T. S. Eliot: Truyền-thống và Tài-năng Cá-nhân
Trong văn-chương Anh chúng ta hiếm khi đề-cập truyền-thống, mặc dù đôi khi chúng ta mượn tên gọi đấy khi ta-thán sự khuyết-tịch của nó. Chúng ta không thể nói về “cái truyền-thống” hay “một truyền-thống nào đó;” cùng lắm, chúng ta lục-dụng nó như một tĩnh-tự khi nói thơ của mỗ-mỗ có “tính truyền-thống” hay thậm-chí “quá truyền-thống.” Chữ này hiếm khi xuất-hiện trừ-phi, có lẽ, trong các câu chỉ-trích. Bằng không, nó hơi hướm tính tán-hứa mơ-hồ, với hàm-ý về một thứ tái-tạo vừa ý mang tính khảo-cổ-học thuộc về cái công-trình được tán-hứa kia. Giả-sử không có sự tham-chiếu dễ chịu từ khoa-học trấn-an của khảo-cổ-học, anh cơ-hồ không tài nào làm cho chữ này thuận tai người Anh.
Chắc chắn chữ này chẳng mấy khi xuất-hiện trong sự thưởng-thức của chúng ta về các nhà văn, tại-thế hay quá-cố cũng vậy. Từng quốc-gia, từng chủng-tộc, tất cả không những đều có chiều tinh-thần sáng-tạo riêng, song còn có chiều phê-bình nữa; mà đối với những bất-cập và hạn-chế của tập-quán phê-bình của mình, thì chúng còn mông-lung hơn cả đối với những bất-cập và hạn-chế về thiên-tài sáng-tạo. Từ cái mớ khổng lồ của văn-chương phê-bình đã xuất-hiện trong tiếng Pháp, chúng ta biết, hoặc cho rằng chúng ta biết, về phương-pháp hay tập-quán phê-bình của người Pháp; chúng ta (là những người quá ư vô-ý-thức) chỉ kết-luận rằng người Pháp có “đầu óc phê-bình hơn” chúng ta, và thỉnh thoảng chúng ta lại còn tự-hào khoe khoang về điều đó, như thể người Pháp kém tự-nhiên. Có thể họ kém thật; song chúng ta nên tự nhắc rằng phê-bình là một điều tất-yếu như hơi thở, và rằng chúng ta sẽ chẳng thiệt thòi gì khi diễn-đạt thành lời những điều trong tâm-trí khi chúng ta đọc một cuốn sách và rung động vì nó, khi chúng ta phê-phán tâm-trí của chính mình trong công việc phê-bình của nó. Trong quá-trình này, chúng ta có thể vỡ ra một lẽ, đó là khi chúng ta khen một nhà thơ nào đó, chúng ta có khuynh-hướng kiên-chấp nhấn mạnh những khía cạnh ít giống người khác trong tác-phẩm của ông ta. Nơi những khía cạnh hay những bộ-phận tác-phẩm đấy, chúng ta tự-ý cho rằng chúng ta phát-hiện được cá-nhân, cái bản-chất đặc-thù của con người. Chúng ta hài lòng tập-trung về sự khác của nhà thơ đối với tiền-bối của ông, đặc-biệt là tiền-bối trực-tiếp; chúng ta nỗ-lực tìm ra sự cá-biệt để thưởng-ngoạn. Trong khi đó, giả-sử chúng ta bỏ định-kiến này khi tiếp-cận nhà thơ, lắm lúc chúng ta phát-hiện không những phần hay nhất, song còn là phần cá-nhân nhất, của tác-phẩm ông ta có lẽ là nơi các thi-nhân quá-cố, tiên-tổ của ông ta, tuyên-xưng tính bất-hủ của họ với cực-độ của sự mãnh-liệt. Và tôi không nói về thời-kỳ dễ ấn-tượng của tuổi trẻ, song là về thời-kỳ của sự trưởng-thành sung-mãn.
