favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Thực tại của trẻ con: sensuality

07/01/2026 07:39

Luôn có những văn chương ở đó để nói rằng những gì nhỏ bé và tầm thường hơn cả, như chiếc bánh Madeleine nhúng vào trà của Marcel Proust, mới thực sự có chỗ trong số những gì quan trọng nhất của cuộc đời một người. John Cowper Powys (1872-1963) – nhà văn Anh của những tiểu thuyết đồ sộ (A Glastonbury Romance, Wolf Solent, Porius… quyển tiểu thuyết đầu tay Wood and Stone được đề tặng cho Thomas Hardy, một thần tượng của John Cowper Powys) và là một độc giả văn chương lớn – không chỉ tìm thấy trong ký ức những dấu vết của một thế giới khác dường đã mất đi, mà còn thực sự nghịch với chúng, những đồ vật hay ấn tượng không bao giờ quên, trong Autobiography – cũng là một tác phẩm lớn của John Cowper Powys, đây là khi tác giả, đã ngoài 60 và trở lại Anh sau một quãng dài sống ở Mỹ, viết về 60 năm đầu cuộc đời mình (John Cowper Powys là người lớn nhất và cũng sống thọ nhất trong gia đình mười một người con). Dưới đây là chương đầu tiên của Autobiography, Shirley (sau đó ngay ở đầu chương thứ hai, John Cowper Powys sẽ nhắc đến Marcel Proust, khi nói về quyển Euclid nhỏ bé rách nát màu mận chínđã trở thành một thứ bánh thiêng, ở đó mọi cảm giác tuyệt vời tôi từng có đã tụ lại cách kỳ diệu…).

 

Shirley

Một phần vùng Derbyshire bao quanh đỉnh núi trông giống như chỗ nhô lên của một cái khiên. Dovedale hẳn phải được bao gồm trong chu vi cái Rốn này của nước Anh; với vài phần mở rộng hào phóng, giống như rìa tinh xảo của một cái khiên Homer, các ngôi làng thôn dã nho nhỏ bao quanh thị trấn Ashbourne có thể xem như nằm trong cái vòng tròn dễ sợ này.

Giòng Dove chảy xiết và dữ tợn; và thật gồ ghề và hoang dã các tảng đá và vùng nước nông, các ghềnh và thác đổ mà dòng nước lũ cuồn cuộn ấy chảy qua. Các vách đá dựng đứng và nhiều hốc thụt kia trồi lên ở cả hai bên dòng suối chảy siết, một dòng suối có thể được ví như con chim ưng khoác bộ lông bồ câu, tạo ra một kích thước lớn hơn cho vẻ hùng vĩ và đáng kinh ngạc so với các giới hạn tương đối chật hẹp mà vùng cảnh quan mở rộng rõ rệt này thoạt nhìn qua dường gợi lên.

Dù sao đi nữa dưới con mắt của một đứa trẻ thung lũng đá Dove chẳng khác nào một Tremendum Mysterium. Một trong các ký ức sớm sủa nhất của tôi là cảm giác lờ mờ về sự mênh mông gây ra bởi đồi cỏ – đối với tôi giờ đây, bởi đã hơn năm mươi năm rồi không nhìn thấy lại, nó giống như một gò mộ hình nón – trồi lên, và tôi đồ là vẫn còn tiếp tục trồi lên như thế, ở vùng lân cận Dovedale. Tuổi thơ quả thật khôn ngoan cách kỳ diệu biết bao trong khả năng tạo ra các hiệu ứng bất tận bằng các phương tiện vô nghĩa của nó! Dẫu đỉnh núi cao chót vót này – và tên của nó là Núi Mây – chắc chắn chẳng thể nào là dãy Alp hùng vĩ nhưng với tôi nó lại luôn đồng nghĩa với sự siêu việt. Có nhiều ngóc ngách của thời thơ ấu thật ngớ ngẩn; nhưng thường thì toàn bộ lịch sử về sau của chúng ta lại trở thành một nỗ lực để giành lại được phép màu ấy, khả năng tìm thấy điều vĩ đại tột cùng trong thứ nhỏ bé đến tầm thường ấy!

Bởi vì phần lớn áp đảo trong số những gì quay trở lại với tôi từ những năm đầu đời ấy đều đáng xấu hổ, kỳ quái và mang tính phá hoại, tôi có xu hướng tận dụng tối đa hành động xây dựng cô độc mà tôi có thể nhớ được, vốn là một dục vọng của việc tạo dựng, ở rìa bụi cây cạnh lối đi, vô số các bản sao của “Núi Mây,” được tạo thành từ thứ đất ẩm mốc phủ đầy rêu.

Thật là một tội nghiêm trọng của những năm tháng trưởng thành khi chúng ta quá dễ dãi, và chẳng hề đấu tranh cách điên cuồng và như thói quen để giữ lại nó, để cho nỗi ngây ngất của điều không bị giới hạn ấy trôi tuột khỏi cuộc sống của chúng ta. Một sự sùng bái thần tượng

tật các “Núi Mây” thu nhỏ kia đó là một chiếc rìu bố tôi làm cho tôi từ thân gỗ của một cây nguyệt quế cổ thụ. Tôi nhớ rất rõ việc chặt xuống những cành nguyệt quế mà bởi đó thứ vũ khí phù thủy này rơi vào tay tôi. Cả buổi sáng tôi đắm chìm trong thú vui độc ác nhất mà mình từng biết đến lúc bấy giờ, dù không phải là độc ác nhất có thể đối với tôi, đó là chuyển nòng nọc từ cái ao ngoài đồng sang những vũng nước mưa đọng lại ven lối đi. Bấy giờ bố tôi vốn luôn tuân theo, trong mọi vấn đề đạo đức và ngụy biện, một vài quy tắc nguyên thủy được truyền lại cho ông từ bố ông: chẳng hạn, khi lấy trứng chim ra khỏi tổ, để bổ sung vào bộ sưu tập của bạn, luôn luôn phải để lại hai quả; hoặc khi bạn bắt cá bằng lưỡi câu đừng bao giờ để nó quẫy đạp và dãy nảy trên bờ, luôn luôn phải giải thoát nó khỏi nỗi thống khổ.

Nhưng việc một đứa con của ông tìm được sự thỏa mãn đầy tai ác mà chỉ có Chúa mới biết khi bắt các cư dân – may mắn thay nòng nọc là tất cả những gì thằng bé có thể bắt được – của một cái ao sâu, lạnh, tối tăm và thả chúng vào các vũng nước đọng, là một điều nằm ngoài kinh nghiệm của ông đến nỗi ông không có huấn lệnh nào về vấn đề này. Bởi vậy chỉ thuần túy là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi vào buổi trưa ngày hôm ấy, lúc ông rải xuống các lối đi chỗ lùm cây nhỏ cuối khu vườn những cành nguyệt quế đã chẻ đôi thành thử mùi hương ngọt của gỗ thơm, trong cuộc chặt và xẻ tàn bạo này, tỏa ra khắp bãi cỏ, bố tôi hẳn đã bị xúc động bởi một mong muốn tự nhiên rằng con trai ông sẽ được chứng kiến hành động tàn phá và vinh quang thực hiện bằng tài năng và sức mạnh của người đã sinh thành nó.

Bởi vậy dáng hình cao lớn của Cha sở Shirley, mang quần dài đen và tay áo sơ mi vải nỉ xám, hôm ấy hẳn đã được trông thấy lôi đứa con trai đang chống cự của ông ra khỏi các vũng lầy thuộc địa và áp giải nó bằng vũ lực đi đến khoảng rừng nhỏ hoang tàn của ông. Ôi, thật khó làm sao cái việc sống ở Arcadia mà chẳng dây vào với bất kỳ giống thổ dân bản xứ nào! Nhưng đúng là vậy! chính cái rìu nguyệt quế ấy, lưỡi và cán đều làm từ cùng một loại gỗ thơm, và toàn thân toát lên một vẻ quyến rũ của sự mê hoặc cổ tích, mà mãi rất lâu sau này, khi tôi đã là một cậu bé của ná cao su, vợt bắt bướm và cần câu, thường xuyên xoẹt qua đầu tôi ý nghĩ rằng mình đã mất – mất vĩnh viễn – một điều bí ẩn chắc hẳn đã canh giữ tôi tất tật mọi ngày trong đời. Kiếm lại được cái rìu nguyệt quế nơi khoảng rừng nhỏ ở Shirley ấy giờ đây sẽ là lấy lại được toàn bộ sức mạnh ma thuật của lễ bái vật vô cùng tận ấy mà nhờ đó thứ vật thể tầm tường nhất, kỳ quặc nhất – một khúc rễ cây, một ụ đá, một cái ao bên vệ đường, một cột ống khói xưa cũ – có thể trở thành một Hòm Giao ước, gọi lên âm nhạc của các tầng cầu!

Vùng nông thôn bao quanh Shirley thoai thoải và bình dị, không hoang dã hoặc khủng khiếp như ở thung lũng Dove. Đồng thời nó cũng tách biệt hoàn toàn khỏi bất kỳ sự ảnh hưởng nào của thị trấn hay thành phố như thể nằm ở giữa “quần đảo Hebrides xa xôi nhất.” Ngôi làng nhỏ của Shirley có thể được tiếp cận bởi một con đường hẹp dẫn thẳng về phía Đông, nếu tôi không nhầm, ra khỏi đường cao tốc lớn băng qua giữa Ashbourne và Derby, và nó nằm, như tôi luôn tưởng tượng, ngay gần chỗ đội quân của các cuộc nổi dậy đẹp như tranh vẽ của Charles Stuart đã quay ngược trở lại Scotland, trở về với thất bại thảm hại của họ ở Culloden, thay vì táo bạo tiến vào London.

Nằm ở khoảng giữa đường Derby và cửa ngõ dẫn vào Vicarage, bởi căn nhà của chúng tôi là nhà dân đầu tiên người ta gặp nếu đi lối này, có một cây thông lớn, thuộc loại mà bố tôi quen dạy chúng tôi gọi là “Thông Scotland.” Gần cái cây này, nơi có thể là một địa điểm thích hợp cho trẻ con dạo chơi, có một cầu thang nhỏ, dẫn sang một lối tắt đi băng qua cánh đồng để đến chỗ con đường lịch sử, từ đó nó trải ra, nơi mà những người miền núi đã miễn cưỡng đi theo nó, hướng về phía thị trấn được xây dựng trong thung lũng của vùng Ashbourne.

Bản thân căn nhà của chúng tôi, như tôi nhớ lại, là một tòa nhà vuông màu vàng trắng vây quanh bởi những bụi dâu và thảm cỏ được cắt tỉa gọn. Nó khá thoải mái, mà chẳng hề phô trương, nhưng xét theo những cảm xúc về sau gây ra bởi sự tương phản này, đó là một nơi rộng đến vô lý để làm nhà của một người, ngay cả khi người ấy là bố, như ông đã trở thành trước khi chúng tôi đi khỏi đó, của năm đứa trẻ – xét vì ngôi làng, nơi ông làm cha xứ, chưa bao giờ có quá hai trăm con chiên vào thời ấy.

Bởi tôi sinh ra ở đây, và sống ở đây cho tới khi lên bảy, thật lạ lùng khi mà tôi hoàn toàn không nhớ gì về nhà thờ giáo xứ. Theo trí nhớ của tôi thì bố tôi phải là một người đàn ông cao, mạnh mẽ mặc bộ đồ đen chẳng làm gì ngoài cắt tỉa các bụi nguyệt quế, băng qua các ngọn đồi, thung lũng, rừng cây, lối mòn, các khoảng rừng nhỏ, các lùm cây, với một tốc độ đáng kinh ngạc, và kể cho chúng tôi, các em trai tôi và tôi, khi chúng tôi ngồi bên cạnh ông trên ghế sô pha phòng ăn sau bữa trà chiều, một câu chuyện dài lê thê về hai nhân vật thần thoại được gọi là Khổng lồ Grumble và Cô tiên Nghịch ngợm. Giờ đây tất tật những gì tôi có thể nhớ được về câu chuyện không bao giờ kết ấy là nhân vật ác, xấu xa ở đó, luôn là một nhà bác học hết sức cảnh vẻ, được người kể chuyện gọi là “ông Giáo sư,” kẻ mà những hành động nham hiểm của hắn đòi hỏi toàn bộ mọi tài nghệ của cả người Khổng lồ lẫn cô Tiên để ngăn chặn và vô hiệu hóa.

Nhưng dẫu cho công việc của bố tôi với tư cách một linh mục giáo xứ và quả thực mọi hình ảnh gắn liền với ngôi nhà thờ nhỏ xám xịt ở giữa làng cách đó chừng nửa dặm đã hoàn toàn bị thời gian xóa nhòa, những nét đặc trưng của con người ông của thời thơ ấu cũng như của các giai đoạn sau này của cuộc đời tôi vẫn trở lại với tôi vô cùng sống động. Sự bùng nổ mang từ tính và cảm xúc vô cùng mãnh liệt, được giữ thật chặt dưới một sự kiểm soát gần như theo kiểu quân đội, là điều đặc trưng nhất toát ra từ Charles Francis Powys. Sinh ra tại Nhà mục sư Stalbridge ở Dorset ông đã thấm nhuần từ thuở ấu thơ ở Wessex các từ và ngữ điệu miền Tây mà thỉnh thoảng ông hay sử dụng, không phải trong các khoảnh khắc đầy phấn khích mà là trong những dịp trang trọng hoặc trong các vấn đề có tính thơ ca. Sự vĩ đại của bố tôi với dáng dấp một nhân cách lớn đã lần đầu được tỏ ra với tôi không phải ở tư cách một linh mục, thậm chí cũng không phải như một người cắt tỉa nguyệt quế, mà với tư cách người sở hữu đôi ủng đế dày khủng khiếp. Nếu giờ đây tôi có thể nắm bắt được ý nghĩa thực sự của đế đôi ủng của bố tôi thì tôi sẽ có được một trong các manh mối lớn dẫn đến bí mật của vũ trụ. Phải chăng chỉ đơn thuần là sự kỳ diệu về kích thước – sự khác biệt giữa độ dày đế đôi ủng của tôi so với đôi của bố tôi – đã khiến tôi say mê đến thế? Không, còn điều gì đó khác nữa! Những cái đế ủng lớn mà tôi thấy xếp thành hàng trong căn phòng nhỏ phía sau bên cạnh nhà bếp hẳn đã, tôi thực sự tin vậy, trở nên có ý nghĩa đối với tôi, theo một cách bí ẩn mà trong suốt cuộc đời tôi, một số vật thể vô tri giác đã trở nên có ý nghĩa, bằng cách tự tích tụ trong chúng yếu tố của cuộc sống mà người ta có thể gọi là nỗi ngây ngất khôn tả.

Ngay cả khi nghĩ về cặp đế ủng của bố tôi vào lúc này, khi tôi đã già hơn gần ba mươi tuổi so với bố tôi lúc ấy, tôi vẫn ý thức được về một bí mật tuyệt diệu nào đó của hạnh phúc. Bí mật này tôi đã cố chộp lấy hết lần này đến lần khác, nhưng luôn luôn trượt. Phải chăng chính là một công thức ma thuật cổ xưa nào đó thứ đang hồi sinh trong tôi? Phải chăng đó là một hiểu biết trong tiềm thức về toàn bộ bùn Derbyshire và cỏ và đá cuội mà cặp đế ủng này đã giẫm lên? Không! Sự kích thích mà trí tưởng tượng của tôi có được nhờ cặp đế ủng của bố, cảm giác hồi hộp của sự giải phóng tinh thần và của niềm vui bí ẩn mà tôi trải nghiệm ngay cả lúc này khi tôi nghĩ về chúng theo một hướng nào đó, hoàn toàn không liên quan đến những gì người đàn ông ấy đã dẫm lên khi băng qua đồi và thung lũng. Những cảm xúc này, chúng mắc míu đến dòng chảy ngầm của phản ứng sống, thứ đang dần dần để lộ ra, với một tâm trí đang học cách quan sát những gì nó tiết lộ, một bí mật của nhận thức vốn không thể được đánh giá quá cao. Sự thật rằng chúng là đế ủng, và raison d'être [lý do tồn tại] của chúng là áp lực của mặt đất dưới chân một người có cảm giác gắn bó với đất mãnh liệt tựa núi lửa giống như bố tôi, thì chẳng nghi ngờ gì nữa chính là một biểu tượng có ý nghĩa, nhưng những điều ấy chẳng hề giải thích được thứ cảm xúc trẻ con kỳ lạ này cũng như cái cảm giác bí ẩn hơn về thứ gì đó “được hòa quyện sâu sắc hơn nhiều” vốn khiến tôi khổ sở bởi lưu tâm đến nó.

