc xe hơi đứng đợi dưới phố. Con tàu như chạy quá nhanh và khi đỗ lại bên một mái hiên chụp tối của ga, Liêm bàng hoàng ngơ ngẩn. Bích nhấc chiếc làn mây đeo vào tay tiến ra ngoài đầu toa. Liêm chậm chạp khoác áo dạ vào người, sách hai chiếc va-ly lên. Bước xuống đến sân ga, Liêm đã thấy Bích tiến vào đến cửa vào nhà ga. Mươi hành khách nữa xuống ở một toa gần cuối, trong ấy có hai người đàn bà cùng đi trên chuyến tàu thủy. Họ không trông thấy Liêm và Liêm nhìn họ như những người quen cũ. Ra đến cửa ga Liêm gặp Bích vẫn còn đứng trên thềm. Con đường hàng Lọng thật xa thật thấp.

— Ông về đâu?

Liêm móc túi tìm lá thư của Tùng, đọc lại địa chỉ, đưa cho Bích xem. Bích nói: Ông gọi xe về, đây vô đấy khá xa. Chúc ông năm mới mọi sự như ý. Bích thoăn thoắt bước xuống các bực thềm, đi khuất vào phía tường ga nhô ra thu hẹp con đường. Liêm nhìn khoảng trống trước mắt. Mặt đường rộng, con đường tàu chôn dưới nhựa, xe tuần cảnh nhà binh đậu ở một góc đường, hàng cây xanh sâu sao động.

 

Thêm vào giỏ hàng thành công