Tuy-nhiên nếu hình-thức duy-nhất của truyền-thống, của sự truyền-thụ, chỉ bao gồm việc tuân-thủ đường lối của thế-hệ tiền-bối trực-tiếp chúng ta để bám víu sự thành-công của họ một cách mù quáng và nhút nhát, thì “truyền-thống” là một thứ phải nghiễm-nhiên bài-trừ. Chúng ta đã thấy nhiều phong-trào nhẹ dạ như thế chẳng từng bao lâu lại biến mất; mà sự mới mẻ vẫn hơn sự lặp lại. Truyền-thống là một vấn-đề có ý-nghĩa quảng-đại hơn thế. Nó không phải là một thứ có thể kế-thừa, giả-sử anh muốn nó làm sở-đắc, anh phải nỗ-lực để có được nó. Trước hết, nó liên-quan đến lịch-sử-cảm, điều chúng ta có thể nói là tất-yếu đối với những ai vẫn muốn làm nhà thơ qua tuổi hai mươi lăm; lịch-sử-cảm quan-thiệp đến sự nhận-thức, không những của tính quá-vãng của quá-khứ, song còn về sự hiện-diện của nó; lịch-sử-cảm buộc người ta viết không những với phong-cốt của thế-hệ mình, song còn với cảm-nhận rằng chỉnh-thể văn-học Âu-châu bắt đầu từ Homer và trong đó chỉnh-thể văn-học của nước mình tồn-tại một cách đồng-thời và cấu-thành một trật-tự đồng-thời. Lịch-sử-cảm này, tức là sự cảm-nhận về tính vượt thời-gian và tính thời-gian cùng tính vượt thời-gian và tính thời-gian đồng-tại với nhau, là điều khiến cho nhà văn trở nên truyền-thống. Và đồng-thời nó là điều khiến cho nhà văn nhận-thức mẫn-nhuệ về vị-trí của ông ta trong thời-gian, về tính hiện-đại của ông ta.
Không một thi-nhân nào, không một nghệ-sĩ nào của bất kỳ môn nghệ-thuật nào, có ý-nghĩa hoàn-toàn khi đứng một mình. Ý-nghĩa của ông ta, sự thưởng-thức về ông ta, là sự thưởng-thức về quan-hệ của ông ta đối với các thi-nhân và nghệ-sĩ quá-cố. Anh không thể đánh giá một mình ông ta; để đối-chiếu và tỷ-giảo, anh phải đặt ông ta cạnh người thiên-cổ. Tôi chủ-trương điều này như một quy-tắc của phê-bình mỹ-học, chứ không đơn-thuần là phê-bình lịch-sử. Nhu-cầu buộc ông ta phải thích-ứng, phải niêm-kết, không phải là một chiều; điều xảy ra khi một tác-phẩm nghệ-thuật mới được sáng-tạo ra là một điều xảy ra đồng-thời đối với toàn-bộ những tác-phẩm nghệ-thuật đi trước. Các kiệt-tác có sẵn vốn dĩ đã cấu-thành một trật-tự lý-tưởng với nhau, mà trật-tự đó bị canh-biến bởi sự giới-thiệu của tác-phẩm nghệ-thuật mới (cái thật-sự mới) giữa chúng. Trật-tự có sẵn kia vốn dĩ đã viên-mãn trước sự lâm-quang của tác-phẩm mới; để cho trật-tự có thể tiếp-tục bền đỗ sau sự can-thiệp đột-phá của cái tân-kỳ, chỉnh-thể của cái trật-tự đang tồn-tại phải được sửa đổi, mặc dù có thể là một cách vi-tế mà thôi; cứ thế, những quan-hệ, những tỷ-lệ, những giá-trị của từng tác-phẩm nghệ-thuật đối với cái chính-thể phải được sửa đổi; và đây là sự thích-ứng ở giữa cái cũ và cái mới. Đại-phàm người nào đã đồng-ý với khái-niệm trật-tự này, với hình-thức văn-học Âu-châu, văn-học Anh này, sẽ không thấy vu-khoát khi cho rằng quá-khứ nên chịu sửa đổi từ hiện-tại không kém gì hiện-tại bị định-hướng bởi quá-khứ. Và nhà thơ nhận-thức được điều này, sẽ nhận-thức được những khó khăn và trách-nhiệm lớn lao.