Những thôi thúc sớm sủa cho một chứng bệnh hoặc cho bản tính chống đối xã hội của tôi hẳn đã xuất hiện vào năm thứ ba tôi sống trên hành tinh quái dị này. Tôi còn nhớ rất rõ cơn hoảng loạn tôi cảm thấy khi, vào vai một người hành quyết treo cổ với sợi dây chuông lớn – tôi cho là dùng để triệu tập mọi người từ khu vườn hay chuồng ngựa – treo ở hành lang đầu cầu thang, tôi nhận thấy khuôn mặt của Littleton em trai tôi đột nhiên có vẻ như sưng lên và tím tái. Tiếng la hét của tôi nhanh chóng được đáp lại và chẳng nghi ngờ gì tôi bị tát thật dứt khoát; nhưng chính nỗi kinh hoàng vì đã đi quá xa trong một trò chơi sinh tử như thế vẫn còn lại trong tâm trí tôi. Hình phạt kia lại chẳng để lại ký ức nào.

Bố tôi chắc chắn không có bất kỳ một dấu hiệu dẫu là nhỏ nhất nào của chứng bạo dục [sadism] – sự lệch lạc mà tôi đã bị kết án khi lớn lên phải quen thuộc cách chí tử với nó – bởi ông chỉ trừng trị chúng tôi, tôi và hai em trai, theo lối đột ngột và không một lời cảnh báo, tống cho chúng tôi một cú đấm duy nhất vào tai, loại cú đấm mà dân lao động ở Dorset vào thời thơ ấu của ông hẳn đã mô tả là “kềm kẹp lỗ tai.”

Có một yếu tố hỗn loạn vô cùng trong cuộc sống mà ta phải thừa nhận, và việc vị thần quyền năng nhất trong số các vị thần bất tử cai quản vận mệnh chúng ta chính là nữ thần May Rủi vĩ đại thì không thể phủ nhận, nhưng cũng có một áp lực kỳ lạ giữa những trải nghiệm xảy đến với chúng ta, những trải nghiệm mà tính cách chúng ta đã được khuôn định trong hoàn cảnh chúng xảy ra, hoàn cảnh ấy, bất chấp trò chơi của May Rủi kia, vẫn có một chiều cơ bản, một hướng có thể xác minh, một chuyển động, một lực đẩy, xuyên qua tất tật mọi khúc quanh và lối đi vòng của sự tình cờ, hướng đến một sự trọn vẹn ngầm ẩn nào đó tùy thuộc vào một cơ chế tiềm tàng vô cùng sâu sắc.

Trong ánh sáng tuổi sáu mươi giờ đây của tôi, việc đặt cho cái “Tôi là gì” mơ hồ này như một cách nhìn hoàn toàn chủ quan – dành cho kẻ đã dồn toàn bộ nỗ lực của mình để có thể thấy bản thân một cách khách quan – một hướng định sẵn như thế, được dẫn dắt bởi thôi thúc sống bên trong trong quá trình khuôn định của hoàn cảnh, mang hình thức của một sự tự sáng tạo nửa tỉnh nửa mê. Và hình dạng nào, khi giờ đây tôi tự nhìn mình, chính tôi và cái tôi phải gọi là cuộc đời-tưởng tượng của mình, nhân vật-định mệnh này sẽ khoác lên? Trừ phi mọi sự tự phân tích của tôi đều nông cạn thì nó hẳn phải mang hình hài của một hợp chất, ít tự mâu thuẫn hơn nó vốn dĩ nhưng dẫu vậy vẫn không hoàn toàn hài hòa, bao gồm năm yếu tố khá trái ngược nhau. Tôi sẽ đặt tên chúng theo thứ tự mà, ở thời điểm hiện tại, tôi cảm thấy chúng ít nhiều trội hơn. Chúng tự phân tách thành – một khao khát tận hưởng Vũ trụ, một khao khát xoa dịu Lương tâm, một khao khát được đóng vai một Pháp sư, một khao khát đóng vai người Trợ giúp, và cuối cùng là một khát khao thỏa mãn sự Độc ác của tôi.

Giờ thì rõ ràng là ở bên cạnh bốn cái kia chỉ mỗi mong muốn trở thành Pháp sư là thực sự phù hợp, và tách riêng khỏi những cái khác, cho một niềm hân hưởng, nửa huyền bí nửa thuộc về nhục cảm, trước Vũ trụ gây hoang mang này. Dần dần từng chút một tôi nhận ra rằng thứ tận hưởng cuộc sống mà tôi muốn là thứ có thể được gọi là một khoái cảm tưởng tượng, một khoái cảm vốn đòi hỏi cho sự thỏa mãn của nó một cái rìa thay đổi thất thường của ký ức mơ hồ, của ký ức, như tôi lờ mờ nhận ra, dường lùi xa dần, nếu tôi có thể nói vậy, vào những sự sống con người đã đi qua trước tôi, những sự sống đã có kinh nghiệm về cùng các cảm xúc mà tôi kinh nghiệm, chỉ có điều đã thuộc về một quá khứ không thể nhận ra. Giờ thì đã thật rõ, tôi nghĩ, rằng mong muốn trở thành một Pháp sư, nghĩa là thực hiện một sự kiểm soát siêu nhiên nào đó đối với định mệnh của tôi và của những người khác, không hoàn toàn trùng khớp với niềm vui sướng thuần khiết, không pha tạp của những xúc cảm thuộc về các giác quan được bao phủ bởi một hào quang các ký ức lẩn khuất. Đôi khi nó xảy ra trùng khớp với sự sùng bái những xúc cảm như thế; nhưng đôi khi, đặc biệt trong những thời điểm khó khăn, nó lại tìm thấy một niềm vui độc lập của riêng nó xuất phát từ một thái độ nhất định bởi sự bền bỉ ghê gớm và đầy kiên cường. Và nếu vai trò của một Pháp sư – cùng với lòng tự tôn cá nhân ngầm ẩn – không phải lúc nào cũng hòa hợp với khoái cảm tưởng tượng kia vốn là sự thôi thúc chủ đạo của tôi, thì các yếu tố còn lại cũng thường xuyên xung đột với nó cách phiền phức.

Lương tâm của tôi chẳng hạn! Tôi không thể nhớ nổi có lúc nào Lương tâm không phiền nhiễu tôi, ra lệnh cho tôi làm điều tôi chẳng muốn làm và kiếm giữ tôi khỏi những điều tôi muốn. Thực ra có thể nói ngay rằng cuộc đấu tranh lớn nhất đời tôi là giữa Lương tâm của tôi và nỗi thôi thúc sống một cuộc đời chỉ toàn những xúc động huyền bí và đầy nhục cảm.

Tôi cần phải nói rằng khao khát đóng vai trò một người Trợ giúp của tôi giống như một thứ gì đó khác biệt với Lương tâm, không chỉ bởi thường xảy ra chuyện mong muốn này xung đột với những mệnh lệnh tầm thường hơn của Lương tâm, mà còn bởi chắc hẳn nó sẽ hoạt động mạnh trong tôi – bởi những dây thần kinh tưởng tượng thúc đẩy chúng ta đồng nhất các cảm xúc của mình với cảm xúc của một thực thể xa lạ, dù là người hay loài nào khác – ngay cả khi tôi chẳng hề có Lương tâm.

Điều rõ ràng nhất cần hiểu, tôi nghĩ, là nỗi khó khăn tôi gặp phải trong việc hòa hợp sự Độc ác của mình với một cuộc sống chiêm nghiệm bằng giác quan. Thật chẳng may khi mà bất kỳ loại Độc ác nào, chỉ riêng với tính độc đoán vô độ và sức mạnh hung tợn của nó, cũng đều chống lại bất kỳ hình thức của niềm hạnh phúc nào tinh tế hơn, liên tục hơn, toàn diện hơn.

Không còn nghi ngờ gì nữa, từ thuở ấu thơ cho đến tận bây giờ, tật xấu chủ đạo của tôi chính là tật xấu nguy hiểm nhất trong mọi loại tật xấu. Tôi muốn nói đến chứng bạo dục. Tôi không thể nhớ nổi có lúc nào – từ rất sớm khuynh hướng này đã bộc lộ – những ý nghĩ và hình ảnh mang tính bạo dục không làm tôi phiền và say. Một trong những cuốn truyện tranh của tôi, khi tôi chưa đầy ba tuổi, có hình con đại bàng đang vồ con cừu non; và từ năm lên ba, tức là từ năm 1875 – vì tôi sinh năm 1872 – cho đến khoảng năm 1922, khi tôi năm mươi, tật xấu trí mạng này đã làm ngợp và ám tôi. Khi còn là một cậu bé và khi đã ở tuổi thiếu niên nó đã mang lòng thèm khát con mồi của nó, và rất lâu sau đó nó đã bị hấp dẫn cách bình thường hơn, dẫu chẳng bao giờ hoàn toàn bình thường, đối với các thiếu nữ, giống như thói xấu đi kèm theo của nó; nhưng mãi cho đến tuổi năm mươi, và năm ấy vẫn còn rất rõ ràng trong tâm trí tôi, tôi mới hoàn toàn vượt qua được nó. Khi nói “vượt qua” nó ý tôi là không bao giờ để cho bản thân tìm thấy niềm vui dù chỉ một khắc trong những ý nghĩ khổ dục vốn đã là tuyệt nữ tâm giao của tôi, là kẻ túc trực bên gối tôi nằm, ngót một nửa thế kỷ!

Trong mười năm qua Lương tâm tôi – chắc chắn đã nhận thấy sự cám dỗ nằm trong chính khả năng chống cự của nó – đã cứng rắn đến mức buộc tôi phải bỏ qua nhiều đoạn trong các tiểu thuyết hiện đại, và chúng lại có rất nhiều, tác động đến dây thần kinh khổ dâm. Tôi nghi ngờ liệu có bất kỳ độc giả nào ở Anh hay Mỹ có cây đũa thần hiệu nghiệm hơn tôi để phát hiện ra các mức độ khác nhau của thói bạo dục của một tác giả hay không. Tôi có thể kể tên các tác giả cố tình đằm mình trong nó – và tôi có thể biết được chính xác độ rung của dây thần kinh xấu xa khi họ làm vậy – trong khi đó ở Dostoievsky, người mà nó rõ ràng là một cám dỗ nhưng cũng là người, thật rõ ràng, đã hoàn toàn chế ngự được nó, mỗi một dấu vết của nó trong các tiểu thuyết của ông – không loại trừ “Lời thú tội của Stavrogin,” đã bị xóa khỏi Quỷ Ám – đều đã thăng hoa và được lọc cho sạch bởi sức mạnh của tinh thần.

Bất kể tôi có giở trò gì với Lương tâm ở những vấn đề khác, trong vấn đề này – chỉ vì đó là cám dỗ chiếm thế thượng phong nơi tôi – tôi lại thành thật như một nhà ngụy biện xác đáng và tinh tế nhất. Tôi còn hơn cả đạo đức khi tránh né điều đó. Ngay cả một chút vui thú có tính bạo dục nhỏ nhất trong việc đọc hay viết – chứ đừng nói đến nghĩ – cũng bị bóp nghẹt, và chết ngay trong trứng nước. Thực ra nó bị bóp chết ngay khi còn là phôi nguyên sinh, sớm hơn bất kỳ chồi non nào! Lương tâm tôi trong riêng vấn đề này quả thực đã trở nên quá đỗi hùng mạnh đến mức nó đã rèn luyện ý thức tôi hoạt động cách tự động, cho đến khi tất tật mọi tình huống mang hơi hướm bạo dục – nghĩa là khi thói quen độc ác chuẩn bị có bất kỳ cú “bật nảy” nào bởi sự ham nhục dục – đều bị thanh lọc trong ý nghĩ, có thể nói như vậy, ngay từ đầu! Như thế không có nghĩa – giống như đối với Dostoievsky – là tôi không “được phép” viết về những kẻ bạo dục. Thứ tôi không “được phép,” đó là viết về những kẻ bạo dục theo lối nhằm mang lại cho bản thân tôi, và cho những kẻ bạo dục khác, cái rùng mình mơ hồ kia.

Chẳng hạn, không có bất kỳ một ánh lóe nào của cái rùng mình mơ hồ ấy được khơi ra từ A Glastonbury Romance; vậy mà trong quyển sách này tôi lại mô tả chi tiết căn bệnh của một kẻ bạo dục hầu đã tuyệt vọng. Nhưng tôi đã làm được điều này – và với sự cẩn trọng vô hạn – mà không hề chạm đến hòa âm phản ứng của cảm giác ấy. Lương tâm tôi quá đỗi cứng nhắc trong vấn đề này đến nỗi tôi thà phá hỏng từ sớm hơn gấp ngàn lần “nghệ thuật” của một quyển sách bằng cách giữ cho cơn run rẩy chết người này hoàn toàn cách xa khỏi nó còn hơn là chấp nhận nguy cơ cung cấp nhiên liệu cho ngọn lửa tà ác này. Về điểm này tôi hoàn toàn tán thành – và tôi nghĩ Dostoievsky hẳn cũng thế – với những bà lão ở các thư viện cho mượn sách vốn cho rằng một số quyển sách hiện đại được đưa đến bởi chính tay Quỷ. Các bà ấy không hề lầm. Hoàn toàn đúng là chúng đến từ chỗ ấy! Nhưng ngoại trừ Dante – nơi mà tôi nhận ra điều đó – rất ít nhà văn lớn đúng nghĩa mang dấu vết dù là mơ hồ nhất của nó! Không có ở Homer, Aristophanes, Aeschylus, Sophocles, Euripides. Không có ở Rabelais, Montaigne, Shakespeare, Cervantes, Goethe. Nhưng sự thật là hầu hết công chúng có thể được mớm cho thứ thuốc độc ngọt ngào này, và cũng tận hưởng nó, mà chẳng hề có một ý niệm mơ hồ nào về bầu vú quỷ quái mà sự ngọt ngào ấy sinh ra.

Một điều kỳ lạ và thú vị về lịch sử đạo đức của tôi, đó là trong suốt năm mươi năm tôi buông mình vào thú vui của những ý nghĩ bạo dục tôi đã không ngừng nghỉ đấu tranh cách hoàn toàn chính đáng và vô cùng đáng khen ngợi để chống lại khoái cảm. Kể từ khi bước sang tuổi năm mươi tôi đã hoàn toàn giải phóng mình khỏi cái quan niệm bất hạnh rằng khoái lạc nhục dục như thế hay khoái lạc giới tính như thế là sai trái và tôi nghĩ rằng nếu hồi trẻ tôi có nhiều những mối tình hoàn toàn tự do hơn thì sự độc ác kỳ lạ này hẳn đã gây ảnh hưởng lên tôi ít hơn nhiều. Tôi không nói rằng nó chẳng phải luôn là một khuynh hướng của tôi, bởi rõ ràng đó là một định mệnh không thể thay đổi của bản tính tự nhiên tôi, nhưng tôi luôn nhận thấy rằng cách tốt nhất để xoa dịu chứng bạo dục thuộc về não bộ của tôi là đắm mình vào những khoái cảm bình thường hơn.

Bởi vậy quả là một điều kỳ lạ rằng trong khi Lương tâm tôi – trong vấn đề này tôi nghĩ nó đã hoàn toàn nhầm lẫn – buộc tôi phải đấu tranh chống lại mọi khoái lạc tính dục như là cái ác từ trong bản chất, tôi lại liên tục đắm chìm trong những suy nghĩ bạo dục; trong khi đó, khi đã ngừng cho phép bản thân mình dù chỉ là một ánh lóe nhỏ nhất của ý nghĩ bạo dục, tôi trở nên tin chắc rằng mọi cơn rùng mình thuộc về nhục dục nào không bao gồm tính độc ác đều hoàn toàn chính đáng. Và đó là chỗ tôi đứng ngày hôm nay. Không phải là tôi đã có kinh nghiệm – không! không hề một chút nào – về những hành động bạo dục mà tôi đã luôn nghĩ đến và tự kể cho mình nghe. Chẳng mấy chốc tôi sẽ có dịp thú nhận hầu như cặn kẽ từng hành vi mang tính bạo dục của mình; bởi tất tật chúng đều xảy ra trong thời thơ ấu của tôi và chúng có thể đếm được hết trên các đầu ngón tay, thậm chí chỉ cần một bàn tay. Không, chính trong suy nghĩ của mình mà tôi đã ngấu nghiến – từ cơn mê sảng đen tối này tới cơn mê sảng đen tối khác – thứ quả ngọt, đầy ghê tởm của Biển Chết này.

