VIII
VIII
Buổi quá trưa hôm ấy trời mưa phăn[1]. Lại có cả tiếng sấm tháng hai ầm ù nữa. Mưa phăn mùa xuân vào quãng giữa mùa, trời nồm như khí hậu ngày mưa rằm tháng bảy. Cả một đoàn tàu, cả toa máy, toa bưu điện, toa hành khách rầu rĩ như một buổi tống biệt xấu trời. Sắt, đồng và gỗ đều dổ mồ hôi. Cái lá cờ đỏ, lá cờ vàng cắm ở sau toa cứ rù rù như một lá cờ trắng của kẻ chiến bại trương lên để xin hàng và nộp thành trì. Mặt sân nhà ga, những hòn gạch đỏ chảy ra như kẹo hồng gặp nồm. Tảng bùn chỉ in giữ được dấu chân người trong khoảnh khắc rồi lại tan nhoè ngay. Những hành khách buổi nay mặt rười rượi như vào những ngày ngâu. Họ uể oải đặt chân lấm lên bậc toa cứ sánh lại như quết mật mía. Phấn mưa đọng lâu vào tay vịn bằng sắt rỉ đã làm đổ xuống những dòng nước lạnh màu củ nâu rất dài và mảnh.
Bạch lừ đừ tiến lại cái đoàn tàu ê ẩm.
Ở phía đầu, gần toa bưu điện, có một toa hạng tư ngoài vách toa dán nhãn giấy in, đề “toa riêng”. Ở hai khu đầu lên xuống và ở vài khung cửa mở có một nửa, Bạch nhận thấy lố nhố ít chục cái bóng hướng đạo sinh đang buộc lại tay nải, gói lại vải lều và lấy dây thừng buộc lại hàng bó gậy có đinh sắt nhọn ở một đầu. Bạch nhìn mãi, nghe ngóng một hồi.
Có lẽ cả một đoàn tàu hôm nay rất xấu và rất buồn, trừ có toa này là vui tươi thôi. Bởi vì những hành khách trẻ tráng của riêng toa này là những đoàn sinh, tráng sinh và sói con, sói già của vài đoàn hướng đạo. Họ vui, họ cười, họ đùa, họ hát, hát riêng, hát chung - với tấm lòng lạc quan cố hữu của hướng đạo sinh.
Bạch đứng dưới sân ga nhìn lên toa tàu, tình cờ nhìn đúng ngay vào hai con mắt một chị đoàn trưởng mặc xiêm đen, cổ quấn khăn xanh viền đỏ và ở vai phơ phất mấy dải ngù. Bạch đọc cái dải ngù: “Triệu Ẩu”. À, thế ra người thiếu phụ này cầm đầu đoàn Triệu Âu. Nàng đen ngăm ngăm như những người thôn nữ quen tắm nắng của bốn mùa. Tự nhiên nàng cười với Bạch, Bạch không biết làm thế nào cũng phải cười lại. Hai nét cười, hai thế giới tâm tình. Người thiếu phụ cười để biểu dương thành thực, thẳng thắn, vui tươi và bình dị và tin tưởng của lòng. Trong nụ cười ốm yếu và gượng gạo của mình, Bạch cảm thấy chỉ có nỗi hoài nghi mênh mông thôi. Bạch nhận thấy mình là người ốm cần phải chữa lại cả bộ máy đã mòn đến xộc xệch và tự hỏi: “Làm cách gì cho sức tín ngưỡng trước cuộc sống có thể bằng như lòng yêu đời của người đàn bà hướng đạo đoàn Triệu Âu kia? Người ta biết người ta chống gậy lên đường để làm gì. Người ta đi để vui vẻ làm việc mỗi khi phải ngừng chân cắm lều trại đốt lửa ở trên một khoảng đất nào. Ta đi để mà đau khổ lẫn cả lúc đi lẫn lúc nghỉ. Ới ta ôi là ta ôi”.