Một cách đặc-thù, ông ta cũng sẽ nhận-thức rằng ông ta trước sau gì phải chịu phán-đoán bởi các tiêu-chuẩn của quá-khứ. Tôi nói phán-đoán, chứ không phải mổ xẻ, bởi chúng; không phải là phán-đoán rằng có hay bằng, hay kém hơn, hay hay hơn, người quá-cố; và chắc chắn không phải phán-đoán căn-cứ lề luật của các nhà phê-bình quá-cố. Đó là một sự phán-đoán, một sự so sánh, qua đó hai thứ được hỗ-tương tỷ-giảo. Nếu một tác-phẩm mới đơn-giản chỉ thích-ứng thì thật ra đó chưa phải là sự thích-ứng đúng nghĩa; nó sẽ không mới, và vì thế nó không phải là một tác-phẩm nghệ-thuật. Và chúng ta không hẳn bảo rằng cái mới có giá-trị hơn vì nó thích-hợp; song sự thích-hợp của nó là một phép thử về giá-trị của nó—một phép thử, quả thật, chỉ có thể áp-dụng một cách chậm rãi và thận-trọng, vì không ai trong chúng ta là những thẩm-phán bất-khả-ngộ về sự thích-ứng. Chúng ta nói: nó có vẻ thích-ứng, và có thể là cá-nhân, hoặc nó có vẻ là cá-nhân, và có thể thích-ứng; song chẳng mấy khi chúng ta phát-hiện nó quả-nhiên là cái này, mà không phải cái kia.
Để tiến sang một diễn-giải rõ ràng hơn về tương-quan giữa nhà thơ và quá-khứ: ông ta không thể lấy quá-khứ như một khối thống-nhất, một mớ hỗn-độn, mà ông ta cũng không thể tự đào-tạo nên mình chỉ bằng một hai nhà kính-mộ riêng tư, hơn nữa ông ta cũng không thể đào-tạo nên mình chỉ bằng một giai-đoạn yêu thích của mình. Con đường thứ nhất là điều bất-khả, con đường thứ nhì là một kinh-nghiệm quan-trọng của tuổi trẻ, con đường thứ ba là một sự bổ-sung sảng-khoái và cực-kỳ khả-thủ. Nhà thơ phải có nhận-thức tột bực về dòng chính, một dòng chảy vị-tất đã băng qua những tên tuổi danh tiếng nhất. Ông ta phải hết sức liễu-ngộ một sự-thật hiển-nhiên rằng nghệ-thuật không bao giờ cải-tiến, song chất-liệu của nghệ-thuật lại không bao giờ đồng-dạng hẳn. Ông ta phải nhận-thức rằng tinh-thần Âu-châu—tinh-thần của đất nước ông ta—một thứ tinh-thần ông ta dần dần vỡ ra là quan-trọng gấp bội tinh-thần riêng tư của ông ta—là một tinh-thần kinh-qua biến-hóa, mà biến-hóa đấy là một sự khai-triển không vứt bỏ bất cứ điều gì trên đường đi, không khiến cho Shakespeare, hay Homer, hay những bích-họa của các thợ vẽ trong thạch-động Magdalenian trở nên lỗi thời. Rằng sự khai-triển này, có lẽ là quá-trình tinh-luyện, chắc chắn là quá-trình phức-tạp-hóa, từ quan-điểm của nghệ-sĩ không phải là sự cải-tiến. Thậm-chí, đối với nhà tâm-lý-học nó vị-tất đã là một sự cải-tiến, hoặc không phải là sự cải-tiến tới mức chúng ta nghĩ; tất-cánh, có thể nó chẳng qua là bắt nguồn từ sự phức-tạp-hóa của kinh-tế và kỹ-thuật. Song khu-biệt ở giữa hiện-tại và quá-khứ nằm ở chỗ cái hiện-tại ý-thức là một sự nhận-thức về quá-khứ bằng cách-thức và mức độ sự tự nhận-thức của quá-khứ về chính nó không tài nào thể-hiện được.
Hoặc rằng: “Các tác-giả quá-cố xa cách chúng ta vì chúng ta hiểu nhiều hơn họ rất nhiều.” Đúng vậy, và họ chính là những gì chúng ta hiểu.