“Nhưng điều đó thì có hại gì cho ai?”

Tôi sẽ nói bạn biết, hỡi bạn hoài nghi của tôi. Bạn có thể, nếu thích, là người tin tưởng tuyệt đối vào sự hủy diệt và tính phù phiếm như bạn muốn, dẫu vậy bạn cũng phải thừa nhận rằng xuất phát từ bất kỳ sự sùng bái mãnh liệt và đầy tập trung nào kéo dài hết đêm này qua đêm khác và hết năm này qua năm khác với sự say mê mãnh liệt suốt một thời gian dài chắc chắn phải phát ra những rung động có từ tính nào đó thấm vào không khí khắp xung quanh và để lại một ấn tượng xấu xa vốn chỉ tan đi dần dần. Các ý nghĩ, như Paracelsus đã dạy, một khi đã được hình dung và nghiền ngẫm trong một thời gian dài, có khuynh hướng trở thành các thực thể.

Một người mang một Lương tâm khắt khe như của tôi, và một tâm trí giống như của tôi, sẽ quá đa nghi để mà bị lừa bởi các giáo điều của khoa học hiện đại, ghét bỏ cách tự nhiên cái ý tưởng tạo ra các nguyên tố của sự độc ác và thả chúng tan vào thinh không.

Quả thật kỳ lạ khi mà tôi chắc chắn đã sống ở Shirley cho tới năm lên bảy, vậy mà chỉ có thể giữ lại rất ít ký ức về cuộc sống của mình trong suốt thời gian ấy. Tôi nhớ rằng có một cái giống như một loại nhà nghỉ mát ở trong vườn vào thời ấy và tôi nhớ cách mình đã từng có lần nấu một món canh địa ngục trong một cái vạc sắt gỉ lớn ở nơi hẻo lánh ấy, trộn lẫn trong số các nguyên liệu khác – chẳng có cái nào nham hiểm bằng như những gì được nhắc đến trong Macbeth – là một ít nước tiểu của cả hai chúng tôi. Nếu điều kinh tởm nhất tôi từng làm, hay là gần giống với nghệ thuật của Ma thuật Đen nhất, là trộn nước tiểu của mình vào một cái vạc cùng với nước tiểu của em trai Littleton, thì tôi chưa từng phải chịu bất kỳ sự trừng phạt khủng khiếp nào từ “những linh hồn gieo ý nghĩ phàm tục;” nhưng rõ ràng là với tôi dẫu bị thúc phải phá vỡ lề thói đứng đắn bằng cách trộn nước tiểu của mình với của em trai tôi vẫn có một phản ứng trước toàn bộ sự việc; bởi vì khi nhớ lại giờ đây tôi nhận thấy một cái nhăn dúm kỳ quặc nơi miệng mình và một chuyển động của nước bọt từ bên này qua bên kia khoang miệng vốn là một dấu hiệu trước một cơn “trào lên của những thứ đã tọng vào bụng” yếu ớt.

Bác Littleton của chúng tôi, anh trai của bố tôi, vốn là một sĩ quan quân đội, đến sống với chúng tôi ở Shirley, một người đàn ông nghiêm nghị, để râu, có cái trán vuông. Chúng tôi quan niệm rằng một người lính như bác nhất thiết phải dũng cảm hơn những người đàn ông khác – dũng cảm hơn chẳng hạn Heber Dale, người đưa thư, vốn là một người lùn bị não úng thủy, dũng cảm hơn ngay cả “Stephen,” ông làm vườn, người đã cùng với bố tôi cắt và khiêng những bó cỏ khô Derbyshire rất nặng trên cánh đồng của nhà thờ. Tôi vẫn còn nhớ rõ cảm giác khoái trá xấu xa của mình khi ngồi trên đùi bác vào buổi tối, bác cho phép tôi đấm vào bộ mặt đầy râu bằng nắm tay của tôi để thử lòng dũng cảm của viên sĩ quan phục vụ Nữ hoàng này.

Không, tôi chẳng thể nhớ được gì về ngôi nhà thờ dưới chân đồi, nhưng về lối đi hẹp giữa các hàng rào cao dẫn xuống nhà thờ cho đến ngày hôm nay tôi vẫn còn nhớ, và đó là một trong những ký ức sống động nhất của tôi, niềm hân hoan trào dâng trong tôi như thủy ngân, khi lần nọ đi đằng trước cách một đoạn ngắn cái xe đẩy em bé, trên đó là em trai tôi Littleton, tôi quay đầu về phía cô bảo mẫu đang đẩy nó và tuyên bố cách đắc thắng rằng tôi là “Vua các đạo quân.” Một bài phát biểu rành mạch khác còn sớm hơn nữa của tôi, được thốt ra trước khi tôi có kinh nghiệm về cái giống như là “Vua các đạo quân,” đã tuột khỏi môi tôi ở phòng trông trẻ trong nhà, khi tôi ngồi trên cái ghế cao đối diện em trai và Theodore – lúc đó còn nhỏ xíu – ở trên đùi cô bảo mẫu, liên quan đến kích thước tương ứng của hai mẩu bánh mì mà tôi đã khiến cho cả thế giới phải chú ý đến, chỉ ra rằng mẩu bánh lớn hơn là tôi và mẩu nhỏ hơn là Littleton. Nguyên tắc của tính Tương đối đã tự hiện ra trước trí khôn của tôi như thế.

Tuy nhiên, bất kỳ độc giả nào có thể đoán được cực đối lập của xúc cảm đang chờ đợi cú chao của một con lắc đã lên đến độ cao giống như tôi đã làm vào ngày hôm ấy trên lối đi nhỏ, thật là một vực thẳm của nỗi nhục nhã kinh hoàng mà một đứa trẻ con như thế phải đối mặt. Hầu hết trẻ em, như Dickens luôn nhắc nhở chúng ta, đều có thể trải qua những nỗi khiếp sợ thầm kín gây kinh hoảng. Toàn bộ cuộc đời tôi – phải! cho đến tận ngày hôm nay, khi ở trong chỗ ẩn náu của mình trên các ngọn đồi New York  tôi nhớ lại những điều như thế! – là một cuộc đấu tranh dài với Nỗi Sợ, nỗi sợ hãi dị thường tự mình tạo ra. Hình hài mà Nỗi Sợ này khoác lấy trong những ngày ở Shirley là một thứ đã trở lại, cũng khôi hài, kể từ khi tôi sống ở Mỹ, dù từ năm lên bảy cho đến năm năm mươi tuổi tôi hầu như đã thoát được khỏi nó. Ý tôi là nỗi sợ cảnh sát. Chúng tôi được đưa đến một hồ nước hẻo lánh ở giữa Công viên Osmaston, một khu điền trang rộng lớn vốn đang được chuyển giao cho chủ mới lúc bấy giờ; và cuối buổi dã ngoại ở nơi vắng vẻ này tôi đã ném xuống nước một cành cây khô khá lớn! Ôi! Cái cành xúi quẩy ấy – thực sự chẳng hơn một cành già mục ruỗng – đã dày vò tâm trí tôi mới gớm làm sao! Một người lớn trong cái nhóm dã ngoại nhỏ của chúng tôi đã thốt lên, đúng như những tên ngẫn to đầu vẫn làm, một nhận xét vô nghĩa rằng Johnny nên coi chừng. Cảnh sát hẳn sẽ bắt nó vì tội vứt rác xuống hồ nước đẹp! Hỡi ôi, Johnny khốn khổ! Thằng bé không chỉ “coi chừng,” mà còn nhìn quanh, hết đêm này qua đêm khác, ở chỗ đối diện cái giường cũi của Littleton, tự nhủ thầm:

“Họ sẽ đến tìm mình. Họ sẽ đến bắt mình đi.”

Và đó là, vẫn luôn như thế, bản chất của Nỗi Sợ – thần Proteus có một triệu cái mặt nạ – đến nỗi Johnny chẳng dám hé ra nửa lời về tất tật chuyện này với một người phàm đang sống. Liệu có bất kỳ cái tai “bất tử” nào nghe thấy tiếng kêu của trái tim này, tiếng khóc không lời nhịp tim đập, của linh hồn người đang ấp ủ trong tận cõi lòng một Nỗi Sợ nó không được tiết lộ? Cần có niềm tin thì mới tin được! Chắc chắn khi bài thánh ca buổi tối hay tuyệt của Giám Mục Ken… “Gìn giữ con, xin hãy gìn giữ con. Hỡi Vua các Vua, dưới đôi cánh toàn năng của Ngài”… được đọc thuộc lòng trên cái gối kê đầu tôi, nó chỉ mang lại một sự giải thoát tạm thời khỏi nỗi kinh hoàng tối tăm không được tiết lộ, không được nói ra kia.

Chà! Đó là bản chất của cuộc sống phàm tục trên trái đất. Chỉ rất ít kẻ trong chúng ta có, lẩn sâu trong các dây thần kinh của mình,  một Nỗi Sợ bí mật nào đó mà chúng ta không “được phép” nói ra, ngay cả với người thân yêu nhất. Tôi cho rằng hẳn là đã có những bài thuốc chữa bệnh bằng các biện pháp tâm phân học đầy mơ hồ và nguy hiểm; nhưng bản thân tôi lại có xu hướng nghĩ rằng tốt hơn hết là cứ “để mặc,” dù như vậy không hẳn là hay, “một mình.” Chắc chắn chúng ta một mình, và luôn luôn là như vậy ở nơi yên nghỉ cuối cùng; và dường như với tôi cách khôn ngoan và an toàn nhất là mang “chứng điên” ấy, Nỗi Sợ ẩn giấu ấy của mình bên cạnh, và để cho nó thay đổi, tùy ý muốn, dáng vẻ bề ngoài theo độ tuổi mà chúng ta chạm đến. Điều tuyệt diệu là để có niềm tin vào khả năng lãng quên của chính mình, niềm tin vào kho chứa thần kỳ của dòng sông Lethe mà chúng ta tất thảy đều ôm ấp trong bản thể mình ở mức còn sâu hơn nỗi dày vò của chúng ta. Nếu có ai hỏi tôi món quà quý giá nhất mà Tự Nhiên đã ban cho chúng ta, tôi – người tôn thờ Ký ức – sẽ trả lời: “nghệ thuật của sự quên!”

Khi giờ đây nhìn lại đời mình tôi chắc hẳn chẳng bao giờ nói rằng tuổi thơ tôi, từ khi sinh ra cho đến năm lên bảy, là một tuổi thơ hạnh phúc. Nếu nó hạnh phúc, chắc chắn tôi không thể nhớ rằng nó từng như thế, và nếu cây gậy đáng nguyền rủa ấy, bị quẳng xuống nước, là hình hài đầu tiên mà Proteus-Nỗi Sợ này mang theo thì phải nhớ rằng nghệ thuật thần thánh của sự quên kia cần rất nhiều thời gian để phát triển. Cầu mong nó phát triển trọn vẹn trước khi tôi uống cạn sự quên lãng lạnh lẽo, xóa đi tất cả của nấm mồ!

Có một điều mà bảy năm sống ở Shirley ấy đã làm được. Chúng gắn liền cuộc đời tôi với cuộc đời em trai Littleton của tôi bằng một cái nút quá chặt đến nỗi chỉ có cái chết mới – nhưng có lẽ ngay cả cái chết cũng không thể – nới lỏng ra được. Ôi, Người bạn già của tôi, người mà mái tóc vào những ngày sau cùng này còn trắng hơn cả tóc của Johnny bạo ngược, làm sao tôi có thể chống cự lại những cú đấm của Thời Gian và Ngẫu Nhiên kể từ khi Số Phận đánh dạt chúng ta ra xa nhau đến vậy? Xa trong không gian nhưng không xa trong tim hay trong sự thấu hiểu! Bởi dẫu tôi không còn siết cậu bằng dây thừng nữa, hay treo bằng dây thắt lưng lên cửa sổ, thì thứ nước tiểu trẻ con mà chúng ta hòa lẫn trong cái vạc phù thủy thời thơ ấu đã hòa vào nhau nhiều hơn cả hóa học của tự nhiên. Khi tôi triệu hồi ký ức ít ỏi của mình về Derbyshire nơi tôi sinh ra, chợt đến với tôi một điều kỳ lạ là sự khác biệt quá đỗi giữa những lo lắng nông cạn của cuộc sống. Một vài trong số đó, như giờ đây tôi nghĩ về chúng, mang theo một cơn rùng mình thích thú, một cơn run rẩy tưởng tượng đầy dịu ngọt. Nhưng những nỗi lo khác, dẫu cũng nằm ngoài những rung động sâu thẳm của tâm hồn tôi, dường thấm đẫm một thứ nước cốt đắng, chát, cay, độc.

Có một cái ao gần Shirley, trên cánh đồng của một nông dân nào đó, mà chúng tôi thường nghe kể lại, và đã nhiều lần tôi được dẫn đến bên bờ để nhìn và kinh ngạc. Một lần nọ – và nỗi kinh hoàng thiêng liêng vô giá của lần ấy vẫn còn rõ rệt với tôi – tôi đã trông thấy một vòng tròn lớn sóng gợn dâng lên rồi lan rộng từ giữa vực sâu bị bùn che khuất. Trong nhiều tháng sau đó tôi cứ tự để mình rơi vào những cơn bột phát của nỗi khiếp đảm ngọt ngào tôi tự ôm vào mình trước vòng tròn sóng gợn đầy bí ẩn kia. Chắc hẳn đó là một loại cá nào đó – có lẽ là một con cá rô – nhưng vòng tròn sóng gợn kia cứ lớn dần, lớn dần, cho đến khi trước trí tưởng tượng non nớt của tôi, được chăm bẵm bởi một khao khát mãnh liệt những điều kỳ diệu gây náo động, chúng trở thành hiện hình của một loài cá chó khổng lồ nào đó, mang kích cỡ siêu nhiên, đã sống ở đấy trong nỗi cô độc uy nghi suốt một nửa thế kỷ!

Những ấn tượng trước tiên của tôi về bố không bao giờ thay đổi: và ông cũng thế. Ông là người tìm thấy được niềm vui đầy xúc động – một niềm vui sâu thẳm, mãnh liệt, sôi sục như núi lửa phun – từ những điều tự nhiên nhỏ bé nhiều hơn bất kỳ ai tôi từng biết. Niềm vui của bố tôi thật kỳ diệu, nhưng nó được nuôi dưỡng bởi một sự đơn thuần cũng oai nghiêm chẳng kém. Giờ đây khi nghĩ về ông dường như với tôi ông trẻ con hơn bất kỳ đứa nào trong số mười một đứa con của ông. Và chúng tôi tất cả đều trẻ con đến mức chưa từng thấy; và mãi mãi vẫn vậy! Phải rồi, giờ thì điều đó thật rõ với tôi – và các con của ông đã hiểu ông đến nhường nào! – rằng ông từng cảm thấy một niềm vinh quang đầy tự hào, xúc động trước sự thật vô cùng giản dị của việc có thể bước đi, với những bước dài chắc chắn, trên bề mặt của trái đất tròn. Nhưng niềm tự hào cảm động này của ông, dâng lên từ đáy sâu được di truyền của lồng ngực con người rộng lớn của ông, lấp lánh sáng bên dưới đôi lông mày rậm, khiến bờ môi trên dài được cạo nhẵn của ông rung lên và trồi ra, khiến ông phải xoa hai bàn tay xương xẩu vào nhau trong cơn ngây ngất tĩnh lặng, luôn lên đến đỉnh khi trong những bước đi của mình ông tìm thấy một bông hoa quý hay bắt được tín hiệu của một con chim hay bướm hiếm. Ông hoàn toàn không phải là một nhà tự nhiên học có hệ thống, bạn phải hiểu như vậy. Họa hoằn lắm mới có cái tên nào của thực vật học hay côn trùng học mà ông biết; nhưng ông có thể đặt tên tiếng Anh thông dụng, và tôi dám chắc đó thường là một biệt danh Dorset cổ xưa nào đó, cho những mẫu vật của Derbyshire này, trong khi Littleton và tôi ngạc nhiên quan sát cách ông trở về với khám phá của mình từ dưới đáy một con mương hay trên đỉnh một ụ đất. Hiếm khi nào ông về nhà sau chuyến đi dạo mà không có một bó nhỏ hoa dại trong tay; nhưng niềm tự hào lớn của ông là bộ sưu tập trứng chim, một bộ sưu tập thực sự khủng khiếp, mà những gì còn sót lại từ đó, đáng buồn thay đã bị hao hụt bởi tai nạn trong các chuyến xe tải chuyển nhà, em tôi Llewelyn vẫn còn giữ lại trong ngôi nhà Dorset thôn quê của cậu ấy. Ông ấy đã tự hào biết bao những khi – đó là một vài trong số những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của ông – kể về những chuyến leo trèo đầy hung hiểm của ông, lên cây, lên tường các lâu đài đổ nát, lên vách đá trên biển, xuống thành mỏ đá, lủng lẳng giữa những vách đá dựng đứng. Chuyện về những chuyến phiêu lưu chèo thuyền vĩ đại, cũng vậy, thường được kể lại với đôi mắt sáng ngời, bởi ông là một người chèo thuyền không biết mệt; và rất lâu trước khi tôi nhìn thấy bất cứ chỗ nào khác của bờ biển Weymouth ngoài bãi cát ướt và khô gần chỗ mấy cái nhà tắm di động, tất tật các mốc trên biển nổi tiếng ở đó, vịnh Vách đá đỏ, mũi Trắng, lâu đài Chân cát, đã hằn sâu vào trí tưởng tượng của tôi qua một màn sương huyền thoại của sự kỳ diệu đầy mê hoặc.

Cuộc sống của chúng tôi ở Shirley thật đa dạng với những chuyến viếng thăm hàng năm, qua ngả Derby và Bristol, đến Brunswick Terrace ở Weymouth, mà trên những bãi cát và bờ biển ở đó ông luôn bổ sung thêm bộ sưu tập vỏ sò của ông. Thật hiếm có du khách nào đến thăm các khu nghỉ dưỡng ven biển lại cố biết tên đám vỏ sò nằm rải rác trên các bờ biển đầy bão tố của chúng tôi! Nhưng lòng kiêu hãnh như núi lửa của bố tôi, được duy trì bởi một tính dè dặt không thể tiếp cận, đã truyền cho hậu duệ của ông ngay từ những năm tháng đầu đời một sự khinh miệt sâu sắc đối với cái phù phiếm trần tục trong đối sánh với một dục vọng chắc chắn vô cùng trang nghiêm, uy nghi, đơn thuần nào đó dành cho lịch sử tự nhiên. Nhưng ngay cả dục vọng này, vào lúc nó chuyển sang một hình thức có hệ thống bí hiểm hơn đã trở nên, theo một cách kỳ lạ, vô lý và lố bịch đối với ông! Nó bắt đầu chạm đến ranh giới sự ngu xuẩn của thứ bête noir tưởng tượng của ông, “ông Giáo sư” vốn luôn là tên côn đồ trong câu chuyện cổ tích dài bất tận của ông.

Sự thực là ông đã, trên cương vị Mục sư của Shirley, khi chúng tôi rời khỏi đó vào năm thứ bảy, được theo hầu cận bởi Mr. Lindon, một người cháu trai ngoài giá thú của ông, vốn là một nhà thực vật học có kiến thức;nhưng bất cứ khi nào khoa học bước vào địa hạt lịch sử tự nhiên nghiệp dư của ông bố tôi lại rụt vào hố sâu núi lửa của sự khinh miệt. Sự thực là, sự quan tâm của ông đối với Tự nhiên là một phần của cái nhìn lãng mạn đầy nhiệt thành – nhưng hoàn toàn chủ quan – của ông đối với cuộc sống. Chưa bao giờ tôi biết, và sẽ chẳng bao giờ biết được, một con người nào lại có cảm tri ngây thơ hơn thế về sự lãng mạn lạ thường nơi bản thân sự tồn tại của mình trên trái đất này. Về điểm này ông ngả về Homer hơn là Kinh Thánh. Mỗi người trong cuộc đời ông, mỗi nơi ông từng sống, đều lưu giữ đối với ông một tầm quan trong to lớn và có tính thần thoại! Sự kiêu ngạo và tính cố chấp của ông trong vấn đề tối hậu này là tuyệt đối. Ông chỉ cần liên kết bất kỳ tồn tại con người nào, bất kỳ nơi nào, với những trải nghiệm trong cuộc đời của chính mình, và người ấy hay nơi ấy sẽ được khoác lên một phẩm chất kỳ lạ giống như thần tiên, vượt ngoài sự thực thông thường.

Sức mạnh tính cách của người đàn ông này quá sâu sắc, quá dữ dội, quá uy nghiêm – và nhân tiện cũng quá tự chủ – đến nỗi trong hàng nghìn điều nhỏ nhặt chạm đến cuộc sống của mình ông luôn có nguy cơ nổ tung với cường độ cảm xúc vô cùng khủng khiếp. Việc ông không thường xuyên “nổ tung” nhiều hơn – đó là cách duy nhất để mô tả một vụ nổ khổng lồ như vậy – là nhờ vào khả năng tự chủ đáng kinh ngạc của ông. Chẳng bao giờ – không! chưa từng một lần nào – tôi thấy ông buông mình vào cơn bạo lực thể chất. Ông chưa bao giờ đánh chúng tôi khi ông giận. Cú bạt tai chúng tôi ấy – mà ông đã từ bỏ khi chúng tôi đi khỏi Shirley – được thực thi “vì lợi ích của chúng tôi,” hoàn toàn công bằng, và trong máu lạnh. Tôi ngờ rằng Theodore chẳng thể nhớ được. Littleton thì có lẽ nhớ. Nhưng ngay cả về việc này tôi cũng không dám chắc.

Những chuyến đi định kỳ của chúng tôi từ Shirley đến Weymouth, như có thể tưởng tượng được, là những sự kiện lớn đối với tôi. Vậy mà trí nhớ tôi lại kém như thế – kết quả của, tôi nghĩ, thói ham khoái lạc tưởng tượng đã ngay lập tức bị nuốt chửng và lãng quên! – thành thử tôi chỉ có thể nhớ được rất ít từ những chuyến du ngoạn quan trọng ấy. Màu của đầu máy xe lửa là một thứ đem lại cho tôi nỗi phấn khích. Các đầu máy xe lửa ở Great Northern có màu lục, và các đầu máy ở Great Western lại mang một màu lục khác; các đầu máy ở Midland ngả sang sắc tím đục, giờ thì tôi nghĩ vậy, trong khi ở Great Eastern lại có màu đen – những thứ như vậy đã khiến tôi rộn rã nghĩ đi nghĩ lại hoài. Và lại còn các nhà ga xe lửa nữa! Chiều dài của nhà ga ở Bristol, chẳng hạn, là một hiện tượng khiến tôi say mê. Nhưng chính bởi chuyển động thực của các con tàu này mà điều đặc biệt ám tâm trí tôi đã trở lại với tôi kể từ khi tôi thôi không đi tàu nữa, và chưa bao giờ không mang đến cho tôi cùng cảm giác kỳ lạ và phức tạp ấy. Tôi muốn nói đến cái lối, mà nếu nhìn chăm chú những sợi dây điện báo chạy dọc theo đường ray bạn sẽ thấy, chúng cứ nhô lên rồi nhô lên mãi như thế – cho đến khi chúng bị giật xuống bởi cột điện báo kế tiếp. Những sợi dây ấy trồi lên và bị giật xuống, để rồi trồi lên trở lại! Và cùng với cú giật khiến chúng rơi xuống ấy sẽ xuất hiện – để ghi lại thật chính xác cảm giác của tôi – một tiếng vù vù kỳ lạ nghe như tiếng một cây giáo được phóng đi, kết hợp với tiếng ro ro đánh trống trong tai tôi, như thể ngọn giáo kia đã xuyên thủng tôi. Phải chăng sự đơn điệu và buồn tẻ của cuộc sống chúng ta ở nhà đã bơm đầy các dây điện tín cứ trồi lên thụt xuống kia một bí mật nào đó không thể nói được? Hoặc giả chỉ thuần túy chuyển động lên, lên, lên, lên – và rồi xuống với một riếng rít gây choáng váng – theo một lối tinh tế nào đó mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn bộ bí mật của cuộc sống đến nỗi nó kêu váng lên theo một nhịp cũng tương tự, thảm thương, và có lẽ cam chịu không kém như trong nhịp đập con người của tôi?

Tôi nghĩ rằng những suy nghĩ và định kiến của gia đình chúng tôi đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những gì họ ăn và uống trong thời thơ ấu. Bố tôi không bao giờ động đến rượu trừ khi làm linh mục tại ban thờ, và ông chỉ ăn một lượng rất ít thịt và cá. Ông còn thậm chí chẳng bao giờ – điều này khiến chúng tôi vô cùng kinh ngạc khi lớn lên – ăn quá một quả trứng trong một bữa! Thức ăn chính của ông là bánh mì và bơ, hoặc thay đổi bằng bánh mì và mật mía, bởi ông không bao giờ ăn lẫn lộn những thức xa xỉ ấy, hoặc thay bằng bánh mì và mứt cam Dundee. Thức uống duy nhất ngoài nước lọc, thứ ông vốn không thích, là trà. Tất tật mười một đứa chúng tôi, trong khi tôi học ở Cambridge, và cả mười đứa chúng tôi ngày nay vẫn bị bạn bè xem là nông dân và thậm chí là gia súc, luôn tràn đầy vui thích khi sẵn sáng ngấu nghiến từng lát bánh mì cắt dày, phết bơ, mật ong, hay mứt cam. Người họ hàng lớn tuổi, mà ngôi nhà của bà ở cuối đường Brunswick Terrace là nơi chúng tôi thường đến khi các Mốc Định mệnh ở giữa Derby và Weymouth đã hoàn thành nhiệm vụ được giao với những sợi dây được kéo xuống, có thói quen kể lại rằng đôi môi trẻ con đầu tiên chào đón bà ở Shirley đã làm thế theo lối đầy bất ngờ và chẳng mấy nhã nhặn bằng cách thốt lên những từ hống hách: “Pha trà!” Chắc chắn đó không phải sự giải khát được Rabelais mô tả là phù hợp cho các lữ khách triết gia; nhưng không một tay theo lối Pantagruel nào từng có được một sự ngây ngất thỏa thuê hơn, ngay cả khi uống nước từ Sibylline Fount mà kêu lên “Gấp ba”, như chúng tôi có, với tư cách một gia đình, khi uống trà.

Nhưng Penn House, ở Brunswick Terrace, còn đem đến cho tôi nhiều nỗi xúc động khác ngoài việc uống trà. Những ô cửa sổ lồi của phòng khách hướng thẳng ra Esplanade – con đường rất hẹp ngay ở đó – và bờ biển đầy cát sỏi, bằng qua đó tiến về phía tây bạn sẽ thấy Portland, và về phía Đông là Mũi Trắng và Chỏm St. Alban, nhưng chẳng phải những cảnh quan hùng vĩ ấy là cái tôi nhớ lại trong các chuyến viếng thăm đầu tiên. Đó chính là những gì bên trong một căn phòng kỳ dị mà bạn bước vào qua cánh cửa xếp ở phòng khách. Căn phòng này có lẽ là một nơi trưng bày đủ mọi thứ đồ linh tinh thời Victoria tiền kỳ được nghiên cứu và chọn lựa cẩn thận, và cái mùi đặc trưng của nó – nơi chẳng có tiếng rót trà sống động nào làm phiền các nàng Sylph mơ màng đang bay lơ lửng trên những cái hộp khảm xà cừ và những khay dát sơn mài – một mùi cảm động và tuyệt diệu của gỗ thơm chạm khắc cũ – thường trộn lẫn với mùi rong biển và cá và những hòn sỏi được sưởi nắng tràn vào qua những ô cửa sổ lồi to tướng kia. Căn phòng nhỏ này thực ra là một tiền sảnh; nhưng đó là một tiền sảnh ở đằng sau, thay vì ở đằng trước, căn phòng gắn liền với nó.

Trong những chuyến đầu tiên đến thăm Brunswick Terrace ấy thật là cả một sự kiện lớn khi được dẫn ra thật xa chỗ bãi cát “khô”, nơi có bãi thả lừa, và hẳn là cả một ngày hội khi được cho phép chơi ở bãi cát “ướt”, không xa chỗ những cái nhà tắm di động. Bởi vì cần hiểu – đó là sự đa dạng của hiện tượng bờ biển ở Weymouth – rằng bờ biển đối diện Brunswick Terrace ấy hoàn toàn được tạo thành từ các tầng bãi sỏi xếp chồng lên nhau, và chính tại đây, vì nước dâng lên rất nhanh, là nơi ngư dân kéo lưới và cũng ở đây – xa hơn cái “cột đỏ” thứ sau này đã để lại ấn tượng cho Llewelyn em trai tôi – người ta được phép tắm mà không cần đồ tắm.

Chắc hẳn là ở một trong các chuyến viếng thăm này, khi tôi lên năm và Littleton lên bốn, bố tôi đã lần đầu tiên đưa chúng tôi đi qua bến phà gần chỗ cửa cảng cũ. Tôi không thể mô tả với bạn, và hẳn sẽ thấy rất khó mà tin được nếu bạn không trông thấy nó, niềm tự hào thuở ban sơ – giống như một bậc phụ huynh Neanderthal dẫn con cái đi dọc theo các bờ biển chưa từng ai đặt chân đến – mà với nó bố tôi đã giúp chúng tôi bước xuống những bậc đá trơn trượt phủ đầy nhớt xanh để đi sang con tuyền đang nhấp nhô bên dưới! Mọi thứ vô cùng thú vị, vì bạn phải chọn ra người lái thuyền trong số khá nhiều chủ thuyền, và tôi có thể nhớ rõ cảm giác kỳ lạ về thứ quyền lực phần nào mơ hồ mà tôi có được, khi xin bố tôi chọn người này và từ chối người kia. Đúng là vậy! nhưng ông sẽ dông dài quá đỗi về cái nghệ thuật “chèo chống” chừng nào chúng tôi bước lên các bậc thang ở bờ Nothe và đã đi đủ xa khỏi người lái thuyền!

Giờ đây tôi có thể thấy ông trong chiếc áo khoác dài màu đen, ngồi bên cạnh Littleton, với những con dấu bằng vàng đồ sộ treo lủng lẳng trên dây đồng hồ và một vệt nhớt xanh trên tay áo. Khi vui vẻ và yên bình ông trông đặc biệt giống một loài ăn thịt lớn hơn; một sự tương đồng không chỉ ở khuôn mặt vuông vức mà còn ở cái trán thấp và môi trên dài, hơi run.

Tôi đoán trước khi tôi lên bảy ông đã chở tôi đi thuyền – đích thân ông sử dụng một cặp chèo mà không cần giúp đỡ – đến tận Vịnh Vách đá đỏ; và chắc chắn trước khi chúng tôi đi khỏi Derbyshire ông đã dẫn Littleton và tôi qua phà, vòng qua pháo đài Nothe, đến tận lâu đài Chân Cát. Tại đây trong những hồ đá ông đã chỉ cho chúng tôi đám cỏ chân ngỗng biển.

“Chúng là những sinh vật rất nhạy cảm, Johnny,” ông sẽ nói vậy, khi các tua của chúng khép lại bởi cú chạm của tay tôi.

Ông cũng thường chỉ cho chúng tôi xem vỏ ốc xà cừ, giữ chúng với sự cẩn trọng đầy tế nhị trong một bàn tay rộng và nói với vẻ vô cùng tự hào: “Anh trai ta bảo rằng họ dùng vỏ ốc xà cừ làm tiền ở Ấn Độ.” Đó là một trong những nét đặc trưng kiểu Homer của bố tôi – những cung cách có tính lễ nghi của ông giống như thế đã góp phần lớn nâng cao phẩm giá của cuộc sống đối với chúng tôi – không bao giờ gọi là “Bác Littleton,” khi ông nói với chúng tôi về ông Thuyền trưởng, mà lúc nào cũng là, với một vẻ tôn kính mà ở đó sự kinh sợ dường dường đã nuốt mất sự thân thuộc, “anh trai ta.”