Tôi vẫn am-tường một dị-nghị thường gặp đối với một phần rõ ràng nằm trong chương-trình của tôi về thiên-chức của thơ. Cứ dị-nghị đó, nguyên-tắc này đòi hỏi một lượng bác-học (mọt sách) khả-tiếu, mà khẳng-định kia có thể phủ-nhận bằng cách nhìn vào hành-trạng của các nhà thơ trong bất kỳ một đền tiên-hiền nào. Thậm-chí người ta còn xác-nhận rằng học nhiều chỉ khiến cho cảm-thụ thơ ra chai cứng hoặc biến-thái. Tuy-nhiên, trong khi chúng ta vẫn khăng khăng tin rằng nhà thơ nên biết nhiều nhất có thể, miễn là kiến-thức đấy không xâm-phạm đến khả-năng tiếp-nhận cần thiết và sự lười biếng cần thiết của ông ta, thì việc giới-hạn kiến-văn trong những thứ có thể nặn thành những hình-thức hiệu-ích cho thi-cử, hay phòng tiếp-khách, hay những phương-thức dư-luận phù-hoa hơn nữa ắt là điều chẳng nên. Có kẻ hấp-thu tri-thức, còn những kẻ chậm chạp hơn ắt phải đổ mồ hôi mới xong. Shakespeare đã thủ-đắc tinh-túy sử-học từ Plutarch nhiều hơn cả đa-phần người đời có thể gặt lấy từ Bảo-tàng-viện Anh-quốc. Điều cần phải kiên-định là nhà thơ buộc phải khai-triển hoặc hoạch-đắc ý-thức về quá-khứ và ông ta nên liên-tục khai-triển ý-thức đấy xuyên suốt sự-nghiệp của ông ta.
Điều xảy ra là một sự tự hiến mình liên-tục, vì trong từng khoảnh-khắc ông ta luôn đứng trước một thứ quý-giá hơn nữa. Sự tiến-bộ của nghệ-sĩ là một cuộc tự hy-sinh liên-tục, một sự tuyệt-diệt liên-tục của cá-tính.
Hãy còn phải định-nghĩa quá-trình giải-cá-tính này và quan-hệ của nó đối với cảm-nhận về truyền-thống. Trong sự giải-cá-tính này có thể nói là nghệ-thuật đã đến gần tình-trạng của khoa-học. Cho nên, tôi mời anh hãy suy gẫm, như một tỷ-dụ gợi ý, phản-ứng xảy ra khi một sợi bạch-kim tinh-tế được đưa vào một buồng chứa dưỡng-khí và lưu-hoàng đioxit.
II
Phê-bình chân-thật và thưởng-thức mẫn-cảm không nhắm vào nhà thơ, song nhắm vào thơ. Nếu chúng ta tập-trung vào tiếng gào ô-hợp của các nhà phê-bình báo-chí và tiếng xầm xì của đại-chúng lặp lại theo sau, chúng ta sẽ nghe kể về tên tuổi của vô-số các nhà thơ; nếu chúng ta không truy-cầu kiến-thức hời hợt, song muốn thưởng-ngoạn thơ, và rồi yêu-cầu một bài thơ, chúng ta hiếm khi tìm thấy được nó. Tôi đã cố gắng chỉ ra sự quan-trọng của quan-hệ giữa một bài thơ và những bài thơ khác của những tác-giả khác, và đã gợi ý về khái-niệm thơ như một chỉnh-thể sống của toàn-bộ thi-ca từng được viết ra. Một khía cạnh khác của lý-thuyết thơ Phi-cá-tính này là quan-hệ giữa thơ và tác-giả của nó. Và tôi đã ám-chỉ, qua tỷ-dụ, rằng tinh-thần của một nhà thơ trưởng-thành khác tinh-thần của nhà thơ ấu-trĩ không hẳn là ở giá-trị “cá-tính”, không nhất-thiết là ở chỗ “thú-vị” hơn, hay ở chỗ có “nhiều điều để nói” hơn, song là ở chỗ đã trở nên một môi-giới được hoàn-thiện tỷ mỷ hơn, nơi những tình-cảm đặc-thù, hoặc cực-kỳ đa-dạng, có thể tự-do cấu-thành những tổ-hợp mới.