Ôi, làm sao tôi có thể diễn tả được cái mùi đặc biệt từng làm say đắm những giác quan trẻ thơ của tôi, thoạt đầu vô thức, nhưng dần dần trở nên hoàn toàn ý thức được, mà sau một chuyến đi chơi trở về việc mở ra cánh cửa bên trong của hàng hiên ở Penn House – còn cánh cửa bên ngoài, phồng rộp lên bởi nhiều giờ phơi nắng sáng thì chẳng bao giờ đóng lại – vốn dẫn vào lối đi nhỏ trong nhà đã hé lộ cho chúng tôi! Liệu nó có mùi như thế quanh năm hay không tôi chẳng thể biết được, nhưng yếu tố chủ đạo ở đó, dù có pha lẫn với một cảm giác mơ hồ về những vật hiếm, lớn hơn vỏ ốc xà cừ, được “anh trai ta” đem về nhà từ Ấn Độ trong kỳ nghỉ phép, chắc chắn là những cái xô và thuổng của chúng tôi dựng ở đó cùng những dải rong biển dài treo lủng lẳng trên tường. Đối với những giác quan trẻ con của tôi dường có một sự nhập vào nhau liên tục của toàn bộ bờ biển và gian bên trong của ngôi nhà này; tia nước và bọt biển và sứa và sao biển lúc nào cũng dập dềnh trôi ra trôi vào, mang theo ý thức của tôi đi tới đi lui cùng với chúng giữa các tác phẩm nghệ thuật đem về từ Ấn Độ và bãi cát thích mê bên kia bãi thả lừa.

Nhưng chúng tôi còn có các bà con khác để ghé thăm, trong bảy năm ở Shirley, những người sống ở một vùng khác của miền quê cách xa Weymouth. Ông ngoại tôi lúc bấy giờ là Mục sư của Yaxham ở Norfolk; và bởi bản tính tôi vốn giản giản dị và dễ cảm, nếu không muốn nói là nồng nhiệt, một khung cảnh khác và hoàn toàn tách biệt đã in sâu vào đó. Ở miền quê này, nằm gần mực nước biển, nơi chẳng có gì khác ngoài liễu, bạch dương và gỗ trăn che khuất ánh mặt trời mọc và lặn, tôi nhớ lại một độ tuổi mà vóc dáng khi ấy khiến tôi khó mà trông thấy được ngọn lúa mì chín vàng, được đưa đi đầy thích thú trên một con đường gần đường ray xe lửa bởi cảm giác về sức mạnh vô biên và tuyệt đối mà tôi có khi nắm chặt ở giữa một cây gậy để cho hai đầu nhô ra đằng trước và đằng sau vờ như đó là một trong các đầu máy xe lửa của Great Eastern mà màu đen của chúng đã khiến tôi vô cùng thích thú, sau những đầu máy xe lửa màu lục của Great Western.

Rất nhiều người khi đến tuổi sáu mươi có thể, tôi cho là vậy, nhớ lại niềm vui họ có được khi chơi tàu hỏa. Liệu họ có thể nhớ lại được giống như tôi, theo cách vô cùng rõ ràng sống động, những cảm xúc cụ thể đã mang lại cho họ niềm vui kia không? Tôi muốn nói đến cảm giác khi Johnny Powys, khi đến sống với ông nội ở Yaxham, thực sự bị chiếm trọn bởi một sự gì đó có tính trọng đại mơ hồ đến nỗi đặt cậu ta vào một vị thế mà những người khác phải theo dõi, bám chặt, phụ thuộc vào cậu, chờ đợi ý muốn của cậu, phục tùng ý thích thất thường, và thắc mắc về mục đích đầy ương ngạnh và bí ẩn của cậu ta?

Trong tất tật các loài tạo vật trần thế một loài thuộc vào số đáng ao ước và ghen tị nhất là con kỳ nhông, hay thằn lằn nước, hay sa giông, đặc biệt là loài sa giông lưng đen bụng cam; và tôi biết rằng niềm sung sướng tột độ có được khi “chơi tàu lửa” trên con đường gần cây cầu đường sắt Yaxham, đã được cân bằng bởi nỗi thất vọng khốn khổ tôi gặp phải khi hiểu ra rằng cái ao làng ở Yaxham – một cái ao trên đồng cỏ nằm không xa đường ray Norwich và Đông Dereham – không có con sa giông nào, thậm chí vào thời điểm tôi đi câu ở đó chẳng có lấy một con nòng nọc. Theodore hẳn đã lên ba, Littleton lên bốn, và tôi lên năm trong những chuyến ghé thăm Yaxham sau này. Bởi tôi nhớ rằng chính vì lợi ích của những đứa nhỏ hơn ấy, chứ không phải là để có lợi cho mình, mà tôi đã biến mình, bằng một sự luôn hồi tự tưởng tượng, thành một đầu máy xe lửa đen; và trong cơn thịnh nộ khi lưới của tôi kéo lên từ vũng nước đục ngầu kia chẳng có gì ngoài một loài ốc sên to tướng kỳ lạ – giờ tôi có thể thấy mọi chuyện thật rõ! Chúng đang ở đúng thế giới của chúng dưới đáy một cái ao; nhưng thế chỗ con sa giông bụng cam, nổi dập dềnh, dập dềnh, chân choãi rộng, khi nó chìm xuống cách đầy khêu gợi, chẳng hề nhúc nhích cái đuôi, đám ốc sên kia dứt khoát chẳng hề hấp dẫn – tôi không thể nhớ rằng cảm giác của tôi có được hiểu bởi những đứa trẻ con đi cùng kia không.

Tôi đã nói về một trong những đặc điểm trội hơn hẳn trong cuộc đời của tôi là nỗi khao khát trở thành một pháp sư. Nhưng cùng với ham muốn này lại xuất hiện một cái khác ít đáng khen ngợi hơn nhiều, nỗi khao khát được công nhận như là chủ sở hữu những tình cảm cao quý! Một ví dụ đáng thương hại cho khuynh hướng thứ hai này, mà tôi e rằng cần phải phân biệt dứt khoát khỏi sự mong muốn cảm thấy các tình cảm cao quý, xảy ra khi tin tức đến với chúng tôi, lúc bấy giờ đang ở Yaxham, về cái chết đột ngột vì bệnh tả của anh trai bố tôi Littleton, người lính, mà khuôn mặt người ấy tôi đã từng thích thú đầy tai ác đấm vào bằng nắm tay mình. Tôi có thể nhớ chính xác hình ảnh của cơn mưa, tạo thành những kim tự tháp nước nhỏ khi nó rơi xuống vũng nước ven con đường dẫn đến nhà ông nội tôi, trong khi trái tim tôi tràn ngập niềm tự hào vì đã giải thích với họ hàng rằng đó là điều bất khả với cả Littleton bốn tuổi và Theodore ba tuổi để cảm nhận sự kiện này theo lối tôi cảm thấy.

Nhưng hãy quay trở lại cuộc sống của chúng tôi ở Shirley. Ở đây cũng, giống như ở Penn House có một phòng chờ được nối thông với phòng khách, nhưng phòng chờ này phải được đi qua trước khi có thể vào phòng khách. Các phòng trong căn nhà một đứa trẻ trải qua thời thơ ấu đôi khi mang dấu ấn lâu dài của những tai nạn kỳ quặc nhất. Phòng chờ ở Shirley này vẫn còn hiện ra trong tâm trí tôi ngày hôm nay như một nơi hành quyết! Tôi đã tình cờ nghe bố tôi đọc lớn lên từ tờ The Standard, tờ báo bảo thủ hằng ngày mà nhờ nó ông điều chỉnh lại những ý về chính trị vô cùng đơn giản của mình, một bài tường thuật về vụ hành quyết một thành viên xui xẻo của đội quân mà bác tôi phục vụ. Với một nỗi hứng thú tột độ tôi đã theo dõi từng chi tiết của thảm kịch này: cách con người bất hạnh ấy bị buộc phải đào huyệt cho mình rồi cuối cùng ngã ngửa vào đó sau loạt đạn của đội hành quyết. Lần này cả Littleton và Theodore đều bị anh trai chúng cưỡng bức tham gia phiên tòa xét xử trong phòng chờ. Đứa nào nã đạn, đứa nào ngã xuống huyệt thì tôi đã quên; nhưng trong tất tật mọi trò chúng tôi từng chơi với nhau hồi đó trò duy nhất tôi có thể nhớ được hoàn toàn rõ rệt chính là cái trò “Hành quyết tên phản bội” này được tiến hành vô cùng chân thực trong căn nhà tẻ nhạt ấy.

Nỗi căm ghét suốt đời cái được gọi là “Xã hội” – khuynh hướng chống đối xã hội bắt rễ sâu trong tôi – đã được thể hiện cách rõ ràng trong một dịp ở Shirley mà đến tận bây giờ vẫn gây ra cho tôi một cơn rùng mình khẽ bởi ghê tởm khi nhớ lại. Chính vào lúc, nếu tôi không nhầm, vài người thân ở Norfolk đến ở lại với chúng tôi, tôi đã được đưa, Littleton và Theodore còn quá nhỏ để tham gia một sự kiện như thế, đến một bữa tiệc vườn lớn ở công viên Osmaston. Tôi đồ rằng ấy hẳn phải là một trong những buổi chiêu đãi đầu tiên mà người sở hữu mới của điền trang cũ này tổ chức và tôi dám nói chắc rằng bao trùm ở đó là một bầu không khí theo lối mới toẹt, rất khác với những gì chúng tôi vẫn thấy ở điền trang, chẳng hạn, của Mr. Oakover ở Oakover, một điền chủ láng giềng khác, mà dòng dõi không ngắt quãng bắt nguồn từ thời Saxon.

Tất cả chúng tôi đều tụ tập dưới tiết trời tháng Sáu dễ chịu trên bãi cỏ thoai thoải của ngôi nhà lớn, và khung cảnh chắc hẳn mang dáng dấp đặc trưng của một Fête Champêtre ở Anh mà Henry James rất yêu thích, thì một gã mô phạm cảnh vẻ dị thường rất nhanh nhẩu nào đó – chắc chắn là hiện thân của tất tật mọi phẩm chất của “ông Giáo sư” mà bố tôi vốn căm ghét – nhảy chân sáo đến chỗ chúng tôi cùng với lời đề nghị tổ chức một buổi tiệc cho trẻ em đi săn lùng vài mẫu vật hiếm của cỏ lông vũ, lúc bấy giờ đang vào kỳ nở hoa rực rỡ, mà hắn ta đang háo hức – hoặc vờ tỏ ra như thế – bổ sung vào “Tập mẫu cây” của mình. Chủ nhà khăng khăng rằng thằng bé Johnny Powys – sưng sỉa, khổ sở, hay chống đối, đãng trí – nên tham gia vào tiệc tìm kiếm thực vật thời thượng trời đánh này; và giờ tôi nhớ lại nỗi ghét người đến tuyệt vọng mà tôi đã mang theo khi lê bước sầu thảm qua đám bụi cỏ lông vũ ấy, quá nhát chẳng dám bỏ mặc đám bạn đồng hành kia để mà liều rút lui, nhưng nhất quyết không ngắt một cọng cỏ nào vì lợi ích của khoa học.

Một tình huống chính xác tương tự như thế đã xảy ra rất lâu sau đó – vào cái ngày được gọi là “Chủ nhật hoa” ở trường Sherborne, khi tất tật đám con trai đội mũ lụa chóp cao được cử đi trong đoàn thiện nguyện đến hái hoa cho một bệnh viện – và Powys đã lớn này lại một lần nữa chẳng chịu tham gia, cũng chẳng bỏ trốn theo cách anh hùng.

Thật quá đỗi thường xuyên trong đời tôi xảy ra những khoảnh khắc như thế khi tôi quay lưng trong sự lãnh đạm sưng sỉa với loại hoạt động kiểu bộ lạc mà tôi bị quẳng vào! Tôi có thể nhớ được quá rõ những cảm xúc mà những lần như vậy tôi lùng sục trong cái đầu ương bướng của mình để tìm kiếm một đồng chí-Ishmael [kẻ bị xã hội ruồng bỏ], hay một kẻ nào đó giống như Ishmael, và chẳng thấy đâu. Tôi có thể nhớ rõ một lần nọ rất lâu sau quãng ấy – khi tôi sống ở Montacute – tôi cảm thấy bất bình với tất cả mọi thành viên trong đại gia đình của chúng tôi – và một mình cuốc bộ lên con đường nhỏ, đi qua trang trại của Mr. Marsh, về phía Thorn Cross, để tìm chiến hữu bị ruồng bỏ chẳng ai biết ấy.

Tôi chưa bao giờ khám phá ra mẹo đọc thầm cho mình nghe mãi đến khi đã rời khỏi Shirley, hồi tôi bảy tuổi. Điều này thì tôi chắc chắn; dù bảy tuổi dường là một thời điểm quá trễ trong đời người cho một khám phá trọng đại như vậy. Nhưng cả gia đình tôi phát triển trí tuệ rất chậm, và những thành tựu giống như thế mà chúng tôi mãi sau này mới đạt được đều là những thành tựu của tính trẻ con bất khuất kéo dài đến tận những năm trưởng thành. Đúng vậy, tôi biết rất chắc chắn rằng khi chúng tôi rời khỏi Shirley, vào năm tôi lên bảy, tôi vẫn chưa biết cái mẹo đọc một mình. Tôi phải xem xét một chút để làm rõ điểm này. Ngay sau khi chúng tôi ổn định ở Rothesay House, Dorchester, tôi đã dành trọn một buổi chiều vô cùng ẩm ướt để đọc một mình trong phòng làm việc của bố tôi. Bố vắng nhà, đang đi thăm người nghèo ở thị trấn cổ xưa này, bởi lúc ấy ông đã trở thành cha phó cho Mr. Knipe ở nhà thờ St. Peter; và ngồi trên chiếc ghế bành lưng cao của ông – tôi quên mất ai trong chúng tôi giờ đang sở hữu cái ghế ấy, nhưng cả bọn chúng tôi thường tì đầu gối vào nó bên cạnh ông để chuẩn bị cho mọi biến cố quan trọng trong đời – tôi đã đọc rất lâu, mãnh liệt, và bị hút vào đầy say mê cuốn Alice Through the Looking Glass. Cũng giống như Alice in Wonderland mà chắc hẳn tôi đã đọc rất to, cuốn sách này ngay lập tức biến hình thành các ý định của nhà Powys. Chúng tôi coi những khía cạnh khôi hài, dí dỏm của nó như thể chúng không hề tồn tại. Chúng tôi hiểu chúng theo nghĩa đen; và hết sức kính cẩn trong việc làm cho chúng trở thành trang trọng, nghiêm túc, thực tế, và thần thoại! Và khi tôi làm điều này với sự sáng tạo của nhà toán học có bộ óc kỳ quái tôi cũng làm vậy với toàn bộ cuộc sống.

Như tôi đã khẳng định ngay từ đầu, ảo tưởng chiếm thế chủ đạo trong cuộc đời tưởng tượng của tôi đó là tôi là, hoặc ít nhất thì rốt cuộc sẽ trở thành, một pháp sư; và một pháp sư là gì nếu không phải người biến “thực tại” của Chúa thành “thực tại” của chính anh ta, thế giới của Chúa trở thành thế giới của chính anh ta, và bản tính của Chúa trở thành bản tính của chính anh ta?