Đó là tỷ-dụ của chất xúc-tác. Khi hai khí nói trên được trộn lẫn với nhau với sự hiện-diện của một sợi bạch-kim, chúng tạo nên acid sulphuric. Sự kết-hợp này chỉ xảy ra nếu có mặt bạch-kim; tuy-nhiên, loại acid mới hình-thành không chứa dấu vết của bạch-kim, mà kể cả bạch-kim kia dường như không bị ảnh-hưởng; nó vẫn bất-động, vẫn trung-tính, vẫn bất-biến. Tinh-thần của nhà thơ là mảnh bạch-kim đấy. Nó có thể vận-hành một phần hoặc toàn-bộ dựa trên kinh-nghiệm của con người ông ta; song nghệ-sĩ càng hoàn-thiện, thì ở trong ông ta con người thụ-khổ và tinh-thần sáng-tạo càng được phân-tách triệt-để; tinh-thần sẽ càng tiêu-hóa và biến-hóa hoàn-hảo những tình-tự vốn dĩ là chất-liệu của nó.
Anh sẽ nhận thấy rằng kinh-nghiệm này, những nguyên-tố này khi đến với sự hiện-diện của chất xúc-tác hay biến-hóa kia, bao gồm hai loại: tình-cảm và cảm-giác. Hiệu-ứng của một tác-phẩm nghệ-thuật đối với người thưởng-ngoạn nó là một kinh-nghiệm khác về loại-hình tất cả những kinh-nghiệm phi-nghệ-thuật. Nó có thể được làm nên bởi một tình-cảm, hay sự kết-hợp của vài tình-cảm; và những cảm-giác đa-dạng nội-tại những chữ, những câu, những hình-ảnh cụ-thể của tác-giả có thể được cộng vào để làm nên kết-quả sau cùng. Hoặc-giả thơ lớn lại có thể được làm nên mà không cần sử-dụng trực-tiếp bất cứ một tình-cảm nào: có thể được sáng-tác từ riêng cảm-giác mà thôi. Canto XV trong Inferno (Brunetto Latini) là sự khơi lên của tình-cảm đã hiển-hiện trong hoàn-cảnh; nhưng hiệu-ứng, dù là duy-nhất như của bất cứ tác-phẩm nghệ-thuật nào, được đạt đến bằng sự phức-tạp đáng kể về chi-tiết. Bốn câu cuối đưa ra một hình-ảnh, một cảm-giác đang được gắn liền với hình-ảnh, một sự “đến”, không đơn-giản chỉ khai-triển từ những thứ trước đó, nhưng có lẽ nó đã ở trạng-thái huyền-không trong tinh-thần của nhà thơ cho tới khi cái tổ-hợp thích-đáng đã đến để nó có thể tự bổ-sung vào. Tinh-thần của nhà thơ đúng ra là một dung-khí để chiếm lấy và chứa đựng vô-số những cảm-giác, những câu từ, những hình-ảnh ở lại nơi đấy cho tới khi tất cả những thành-phần có thể thống-nhất lại để làm nên một phức-hợp mới đã có mặt đầy đủ với nhau.
Nếu anh so sánh vài đoạn tiêu-biểu của những áng thơ vĩ-đại nhất, anh sẽ thấy sự đa-dạng của các lối tổ-hợp là nhiều dường nào, và đồng-thời sẽ thấy tất cả những tiêu-chuẩn bán-đạo-đức về tính “sùng-lệ” đã hoàn-toàn trật đích ra sao. Vì không phải là sự “lớn”, hay cường-độ của tình-cảm, của những thành-phần, song là cường-độ của quá-trình nghệ-thuật, có thể nói là cái áp-lực dẫn đến sự dung-hóa, điều đó mới quan-trọng. Đoạn về Paolo và Francesca sử-dụng một tình-cảm nhất-định, nhưng cường-độ của lời thơ lại khác hẳn bất cứ cường-độ của kinh-nghiệm giả-định nó đang gợi ý. Hơn nữa, nó không hề mãnh-liệt hơn Canto XXVI, cuộc viễn-du của Ulysses, vốn dĩ không phụ-thuộc trực-tiếp vào tình-cảm. Có thể có sự đa-dạng lớn trong quá-trình biến-hóa tình-cảm: vụ thảm-sát của Agamemnon, hay nỗi thống-thiết của Othello, tạo ra những hiệu-ứng nghệ-thuật dường như gần với một nguyên-bản có thể có hơn là các cảnh của Dante. Trong Agamemnon, tình-cảm nghệ-thuật ước-lược tình-cảm của một kẻ bàng-quan có thật; trong Othello tình-cảm ấy lại ước-lược tình-cảm của nhân-vật chính. Nhưng sự khác biệt ở giữa nghệ-thuật và sự-kiện luôn luôn là tuyệt-đối; sự tổ-hợp làm nên cuộc thảm-sát của Agamemnon có lẽ cũng phức-tạp như cuộc viễn-du của Ulysses. Trong cả hai trường-hợp đã có sự dung-hóa của các nguyên-tố. Bài vịnh-vật của Keats bao gồm một số cảm-giác không liên-quan gì đến chim dạ-oanh, nhưng chim dạ-oanh đấy, có lẽ một phần vì tên gọi mỹ miều của nó, và một phần vì danh tiếng của nó, đã đóng vai trò kết-hợp chúng lại với nhau.
Quan-điểm tôi đang gắng sức tấn-công có lẽ liên-quan đến lý-thuyết siêu-hình-học về sự thống-nhất của linh-hồn về mặt thực-thể; vì ý tôi là nhà thơ không có một “cá-tính” để biểu-hiện, song là một môi-giới đặc-thù, là một môi-giới mà thôi chứ không phải một cá-tính, nơi đó các ấn-tượng và kinh-nghiệm kết-hợp với nhau theo những cách-thức lạ lùng và bất ngờ. Những ấn-tượng và kinh-nghiệm quan-trọng đối với con người có thể không dự phần trong thơ, và những thứ có thể trở nên quan-trọng trong thơ lại có thể không đáng kể đối với con người, đối với cá-tính.
Tôi sẽ trích-dẫn một đoạn đủ lạ lẫm để nhìn nhận với sự chú-ý mới mẻ nhờ ánh sáng—hay sự mù mịt—của những quan-sát này:
And now methinks I could e’en chide myself
For doating on her beauty, though her death
Shall be revenged after no common action.
Does the silkworm expend her yellow labours
For thee? For thee does she undo herself?
Are lordships sold to maintain ladyships
For the poor benefit of a bewildering minute?
Why does yon fellow falsify highways,
And put his life between the judge’s lips,
To refine such a thing—keeps horse and men
To beat their valours for her? . . .
Trong đoạn này (một điều hiển-nhiên nếu đặt trong bối-cảnh) có sự kết-hợp của những tình-cảm tích-cực và tiêu-cực: một hấp-lực cực-kỳ mãnh-liệt đối với sự đẹp và một nhiếp-lực mãnh-liệt tương-đương đối với sự xấu được đối-chiếu với sự đẹp và hủy-diệt nó. Sự cân bằng của những tình-cảm tương-phản nằm trong tình-cảnh kịch-bản tương-quan đến lời thoại, nhưng chỉ riêng tình-cảnh đó lại không tương-xứng với nó. Có thể nói đây là tình-cảm mang tính cấu-trúc đã được cung-cấp bởi kịch-bản. Nhưng chỉnh-thể của hiệu-ứng, khẩu-khí chủ-đạo, là do những cảm-giác lơ lửng, vì có sự tương-ứng không hề hiển-hiện ở bề ngoài với tình-cảm này, đã kết-hợp với nó để giao cho chúng ta một tình-cảm nghệ-thuật mới.