Nhưng ấn tượng nào, giả như có cái gì như thế, tôi đã nhận được từ phép màu của văn chương trước khi chúng tôi rời Derbyshire đến Wessex? Tôi sẽ nói cho bạn biết; bởi điều này đôi với tôi khi nhớ lại cũng rõ ràng giống như lần đầu tiên ở Rothesay House khi tôi đọc Alice Through the Looking Glass. Chuyện xảy ra trong phòng ăn ở Shirley, nơi chúng tôi thường, thay vì ở phòng khách, quây quần quanh cái bàn bằng gỗ đào hoa tâm sau bữa trà chiều. Tôi tin là tôi biết lúc này cái bàn ấy đang đặt ở đâu. Tôi nghĩ nó đã băng qua rừng Đông Phi từ Mobasa đến Nunyuki, và giờ đang choán chỗ trong căn nhà chăn cừu của em trai út Willy của tôi. Vậy thì, chính ở bên cái bàn này, dưới ánh đèn, và tôi nghĩ rằng lúc ấy đang là mùa đông, bởi những rèn của lớn màu lục có diềm tua rua thêu đỏ che kín cửa sổ, bố tôi đọc cho Littleton và tôi – Theodore đang ngủ trong cái nôi trên tầng – một bài thơ về chiến tranh tên là “Nơi dòng Rhine chảy qua.” Ông chọn bài thơ này, bởi lý do riêng của ông, trong một cuốn sách khổ lớn có tranh minh họa mà chúng tôi có ở nhà về những kỵ sĩ Scotland của Aytoun. Dòng sông Đức bị vượt qua vào dịp ấy bởi những người vùng cao, để phục vụ cho - tôi nghĩ, Vua nước Pháp. Tôi không biết chắc liệu ông ấy có từng đọc bất kỳ bài thơ nào ly kỳ hơn nhiều trong quyển sách đó hay không, chẳng hạn “Dundee” và “Flodden,” nhưng điểm quan trọng – ít nhất đối với tôi – đó là tôi đã có ấn tượng đầu tiên về sự quyến rũ của văn chương có liên quan đến những kẻ lưu đày, và những kẻ lưu đày mà chính nghĩa của họ dường đã mất đi không thể cứu vãn.

Tuy nhiên chính những tranh minh họa trong quyển sách của Aytoun đã gây ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất. Nhìn tổng lại, không quyển sách nào – không, không có bất kỳ quyển nào khác! – có sức ảnh hưởng đến tôi lớn bằng quyển sách này. Các vần thơ của Aytoun đã có công lớn, nhưng họa sĩ minh họa của ấn bản đồ sộ này còn làm được hơn rất nhiều, biến tôi thành một kẻ lãng mạn ngoan cố, hết thuốc chữa. Sức ảnh hướng của quyển sách này chưa dừng lại ở đó. Không phải hướng về bất cứ một thế giới thuần túy lãng mạn mơ hồ nào mà trái tim tôi dò dẫm lần tìm. Những kỵ sĩ Scotland của Aytoun đã khơi dậy, từ sâu thẳm trong hố trung tâm của dạ dày tôi nơi chắc hẳn từng là cuống rốn, cái cảm xúc Celtic kỳ lạ ấy – Matthew Arnold đã mô tả nó cách tuyệt đẹp, và việc anh ta có mô tả đúng hay không thì chẳng quan trọng – thứ, giống như tinh thần của bản thân xứ Wales, luôn luôn quay trở về, giống như nước trở lại đúng mức của nó, với bản thể đầy kiêu hãnh, hay lẩn tránh, mọc vào trong của nó.

Ánh mắt bố tôi thường cháy lên một ngọn lừa cùng lúc vừa bí ẩn vừa sáng rực, giống như ngọn lửa trong mắt một ông vua đã thoái vị từ lâu, khi ông kể cho chúng tôi nghe về nguồn gốc của chúng tôi bắt nguồn từ các Hoàng tử xứ Wales cổ xưa ở Powysland. Từ một gia đình xứ Wales cũ đã định cư lâu đời trong thị trấn Ludlow ở Shropshire nơi ban đầu được gọi là “Marches” xứ Wales chúng tôi chắc chắn đã – dù là Hoàng tử hay không phải Hoàng tử – như các phả hệ ghi lại, “vạch lại dòng dõi của mình;” và tôi ngả về hướng nghĩ rằng hiếm có một linh hồn phàm trần nào – chắc chắn là không một linh hồn hiện đại nào – lại mang dòng máu Cymric cách bướng bỉnh hơn linh hồn của tôi. Tôi hoàn toàn sẵn sàng thừa nhận rằng các bộ lạc Cymric không phải là thổ dân xứ Wales. Nhưng bất kể họ là ai, ngay cả khi họ sử dụng các truyền thuyết và truyền thống thuộc về kẻ bị chinh phục, những người có lẽ cũng đã sử dụng các truyền thuyết cổ xưa hơn của những người đã mang ra khỏi xứ Wales các tảng đá “ngoại quốc” để dựng nên Stonehenge, thì dường như họ, theo cách nói của Jung, là những người “hướng vào trong” nhiều nhất trong mọi chủng tộc. Có lẽ những tiền nhân của họ ở vùng lãnh địa xa xôi và nhiều đồi núi ấy cũng “hướng vào trong”! Có lẽ trí tuệ cổ xưa nhất ở xứ Wales là trí tuệ khôn ngoan nhất và cổ xưa nhất trong toàn bộ trí tuệ loài người; nghĩa là dựa vào chính sức mạnh của ý lực và trí tưởng tượng để phá hủy và tái tạo thế giới. Vâng, có lẽ chính những hình minh họa trong ấn bản đặc biệt này đã khơi động lòng yêu xứ Wales cổ xưa trong tôi còn hơn cả các vần thơ; thế nhưng chẳng mấy chốc tôi đã thuộc lòng một trong các bài thơ ấy, “Tang lễ Dundee” tôi thuộc lòng từng chữ đến nỗi cảm xúc nó chứa đựng, hòa quyện với điều tôi được thừa hưởng từ bố về lòng tự hào thầm kín, lén lút, hết sức dè dặt, và trộn lẫn với “hào quang” tỏa ra nơi các hình minh họa lãng mạn kia, đã ảnh hưởng, còn sâu hơn cả những gì tôi có thể khiến cho bạn tin, đến những cảm xúc thực tôi có khi bắt gặp những tảng đá, hòn sỏi, những cái cây và dòng sông và những ngọn đồi phủ đầy cây cối.

Chính tại cùng cái bàn phòng ăn này mà một buổi tối mùa đông nọ Littleton, Theodore và tôi đã được xem một quyển sách vô cùng lạ – nhưng tôi chắc chắn rằng cả hai người bọn họ đều đã quên nó – cuốn sách ấy đối với tôi sánh ngang hàng với cái rìu nguyệt quế về tầm quan trọng siêu nhiên của nó. Người ta không hiểu cuộc sống của một đứa trẻ giàu tưởng tượng đến thế nào. Khi lớn lên chính chúng ta đã quên. Bởi vậy mà đi đến chỗ toàn bộ thế giới biểu tượng ấy, đầy những điều kỳ diệu lạ lùng nhất, biến mất bởi một sự hủy diệt sâu sắc đến mức khó có thể hình dung được. Quyển sách này bề ngoài to như một quyển sách khổ lớn nhưng đó là một quyển sách mới chứ không cũ, và mỏng như một bóng ma. Đó là một quyển sách đích thực, một dạng truyện cổ tích có tranh minh họa – thực ra hoàn toàn có thể tưởng tượng được rằng nó là một trong các vở kịch cổ tích dị thường hơn cả của Shakespeare. Ngay cả khi viết tôi vẫn hấy nó dưới ánh đèn trên cái bàn gỗ đào hoa tâm trơ trụi ấy – và, xin chú ý, độc giả! Tôi chưa bao giờ, và sẽ không lần nào nữa trong tác phẩm này, hé môi nói với bất kỳ một linh hồn sống nào về việc ấy – nhưng nó lại có tác động tương tự lên tôi giống như cái rìu nguyệt quế kia. Ấy dường là một điều gì đó vượt xa niềm vui tự nhiên, thông thường! Cứ như trong cái rìu gỗ và trong quyển sách khổng lồ này, rất lớn, nhưng đồng thời cũng thật mỏng và thanh đến mức giờ đây tôi cảm thấy như thể nó chỉ có một lớp bìa cứng. Tôi đã chạm vào một bí mật kỳ diệu nào đó của hạnh phúc; một loại hạnh phúc biết đến bởi các yếu tố nguyên thủy, hoặc bởi các tồn tại không bị ràng buộc bởi những yếu đuổi thể xác con người.

Trẻ con chiếm ưu thế vượt trội so với người lớn là ở chỗ hoàn toàn thoát khỏi gánh nặng của quyền thế và truyền thống. Chúng bị buộc phải cư xử đúng mực trong các bữa ăn và giờ học và không được khiến mình trở thành mối phiền phức; nhưng trong giờ chơi của chúng, thứ chiếm phần lớn thời gian, đa số trẻ con, ngay cả đám con một, được tự do phát minh ra các “trò chơi” của riêng chúng. Lúc ấy việc dùng từ “trò chơi” để gọi các mục đích lớn của cuộc sống đám trẻ con là rất sai. Những đứa con trai và con gái lớn hơn dĩ diên là có các trò chơi; và khi chơi chúng chấp nhận đó là các trò chơi; đám trẻ con nhỏ hơn lại thường bị dụ dỗ hoặc bắt nạt buộc phải học các luật tùy tiện của những trò tiêu khiển này. Nhưng cuộc sống bên trong vô cùng mãnh liệt của đám trẻ con, sự tồn tại toàn tưởng tượng mà đối với chúng là toàn bộ mục đích và mối quan tâm sống còn trong từng ngày của chúng thì không phải là một trò chơi. Nó chỉ trông như một trò chơi trong mắt những người xung quanh chúng. Nhưng thay vì ghen tị với thực tại trưởng thành nơi cuộc sống những người lớn kia, hay ngưỡng mộ nó, hay nghĩ cách làm sao để bắt chước, đám trẻ con lại mang một sự khinh thường ngầm ẩn vĩnh cửu đối với thực tại ấy vì nó thiếu đi một điều quan trọng.

Điều duy nhất quan trọng này chính là phép màu. Trẻ con không thể giải thích nó! Chúng không biết cái từ ấy nghĩa là gì. Tôi thú nhận rằng chính tôi cũng không hoàn toàn hiểu nó. Nhưng bất kể là gì, nó bao hàm hai thứ. Nó chứa cảm giác về một quyền năng sống lên vật chất và lên tự nhiên. Và nó chứa một khoảng trống lớn trong không gian, một khoảng trống không vô cùng thuần khiết trong toàn bộ hệ thống của sự vật, ở đó các phản ứng hoàn toàn mới với cuộc sống trỗi dậy, giống như các bong bóng tiên, và bập bềnh trôi vào cõi không biết! Ngoài ra nó còn hàm ẩn nhiều điều khác nữa. Nhưng điểm quan trọng nhất đó là các khoảnh khắc sống động nhất về niềm hạnh phúc với một đứa trẻ là điều bí mật, kỳ diệu, và xuất phát từ một cấp của thực tại hoàn toàn khác với cấp của thực tại nơi người lớn. Trẻ con không chơi những trò thông thường theo tập quán trừ phi chúng được những anh chị lớn hơn khuyến khích. Những “trò chơi” của trẻ con, nói cho đúng, không hề là các trò chơi. Chúng là thực tại ở tận trong cùng của đứa trẻ! Chúng là ảo ảnh-cuộc sống của đứa trẻ. Đám trẻ con quay lại với chúng cùng tiếng thở phào nhẹ nhõm bởi thoát khỏi những hoạt động xâm phạm không đúng chỗ của người lớn.

Sự thật, đám trẻ con không có nửa nam hay nửa nữ, hay một nửa con trai và một nửa con gái. Chúng là một chủng tộc sui generis. Chúng là một chủng tộc những sự tồn tại tự đầy đủ. Và chính trong sức mạnh của giống loài kỳ lạ này chúng có thể xâm nhập vào bí mật của cuộc sống sâu hơn hết thảy mọi loại phàm trần khác. Sâu hơn ư? A! Toàn bộ vấn đề về sai lầm của nền văn minh phương Tây nằm ở đây; bởi vì nó liên quan đến bản chất của cái chúng ta gọi là thực tại.

Thực tại đích thực hoàn toàn thuộc về tâm trí. Nó vừa có phần tốt vừa có phần xấu. Nhưng nó chi phối thực tại thấp hơn – sự kết tụ thuần túy tạo hình của vật chất và sức mạnh vật chất – trong sự khuất phục. Nó tạo ra và phá hủy thực tại thấp hơn này theo niềm vui ương ngạnh và tùy tiện của nó. Đó là lý do tại sao chỉ những kẻ thô tục và giáo dục kém mới mua cho con cái họ những đồ chơi đắt tiền. Đối với một đứa trẻ đích thực bất cứ thứ gì cũng có thể làm đồ chơi. Đồ chơi rẻ tiền thì chẳng gây hại; và chúng mang lại cho những sinh vật độc nhất này niềm vui vô bờ bến. Nhưng luôn luôn là những món đồ chơi cũ của chúng, dẫu rẻ đến thế nào, mà đám trẻ con bám vào. Tại sao? Bởi chúng không còn chỉ là đồ chơi nữa. Chúng đã trở thành phương tiện, cây cầu, cái thang, cửa sập, tấm thảm ma thuật, mà bởi đó đám trẻ con bước vào vương quốc thiên đường; bước vào, nói cách khác, vùng đất cầu vồng của trí tưởng tượng của riêng chúng!

Dò dẫm loay hoay, với trí nhớ bất toàn của tôi hiện giờ, giữa các ấn tượng ít ỏi về quãng thời gian ở Shirley ấy tôi tự hỏi mình những nỗi thôi thúc lớn nào của cuộc sống quãng sau này của tôi có thể lần được dấu vết bắt nguồn từ thời điểm ấy và những gì không thể. Khát khao trở thành một ảo thuật gia chắc chắn là cái không thể nghi ngờ! Khi tôi đột nhiên bị mang đi với trạng thái say mê trên lối đi nhỏ ấy dẫn từ đồi xuống làng, khi tôi loạng choạng trên các rãnh bùn trước cái xe đẩy của Littleton, giả vờ mình là “Vua các đạo quân,” đúng là một khát khao về sức mạnh kỳ diệu khó hiểu nào đó đã xúi giục tôi.

Điều tôi không thể tìm thấy trong ký ức mình, dù đã làm tất tật những gì có thể để tìm, là một dấu vết dẫu mờ nhạt nhất về cái ôm chặt có ý thức của Tự nhiên với một trạng thái ngây ngất tâm thần-thể xác mà bởi đó tôi đi đến kinh nghiệm sau này trong tri nhận sâu sắc nhất của tôi về mục đích cuộc sống. Tôi tin chắc rằng rất nhiều người nhìn lại thời thơ ấu của mình quãng trước khi lên bảy có thể nhớ lại những khoảnh khắc đã khiến họ reo lên đầy say mê: “Ôi, ta thật hạnh phúc! Ôi, ta hạnh phúc quá!” chỉ đơn giản và duy nhất bắt nguồn từ sự biết rõ từ trước cái mà Wordsworth gọi là “niềm vui vốn có trong bản thân cuộc sống.”

Có những khoảnh khắc như vậy tôi vẫn có thể nhớ rõ ở những nơi khác vào quãng sau này cuộc đời tôi. Chẳng hạn như tại Penn House ở Weymouth, khi tôi khoảng đã mười lăm tuổi một trạng thái ngây ngất đã đến với tôi, mỗi buổi sáng, khi tôi thấy mặt trời lấp lánh trên biển. Ánh lấp lánh của mặt trời trên mặt nước kể từ đó đã trở thành một trong các biểu tượng thường xuyên của tôi về sự say mê mà với nó cái tôi có thể quẳng mình vào cái không-tôi trong một cơn co giật của khoái cảm huyền bí. Nhưng lại chẳng hề có một khoảnh khắc nào như vậy có thể nhớ được ở Nhà xứ Shirley! Tôi sẽ kể cho bạn lần chạm đến rất gần một thứ như vậy mà tôi có thể nhớ được; nhưng tôi coi ký ức này hoàn toàn khác với những tia thoáng qua của mặt trời trên vịnh Weymouth bởi nó không đi kèm với bất kỳ nhận thức nào về mối liên hệ của nó với niềm hạnh phúc của cuộc sống, mà là một nhận thức có thể được tách rời, nếu muốn phân biệt, khỏi hiện tượng cụ thể đã khơi dậy nó tại khoảnh khắc ấy. Kinh nghiệm tôi đang nghĩ đến giờ đây có thể được gọi là một kinh nghiệm thuần túy về cảm năng, dù nó có liên quan đến Tự nhiên.

Chúng tôi luôn cầu nguyện buổi sáng lúc tám giờ, và ăn sáng sau đó; và vào các buổi sáng mùa đông, dù nếu không nhầm thì phòng ăn nhà tôi quay về hướng Đông, bố tôi phải đọc Kinh thánh dưới ánh nến. Một buổi sáng nọ, giữa giờ cầu nguyện và bữa sáng, tôi nhớ rất rõ mình đã rùng mình khi thấy bầu trời ngả sang sắc lục. Hẳn là tôi đã thấy nhiều lần một bầu trời đỏ trong quãng mùa đông ấy và những mùa đông trước đó – tôi cho là mình sáu tuổi khi chuyện này xảy ra – nhưng chưa bao giờ thấy sắc lục kỳ lạ này phủ khắp toàn bộ bầu trời phía Đông, và nó đã gây một ấn tượng vô cùng lớn lên tôi. Tôi cho rằng việc sắp được thưởng thức ổ bánh mình nâu và miếng bơ lớn mà bố tôi thích phân phát trong mỗi bữa ăn đã làm tăng thêm niềm vui của tôi trước bầu trời xanh lục kia, nhưng giờ nghĩ lại về việc ấy thì chính sự kỳ diệu của bầu trời màu lục đã để lại một ấn tượng giống như thế lên tôi. Chắc chắn rằng tôi vẫn còn giữ, kể từ ngày hôm đó, một niềm khao khát kỳ lạ với màu lục của bầu trời ấy, và một niềm vui tôi gọi là niềm vui thuần túy thuộc về cảm năng. Những hiệu ứng gây ra bởi bình minh hay hoàng hôn – chẳng hạn như hiệu ứng thường thấy nơi các vệt vàng kim lớn, hay các vệt đỏ máu trên nền vàng nhạt – thường khiến tôi tràn ngập nỗi hoài niệm tôn giáo mơ hồ dường cũng là một trong các cảm xúc phổ quát của con người; nhưng cảm giác mà bầu trời lục đem lại cho tôi hoàn toàn khác. Chẳng hề có chút huyền bí nào ở đó. Sự ngạc nhiên khi xuất hiện màu lục chưa từng thấy trên trời dường loại trừ mọi cảm xúc huyền bí; và với tôi dẫu sao đi nữa sắc lục đặc biệt kia làm thỏa mãn về mặt thể chất và theo cách thật mãnh liệt đến nỗi giống như bánh mì nhà quê và bơ tự làm, nó đầy đủ trong chính nó và không cần thêm bất cứ suy nghĩ phụ trợ nào khác.

Còn có một hiện tượng tự nhiên khác ở Shirley cũng để lại ấn tượng khó phai trong tâm trí tôi, nhưng, giống như bầu trời lục kia, đó là một ấn tượng thuộc về cảm năng hơn là một điều bí ẩn, ấy là một cây thạch nam Nhật tán lá phủ rộng và leo cả lên mặt tiền nhà. Kỳ lạ ở chỗ đây là cây hoa trong vườn duy nhất tôi có thể nhớ được ở thời ấy; và tôi không bao giờ nhìn thấy một mẫu của giống cây bụi lớn tuyệt đẹp này mà không nghĩ về thời thơ ấu của mình. Cả nó nữa, tôi nghĩ, giống như bầu trời dị thường kia, có gì đó khiến tâm trí kinh ngạc. Chẳng ai nghĩ – ít nhất là tôi – rằng một cây ăn quả lại có thể nở hoa đỏ rực như thế! Chỉ có một loài hoa dại duy nhất tôi có thể nhớ được ở Shirley – trừ bông anh thảo đem làm “trà anh thảo” hay làm một quả “bóng anh thảo” – đã gây ra cho tôi hiệu ứng, và đến giờ vẫn thế, khắc hẳn với bầu trời xanh lục hay những chùm hoa-quả đỏ thắm. Tôi đang nói đến hoa cúc cu. Giờ đây tôi nhận ra, khi nghĩ về loài hòa kỳ lạ và nhớ lại những ngọn cỏ cao phủ đầy sương lẫn giữa những cánh hoa màu tím nhạt khẽ lay động dập dờn ấy, rằng chúng là loài hoa dại nhiều thi vị nhất trong tất tật mọi loài hoa dại nước Anh. Vâng, ngay từ buổi bình minh sớm nhất của nhận thức về Tự nhiên tôi đã nghĩ về hoa cúc cu như một loài phù du và thất thường, xuất hiện e lệ trong chốc lát, khi mà cỏ, rêu, lá dương xỉ vẫn tràn đầy nhựa sống tươi mới, rồi tàn quá nhanh, nhưng trong khoảnh khắc còn tồn tại chúng luôn mọc ở nơi sương đêm dày nhất và nơi dòng suối chảy tràn lên các bãi bờ. Sinh ra từ những buổi bình minh lạnh nơi hoang vu ẩm ướt hoa cúc cu là loài hoa lạnh nhất, sang trọng nhất, mang đậm chất vùng cực, nhạt màu nhất, Gothic nhất, giống Ophelia nhất trong tất tật hoa trên đảo chúng ta. Chỉ một lần duy nhất tôi những tưởng mình nhìn thấy bóng dáng những “thiếu nữ lạnh” này ở Mỹ nơi tôi chọn để sống. Đó là khi tôi đang “trên đường” với Padraic Colum, và anh ta cũng nghĩ rằng cái chúng tôi thấy kia là những bông hoa cúc cu – nhưng tôi không biết! tôi nghi ngờ điều đó; và với nỗi nhớ nhà cay đắng của người soạn thánh thi ở Babylon tôi ước rằng chúng chẳng mọc ở bất kỳ đâu khác ngoài nước Anh xám đầy mưa của chúng tôi.

Tôi nghĩ hẳn là bởi giọng mà bố tôi luôn nói về những bông cúc cu, chứ không phải bất kỳ lời nào của ông để khen ngợi chúng, đã khiến những bông hoa nhạt màu kia trở thành hiện thân của thơ lãng mạn đối với tôi. Ông hẳn đã nói về nơi sinh trưởng Stour của ông và cách chúng mọc bên bờ sông với một giọng làm cho, giống như một con chó hiểu mọi thứ qua sự chuyển điệu của giọng, tôi hiểu hiểu rằng có một thứ ma thuật thoáng qua nào đó về những bông hoa đặc biệt này khiến tất tật các loài hoa khác – những bông lưu ly dại, chẳng hạn, mọc bên bờ Dove – dường trở nên kiêu ngạo và thậm chí thời thượng! Kiêu căng, kiêu căng, kiêu căng! Đúng vậy, bằng hàng ngàn cái chạm nhẹ, những cú xô ngang, những gợi ý tình cờ, và những lối vòng vo đứt quãng, mà bố tôi, theo cách của một con sói bị lưu đày hay con cáo chịu giam cầm, đã chỉ ra sự thấp kém tuyệt đối – một điều cần phải cảm thấy và biết thay vì tranh luận về nó – của lối sống, cảnh sắc, con người, phong tục, phương ngữ, hệ động vật và thực vật của Derbyshire, so với những gì ở Wessex bản xứ của ông.

Chính bởi lòng trung thành mãnh liệt, vô lý, khó nói rõ này với những gì thuộc về ông, với tất tật những thứ đã cũ, những cung cách cũ, con người cũ, tiếng hô xung trận cũ, nguyên cớ cũ, phong tục cũ, bố tôi có khả năng truyền đạt cho tôi mà không cần bất kỳ lời nói trực tiếp nào. Có lẽ một cường độ mãnh liệt của cảm xúc, trỗi dậy – ai biết được? – từ một tầng sâu nào đó của niềm tự hào Cymric trong thất bại đã đổ xuống ông, từ những “trận chiến xa xưa,” qua vô số thế hệ mà tổ tiên ông đã hòa lẫn vào kẻ xâm lược, thường bị khuấy động bởi một cớ cỏn co nào đó, một sự ngẫu nhiên nào đó mà bản thân nó nhỏ bé đến nực cười, nhưng trong mối liên kết với điều mà nhờ đó có thể đặt sự cũ, tĩnh lặng, mộc mạc, tự nhiên, trang nghiêm đối lập với sự phô trương, giả tạo, xa hoa, khoa học, hiện đại!

Trong mọi vấn đề liên quan đến kinh tế gia đình, đến đồ đạc trong nhà, đến việc quản lý khu vườn của ông, cũng giống như trong mọi việc có liên hệ đến tôn giáo và đạo đức, từ mạnh nhất để chê bai của bố tôi là “mới toẹt” [new-fangled], từ mạnh nhất để khen của ông là “kiểu cũ.” Tính ngoan cố của ông như tôi đã ám chỉ đã chiếu bản thân nó lên quá khứ của riêng nó với một sự bền bỉ tưởng tượng mà chẳng cần nỗ lực chút nào ông cũng gán được cho mọi thứ dẫu nhỏ đến đâu sự liên hệ với những cung cách cũ ở Dorsetshire, và với một sự ưu việt không thể chối cãi thành thử thách thức nó cũng có nghĩa bạn tự để lộ bản thân mình là kẻ thô tục và mới toẹt.

Tôi đồ là, hẳn bố tôi đã nghĩ từ rất sớm trong quãng đời ở Shirley của tôi rằng tôi có thói quen đêm nào cũng làm cho chiếc giường nhỏ của mình rung lên vì sự mãnh liệt sốt hầm hập của thói gợi dục từ trong trứng nước của tôi. Tôi nhớ rất rõ rằng mỗi sáng đều bị hỏi tối qua có “làm chuyện ấy” không; và bởi tôi vào thời điểm ấy – cũng như, xét theo vài phản hồi về những gì tôi viết, sau này tôi vẫn vậy – rất nghiêm túc và thành thật trong những chuyện nhỏ nhặt như thế, tôi luôn trả lời với sự thành thật đáng thương; và bởi lúc nào cũng trả lời rằng “có làm chuyện ấy” tôi luôn bị phạt, và rồi cơn sốt của thói hư hỏng trẻ con của tôi được làm dịu đi, bằng cách dội nước đá lên người. Tuy nhiên khuynh hướng suy đồi từ sớm của tôi mạnh đến nỗi, khi màn đêm buông xuống cái ý nghĩ gây phiền lòng về xô nước đá sẽ bị đổ lên người vào sáng hôm sau lại chẳng là gì so với sự thỏa mãn ngay lập tức đầy bí mật và đen tối bởi khoái thú bị cấm ngặt của tôi. Và những cuộc truy hoan mãnh liệt ấy – trong tâm trí kích động của tôi – không chỉ làm rung chuyển cái giường tội lỗi, mà còn tất tật các cột trụ của toàn cõi vũ trụ nhỏ bé của tôi, lại chẳng hề có bất kỳ khoái cảm nào khác ngoài chứng bạo dục thuần túy! Những tưởng tượng có tính bạo dục, và chỉ có thế, xuất phát từ những lần thức tỉnh đầu tiên của ý thức cho đến khi tôi lên mười bảy mới thực sự có thể kích thích tư tưởng gợi dục bất thường của tôi.

Tôi còn nhớ rõ khi chúng tôi một hôm nọ đánh xe đến Ashbourne – bố tôi hồi đó có một cỗ xe ngựa cao và ông thường đánh xe vào sân lát đá đá của quán “Saracen’s Head” với sự cẩn trọng vô cùng trang nghiêm và yêu cầu thứ gì đó mà tôi chẳng thể biết được để con ngựa của ông được thoải mái trước khi ông đi lo công chuyện trong thị trấn – khi chúng tôi đi ngang qua một ngôi nhà nhỏ trát vữa – a! những thói xấu của chúng ta có ký ức mới lâu làm sao! – nằm đơn độc bên tay trái sườn đồi lớn dẫn xuống Ashbourne, tôi thoáng thấy qua cửa sổ một phụ nữ lớn tuổi đang giữ chặt một phụ nữ trẻ – theo như tôi thấy – ở cổ họng. Đầu của người phụ nữ trẻ ngả ra sau ở một tư thế trông rất không tự nhiên, và máu dồn lên đầu tôi – nhưng bố tôi vẫn tiếp tục đánh xe, và cảnh tượng ấy biến mất khỏi thế giới. Nhưng dù đã rời khỏi thế giới này nó vẫn không bị xóa đi. Ngược lại nó tự chuyển vào quyển “Sách Chết” vô hình mà hằng đêm những trang lật giở của nó đã buộc tôi, dù không có sự thúc đẩy tự áp đặt của chúng cho việc sám hối, phải chữa cho khỏi những cám dỗ như thế bằng phương thuốc buốt lạnh từng được hoan nghênh bởi các vị thánh cổ xưa của Thebaid.

Vâng, bên dưới tất tật những hệ thống lớn của tư tưởng triết học, đằng sau tất tật những hệ thống lớn của sự cứu rỗi thần bí, vẫn nhúc nhích các phản ứng cá nhân tột cùng này trước nỗi thôi thúc khủng khiếp của tính dục. Điều khiến tôi kinh ngạc vào quãng sau này của cuộc đời, khi tôi nghe những lời công kích tổng lực nhắm vào khoái cảm tính dục bình thường đến từ những kẻ cuồng tín Thanh giáo và sự phòng thủ tổng lực cho những thú vui như vậy của những kẻ dị giáo hiền lành bẩm sinh giống như em trai Llewelyn của tôi, cả hai đạo quân đầy công phẫn này hầu như đều chẳng nhận ra, không hề, lúc nào cũng vậy! độ cuồng dại của thế lực mà họ đang chống lại. Đối với em trai Llewelyn của tôi từ “tính dục” dường luôn có nghĩa là cuộc vụng trộm dễ chịu đầy chất thơ với các thiếu nữ thân thiện nồng nhiệt bên hàng rào thoảng mùi cỏ khô. Đối với người Thanh giáo nó dường như có nghĩa là nỗi căm ghét những cánh tay trần, những cặp má ửng hồng, ánh mắt sáng long lanh và bàn chân nhún nhảy. Nhưng đối với bản tính gàn dở khác thường của tôi nó có nghĩa là một nỗi ám ảnh điên cuồng, hoàn toàn tách biệt khỏi chất thơ của các nguyên tố tự nhiên và chẳng có liên hệ gì với cái đẹp theo cảm năng của tay trần, mắt sáng, ngực nóng và tóc buông.

Định nghĩa chủ quan của tôi về sức mạnh của tính dục thì luôn là điều xấu, tức là một ham muốn trừu tượng không có cá tính và cằn cỗi, hoàn toàn tách rời cái gọi là “tình yêu” và chọn đối tượng cho khao khát của nó mà chẳng màng đến cả cái đẹp lẫn sự đồng cảm về mặt tinh thần. Chẳng có gì đối với tôi lại vô nghĩa hơn việc tôn vinh tính dục như thứ gì đó được hưởng sự bảo trợ thần thánh của đất và mặt trời, một sức mạnh sáng tạo tuyệt đẹp đầy sức sống và niềm vui. Đối với tôi – cho đến khi bởi một sự khéo léo vô hạn tôi đã điều khiển được nó, thanh lọc nó, làm nó thăng hoa, thu hẹp nó, cô đọng nó, phân tán nó – nó luôn là một thế giới của sự say mê mãnh liệt, một thế giới của thói độc chiếm cuồng loạn, của sự đòi hỏi mê sảng, của theo đuổi rồ dại, một thế giới tồn tại song song với thế giới bình thường của hoạt động con người bình thường, một thế giới mà, khi bạn từng bước vào, và gặm cỏ như ông vua Nebuchadnezzar điên trên bãi cỏ chết chóc của nó, thế giới bình thường kia dường trở nên hoàn toàn tẻ ngắt, “cũ mèm, phẳng và vô ích,” không sức sống và không mục đích.