Không phải những tình-cảm cá-nhân, những tình-cảm được kích-động bởi những sự-kiện đặc-thù trong cuộc đời của nhà thơ mới khiến ông ta trở nên xuất-sắc hay thú-vị. Những tình-cảm riêng tư của ông có thể mộc mạc, hoặc thô kệch, hoặc nhạt nhẽo. Tình-cảm trong thơ của ông ta sẽ là một thứ cực-kỳ phức-tạp, nhưng không phải sự phức-tạp về mặt tình-cảm của những người có những tình-cảm đặc-biệt phức-tạp hay bất-thường trong đời sống. Kỳ-thực, một sai lầm của sự hiếu-kỳ trong thơ là việc truy tìm những thứ nhân-tình mới lạ để biểu-hiện; vì tìm không đúng chỗ, cuộc truy tìm cái tân-kỳ này chỉ phát-hiện được sự biến-thái. Công việc của nhà thơ không nằm ở chỗ tìm những tình-cảm mới, song là ở chỗ sử-dụng những tình-cảm bình-thường và, nhờ quá-trình nặn chúng thành thơ, để biểu-đạt những cảm-giác vốn dĩ chẳng thuộc về những tình-cảm có thật. Và những tình-cảm ông ta chưa từng kinh-nghiệm sẽ phục-vụ ông ta không thua gì những tình-cảm quen thuộc. Vì vậy, chúng ta buộc phải tin rằng “tình-cảm được hồi-tưởng trong tĩnh lặng” là một công-thức chưa chính-xác. Vì nó không phải là tình-cảm, hay hồi-tưởng, hay, nếu không uốn nắn ngữ-nghĩa, tĩnh lặng. Nó là sự tập-trung, và một thứ mới nảy sinh từ sự tập-trung đó, của rất nhiều những kinh-nghiệm, những thứ kinh-nghiệm đối với con người thực-tế và hoạt-bát chẳng có dáng vẻ của kinh-nghiệm; nó là một sự tập-trung không xảy ra có ý-thức hay nhờ sự tính toán. Những kinh-nghiệm đấy không được “hồi-tưởng” và sau cùng chúng được đoàn-tụ trong một bầu không-khí chỉ có thể nói là “tĩnh lặng” với nghĩa đó là một sự theo hầu thụ-động của sự-kiện. Đương-nhiên, đó chưa hẳn là toàn-bộ câu chuyện. Trong việc viết thơ, có rất nhiều thứ phải có ý-thức và tính toán. Đúng ra, nhà thơ kém thường-thường vô-ý-thức khi ông ta nên có ý-thức, và có ý-thức khi ông ta nên vô-ý-thức. Cả hai những lỗi lầm đấy có khuynh-hướng khiến ông ta trở nên “cá-tính.” Thơ không phải là sự buông thả của tình-cảm, song là sự thoát-ly khỏi tình-cảm; nó không phải là sự biểu-hiện của cá-tính, song là sự thoát-ly khỏi cá-tính. Song, đương-nhiên, phải là kẻ có cá-tính và tình-cảm mới hiểu được mong muốn thoát-ly khỏi chúng.
III
δ δε νους ισως Θειοτερον τι και απαθες εστιν
Tiểu-luận này sẽ dừng ở biên-cảnh của siêu-hình-học hay chủ-nghĩa thần-bí, và tự đặt giới-hạn trong những kết-luận thực-tế, các điều những kẻ quan-hoài đến thơ, hễ có trách-nhiệm, có thể đem áp-dụng. Để dời sự quan-hoài từ nhà thơ sang thơ là một mục-đích đáng khen: vì điều đó lại giúp đánh giá thơ phải lẽ hơn, vô-luận hay dở. Có nhiều người thưởng-thức được sự biểu-hiện của tình-cảm chân-thiết trong thơ, và có một số ít hơn thưởng-thức được sự ưu-đẳng về mặt kỹ-thuật. Nhưng rất ít người hiểu được khi sự biểu-hiện đó là của một tình-cảm đáng kể, một tình-cảm có sự sống nội-tại bài thơ mà không phải từ lịch-sử của nhà thơ. Tình-cảm của nghệ-thuật là phi-cá-tính. Và nhà thơ không thể đạt được đến sự phi-cá-tính đấy, trừ-phi ông ta hoàn-toàn hiến mình cho công việc còn phải hoàn-tất. Và ông ta ắt khó có thể biết được công việc gì còn chờ hoàn-tất, trừ-phi ông ta sống không những trong hiện-tại, nhưng còn trong khoảnh-khắc hiện-tại của quá-khứ, trừ-phi ông ta ý-thức được không phải là những gì đã chết, song là những gì vốn dĩ đang sống.
1919
Nguyễn Thụy-Đan dịch