Có những lần – tôi có thể nhớ được hai trường hợp như thế trong những chuyến đi Mỹ của mình, một lần khi tôi đi bộ dọc theo khu ổ chuột bẩn thỉu dài vô tận ở Cleveland, và một lần khác tôi ngồi ăn bánh mì bơ trong một quán cà phê nhỏ tồi tàn ở Scranton, Pennsylvania – khi tôi bước qua cửa hậu quỷ ma của mình để vào thế giới của thực tại bình thường và sự kiên cố bình thường để thấy ngôi nhà tự nhiên của giác quan con người này là một nơi ngọt ngào và quyến rũ đến say đắm. Những gì tôi cảm thấy ở hai lần ấy chẳng bao giờ tôi quên được. Đó là một cảm giác độc nhất, một sự tái sinh! Nó giống như sự thoát ly khỏi “Ý lực sống” mà Schopenhauer mô tả. Mỗi mái nhà đổ nát và mỗi vũng bùn bị bỏ mặc dọc trên con đường Cleveland ấy đều rạng rỡ với một vẻ mê hoặc mời gọi, mỗi tia sáng lập lòe trên cái quầy nhớp nhúa của tiệm trà nhỏ kia là một chiếc thang dẫn lên thiên đường. Tôi đã quay lưng lại với biển chết của mình cùng với những quả táo tro của nó và những ảo ảnh khủng khiếp trên bãi cát không có thực kia để trở lại với sự an toàn ngọt ngào bởi thứ hóa học quen thuộc của vật chất đã được giải trừ ma thuật!

Chính Llewelyn kể lại rằng cậu ấy đã kinh ngạc đến thế nào trước các biểu tượng của sự thèm khát thuần túy trên những bức tường gạch đỏ mang điềm xấu của những con phố đầy tro tàn ở Pompeii cổ xưa; và bạn chỉ cần bước vào một trong các nhà thờ Byzantine nhỏ ở Rome mà chúng ta biết ngày nay là đủ để nhận ra một làn sương sớm hoa cuckoo tươi mát hẳn đã rơi xuống trên bản năng tính dục đã rệu rã của thế giới cổ xưa khi – cũng giống như tôi đã từng trên con phố dài ở Cleveland – nó quay lưng lại với sự nô lệ – không phải của xác thịt, vì chẳng phải ngôi Lời đã trở thành xác thịt sao? – mà của dây thần kinh ái tình tàn nhẫn, không khoan nhượng.

Từ “khoái cảm” bao hàm rất nhiều nghĩa. Tôi giờ đây sử dụng nó để chỉ một sự tri nhận bằng giác quan tập trung mãnh liệt được thâm nhập bởi thứ gì đó mãnh liệt hơn, ngây ngất hơn, so với những gì thường được gán với từ ấy. Nhưng chính bằng con đường của một khoái cảm có chủ đích và tập trung mà tôi rốt cuộc tìm thấy một sự thay thế hiệu quả trong thế giới tự nhiên của chúng ta cho cái thế giới khủng khiếp kia nơi đầy những ảo ảnh độc ác thuần túy – và với tôi luôn có tính bạo dục – của nỗi ám ảnh tiền định. Sai lầm của những người thanh giáo kỳ dị nằm ở chỗ họ lạm dụng những từ vô hại như “thể xác,” “xác thịt,” “nhục cảm,” và tất tật những gì chúng đại diện. Không phải là các giác quan dẫn chúng ta đi lạc, mà là một dây thần kinh khủng khiếp. Không phải bản năng tình ái phổ quát là nguyên nhân, mà là một dây thần kinh-tính dục đơn độc, bị cô lập khỏi phần còn lại của cuộc sống, và phát ra một cơn sốt quỷ quái không thể thỏa mãn được của riêng nó, một vùng của cơn sốt, mà nơi lân cận và biên giới của nó là tất tật “Terres Gastées” [những vùng cằn cỗi] đáng ghê sợ nhất. Dây thần kinh-tính dục bị cô lập này trong mỗi chúng ta tương tự như quan niệm dị giáo của riêng tôi và tôi dám nói rằng đó là quan niệm phi triết học và phi logic của tôi về nguyên nhân đầu tiên. Năng lượng của nó có thể được sử dụng để tạo ra và duy trì một thế giới, hoặc có thể sử dụng để tàn phá và hủy diệt một thế giới.

Tính cách con người còn có các khả năng khác của sự độc ác. Tính tàn bạo, hung tợn, bóc lột, đàn áp, vô tư không cảm giác và tức giận và hiểm độc theo tôi không nhất thiết thuộc về chứng khổ dục. Đôi khi tôi dường nghi ngờ rằng có thể tìm thấy trong tất tật những cái ác kia có nhuốm một sắc rất nhạt của chứng khổ dục; nhưng tôi chắc chắn đã gặp rất nhiều những người hiểm độc, hung tợn và tàn bạo nhưng rất khó để buộc họ vào với khổ dục. Trên thực tế đối với tôi phần lớn sự tàn ác trên thế gian bắt nguồn từ sự không suy nghĩ và thiếu trí tưởng tượng; trong khi đó chứng khổ dục, về bản tính của nó, lại nhận thức được, và nhận thức theo cách giàu tưởng tượng, về việc nó đang làm.

Nhìn lại quãng đời của tôi ở Shirley lúc đó – bảy năm đầu của sự tồn tại với tư cách một homo sapiens của tôi – tôi bị gây ấn tượng, khi nhớ lại quá khứ xa xôi ấy, bởi sự vắng mặt hoàn toàn bởi bất kỳ ký ức nào ám chỉ đến khoái cảm hay ham muốn tri nhận bằng giác quan. Những cánh cổng kỳ diệu dẫn vào bí ẩn của sự sống, những vòng ôm thiên đường của các yếu tố tự nhiên đã có vai trò lớn trong việc khuôn định những năm tháng sau này của tôi, dường như hoàn toàn không tồn tại trong những năm thơ ấu ấy. Tôi không thể nhớ – tôi kẻ sau này bị ám bởi sự háu ăn – dù chỉ một khoảnh khắc xúc động gây ra bởi bất kỳ loại thức ăn nào. Tôi không thể nhớ – tôi kẻ đã biến nhận thức ấy thành một tín ngưỡng – dù chỉ một khoảnh khắc tận hưởng cuộc sống cách say sưa vì ích lợi của chính bản thân nó!

Theo như những ký ức của tôi về bảy năm ở Shirley ấy toàn bộ phản ứng tâm thần-thể xác của tôi đối với thiên nhiên dường là một thành tựu trí tuệ có chủ đích, một điều mà ôi đã tự mình hướng tới, biết đó chính là Đạo, hay Lối Trí tuệ Sâu sắc nhất. Tuy nhiên tôi cảm thấy như thể không phải là nhóc Johnny Powys của bảy năm ấy không hoàn toàn được nhận ra bởi tôi bây giờ và nhớ đến bởi tôi bây giờ. Cậu ta rõ ràng vẫn ở đó, cấu bé ấy! Tôi có thể thấy cậu; tôi có thể cảm thấy cậu; tôi là cậu ta. Và tuy vậy cậu ta lại khác đến kinh ngạc, ở rất nhiều khía cạnh, với tôi bây giờ! Nhưng tôi biết cậu ta – ô, tôi biết cậu ta rất rõ trong những điều mà nhóc “Johnny” ấy, và cả Jack sau này nữa, lẫn vào với “John” mãi sau này!

Thứ lỗi cho tôi, hỡi độc giả, nếu lại một lần nữa tôi liệt kê các kinh nghiệm cụ thể của thời tôi đang chia sẻ, khi tôi viết những dòng này, trong khi nằm trên một băng ghế đặt cạnh cửa sổ ở vùng thượng New York. Khi viết điều này chắc chắn tôi vẫn là Johny-Jack-John ấy kẻ có thể run rẩy và rúng động khi thoáng thấy một cô gái ngật đầu ra sau, nếu cảnh ấy được nghiền ngẫm trong mối liên hệ với các ý nghĩ bạo dục. Tôi chắc chắn vẫn là cùng một Johnny-Jack-John ấy kẻ nhìn chằm chằm bầu hoàng hôn xanh lục hay những bông hoa cúc cu giữa bãi cỏ cao ướt đẫm. Tôi, ô chắc chắn vô cùng! cũng chính là kẻ đã vật lộn ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, năm này qua năm khác, để quên đi, để xóa bỏ bằng cách quên đi, sự hiện diện của nỗi sợ không thể tiết lộ nào đó. Tôi cũng chính là nó, đứa bé đã hét lớn với toàn Vũ trụ ở Shirley Lane rằng nó là “Vua các đạo quân.”

Nhưng sự giống nhau đếu đó là hết! Đối với nhóc Johnny muốn trộn nước tiểu với em trai, tôi, John, cảm thấy như thể chẳng có điểm gì chung. Từ một “Johnny” bắt nòng nọc trong ao thả vào vũng nước tôi đã trở thành “John”, không kém lăng xăng quấy rầy nhưng lại kém hung bạo hơn hẳn, bắt cá từ hồ cạn thả vào hồ sâu. Dù tôi không còn cố treo cổ em trai Littleton nữa, hoặc “siết cổ nó bằng những ngón tay dài và thon,” hay thậm chí – như tôi đã từng làm trong thời kỳ “Thiếu tá Powys” của chúng tôi – muốn lăn cậu ấy xuống mương, hay đẩy lăn xuống dốc tới chỗ hàng rào sắt, tôi đôi khi vẫn cảm thấy nỗi thôi thúc, như trong một chiều nọ, khi chúng tôi ở bên nhau chỉ mới cách đây bốn năm, trên đường đến xưởng Harrod ở Northwold, muốn cắm cái cằm u bướu, già nua của mình vào cậu ấy, và đột ngột thốt ra lời biện hộ hoàn toàn không cần thiết cho hành vi vô luân ấy!

Tuy nhiên tôi nhận ra có một điều bi thảm về tất tật những ký ức tuổi thơ này. Nếu như John có lợi thế hơn hẳn Johnny trong việc đối xử với lũ nòng nọc, Johnny lại có lợi thế hơn hẳn John – và cũng hơn cả Jack cũng như “Thiếu tá Powys”! – trong chuyện về cái rìu nguyệt quế. Tôi vẫn biết bái vật nghĩa là gì. Đến tận giờ, chẳng hạn, tôi vẫn sùng bái cả ba cây gậy chống của mình, và dẫu tôi chưa từng thực sự đặt chúng bên cửa sổ, trong các chuyến đi của mình, để chúng có thể chia sẻ góc nhìn của tôi về thế giới, tôi vẫn thường đối xử như thể chúng là các sinh vật sống một nửa. Tôi cũng biết cảm giác được đưa lên tầng thứ Bảy Thiên đường ngây ngất khi trông thấy một vật vô tri giác đặc biệt nào đó hay một nhóm dị thường các vật vô tri giác. Tôi vẫn còn nhớ một cuốn Euclid đóng bìa tím rách nát đã mang đến cho tôi một trong những cảm xúc mãnh liệt nhất đời mình. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh thoáng qua của cái tẩu – bởi tôi hút tẩu hồi trẻ - nằm trên cuốn Tuyển tập thơ Wordsworth. Tôi vẫn còn nhớ một cành thông nọ, khi nhìn thấy nó từ cửa sổ phòng thay đồ, cũng là phòng ngủ trên đồi của tôi, trông như thể luôn lơ lửng trên một luồng khí linh hồn của nó, bao quanh như một làn hơi xanh trong những tối mùa thu yên tĩnh, khi tôi rửa tay bằng xà phòng Pear trước khi xuống uống trà.

Những điều ấy cùng với những cái khác tương tự như vậy trong đời tôi vẫn có thể nhớ được. Nhưng tôi chẳng thể nhớ bất cứ thứ gì từng chạm đến được cảm xúc mà tôi đã kinh nghiệm về cây rìu nguyệt quế mà bố làm cho tôi trong bụi cây ở Shirley. Và nó vẫn lơ lửng trong không trung khi tôi nghĩ về nó – không giống như thứ vũ khí vấy máu của Macbeth – mà như thanh gươm Excalibur có phép thuật, được mang đến tùy tiện từ một thế giới huyền ảo nào đó rồi lại bị đem đi cũng tùy tiện như thế, khuất khỏi tầm mắt tôi mãi mãi. Không chỉ có mỗi niềm vui tột cùng là điều tôi nhớ được về cây rìu nguyệt quế này. Tôi còn nhớ cả bản chất của nỗi vui sướng ấy. Thực ra – dù nghe có vẻ điên – tôi vẫn cảm thấy cùng một nỗi vui sướng khi giờ đây, tôi nghĩ về cái rìu giống như tôi đã nghĩ về nó lúc bố tôi chặt cành và gọt nó bằng con dao của ông! Có lẽ nó liên quan đến những tranh minh họa lãng mạn về Aytoun. Nhưng cũng có thể – giống như Wordsworth đã ám chỉ những cảm xúc tương tự trong “những biểu hiện của sự bất tử” – nó biểu hiện điều gì đó sâu sắc và khủng khiếp hơn nhiều. Điều khiến chuyện ấy dường là bi kịch đối với tôi – cũng như chuyện đã thực sự xảy ra với Wordsworth, dù ông đã cố hết sức với cung cách thật kiên cường và quyết liệt của ông – ấy là sự thật rằng những cơn ngây ngất kia xuất hiện ngày càng hiếm hơn khi chúng ta già đi. Nhưng sau rốt lợi thế kỳ diệu của tuổi thơ này so với tuổi trưởng thành – của mọi Johnny so với mọi John – được đền bù còn hơn cả thỏa đáng.

Tôi, chẳng hạn, thà chịu bất kỳ bảy năm liên tục nào khác trong cuộc đời mình, thậm chí – dù khắc nghiệt đến đâu – bảy năm từ mười đến mười bảy tuổi của quãng đi học – còn hơn là quay lại thời thơ ấu kia một lần nữa. Tôi sẽ không bao giờ nói rằng tôi có một tuổi thơ hạnh phúc. Và, trong chuyện này, chẳng có gì dẫu dưới đất hay trên trời – ngay cả khi bố tôi là Chúa, hoặc ngay cả khi có thể đi bộ từ đỉnh Núi Mây xuống công viên Osmaston với Đôi hia bảy dặm – có thể làm tôi an lòng.

“Tâm trí, tâm trí, Thầy Shallow!”

Trong mọi hoàn cảnh có thể tưởng tượng được tôi hẳn phải, trước con người tôi trở thành, trải qua Nỗi Sợ. Đó có lẽ không phải Nỗi Sợ gây ra bởi cành cây bị quẳng xuống một cái ao; nhưng đó hẳn phải là nỗi sợ về một thứ gì đó; và một pháp sư chưa đầy bảy tuổi chỉ có thể triệu hồi được rất ít những linh hồn bảo hộ từ “vực sâu vô tận.”

Tất cả là một bí ẩn lớn, sự chuyển biến từ một Johnny bơ vơ dễ bị kích động thành một John xảo quyệt dễ bị kích động; nhưng thỉnh thoảng tôi cảm thấy khi nhìn lại cuộc đời đầy biến động của mình rằng tâm hồn con người giống như một nguồn suối bị tắc nghẽn bởi đủ loại mẩu vụn và liên tục bị xâm lấn bởi nước biển mặn vùng cửa sông. Chỉ khi nào nguồn suối tự đắp lấy nó bằng những tảng đá lớn chống lại sự xâm lấn của thứ biển chết kia, chỉ khi nào tự gạt ra được đám cành lá sỏi rễ bùn và phân súc vật ra khỏi dòng chảy, nó mới có thể khơi nguồn nước từ những giếng sâu đá hoa cương dòng chảy định mệnh của nó. Nhìn lại tuổi thơ ở Shirley là nhìn lại một vũng bùn lầy của hỗn loạn. Giữa đống hỗn loạn ấy một tâm hồn con người đầy dao động đang dần hình thành, tự gom góp cho mình những dấu hiệu, biểu tượng, bằng chứng kỳ lạ và đầy mâu thuẫn về điều mà thôi thúc mù quáng của bản thân nó đang dẫn nó tiến lên. Ngay từ đầu sự điên và nỗi sợ đã vây hãm chúng ta, tội lỗi mê hoặc chúng ta, nỗi nhục làm chúng ta tê cóng, sự kiêu ngạo làm say đắm chúng ta. Có thể rất khó để làm một người; nhưng làm một đứa trẻ còn khó hơn nhiều; và nếu Chúa đã phán: “Nước trời thuộc về những ai giống như chúng,” ngài chắc hẳn nói về tuổi thơ mà một đứa trẻ nào đó đã hoàn toàn quên mất!

Công Hiện dịch

 

Thực tại của trẻ con

Thực tại của trẻ con: nỗi đau

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công