Bạch đã phải bực mình hết sức với cuộc sống trớ trêu sao cứ thỉnh thoảng lại bày ra một vài cảnh tin vui và trái ngược với lòng mình để bắt chàng phải làm những việc so sánh rất tiêu cực như vậy. Chàng bực dọc lấy ngón tay búng mẩu thuốc còn dài vào đúng chiếc, bánh xe sắt gần toa tàu không nhúc nhích. Dăm cái đốm lửa rụng xuống lớp đá ướt đường ray.
Giữa lúc ấy, một đoàn hướng đạo sinh sắp hàng ngũ tề chỉnh kéo nhau tiến lại phía chàng - nghĩa là chỗ toa riêng của những bạn đoàn sinh, tráng sinh và sói con của họ. Họ ngừng lại với cái rắn rỏi của nhà binh. Bạch lùi lại phía sau.
Ở toa tàu ban nãy đã vui ồn bây giờ lại càng rầm rĩ. Rất nhiều cái mũ nồi có thêu hình đầu chó sói tai nhọn lố nhố thò ra khỏi khung cửa toa. Mỗi cái đầu thò ra là một nụ cười có những hàm răng chưa đều nhưng rất trắng. Những cái mồm thơ ấu ấy cười nở như một chùm hoa hồng bạch hàm tiếu được giờ để cùng mãn khai. Vài anh tráng sinh đầu đội mũ dạ rộng viền có quai da hoặc đội nón lá, chống gậy bước xuống khỏi toa và vui cười nói chuyện với những cái mũ dạ khác dắt nhau ra đây để đưa mình lên đường trở về Trung Kỳ. Phải rồi, đây là cảnh đưa nhau của một đám hướng đạo. Đoàn hướng đạo đại biểu, anh em Bắc Kỳ đưa một đoàn ở vùng trong lặn ngòi ngoi nước ra đây cắm trại họp bạn bên rừng Sặt từ dăm hôm nay.
Buổi sáng, đọc báo hàng ngày, Bạch đã thấy một tờ báo tường thuật rõ ràng về cuộc họp bạn sì-cút này.
Còn một lúc nữa thì tàu chạy. Bọn sì-cút cầm tay nhau, càng được lâu, họ càng thích. Dáng điệu, lời nói họ không lộ một tí nặng lòng với ly cách sắp sửa đến. Bởi vì họ là người sì-cút và cái giáo dục hướng đạo sinh đã dạy họ không bao giờ được buồn, bất kể trường hợp nào. Người sì-cút chỉ biết có thẳng tiến và lúc nào cũng sẵn sàng. Sẵn sàng cả đến lúc chia phôi. Vì thế, lúc này cũng như lúc nào, họ hoang phí cái vui cười của họ, tưởng chừng cái vốn hoan lạc của mình là vô tận như là của trời. Đoàn hướng đạo lên đường và đoàn hướng đạo đi tiễn thi nhau mà vui...
Những cái khóa sắt, dao sắt và chén mạ kền có quai đeo ở thắt lưng họ và dụng cụ của mấy anh bạn khác, cũng cất cao tiếng kim khí mà hòa vào cái điệu vui chung. Có những anh đang buộc dở hành lý hoặc xếp đặt lại hộp thuốc cấp cứu có hình Hồng thập tự cũng vội chạy ra đầu toa cười góp với anh em một chút cho nó phải với cái đạo hướng đạo.
Nhưng thực ra cũng có nhiều anh buồn lắm ở trong lòng, tuy ngoài mặt thì là hể hả. Tất cả bấy nhiêu người đều tíu tít lên mà vui. Bỗng con tàu mở nhè nhẹ máy lúc nào không biết. Mấy chục cái bánh sắt quay chưa đủ một vòng thì sân ga đã vang động lên âm thanh một bài ca. Bài “Từ Biệt Vui Vẻ” của đoàn sì-cút. Tất cả người đi và kẻ ở đều ca hát vang lừng, lắm cái miệng nhỏ bé quá và không thuộc câu hát cũng mấp máy phụ họa vào trông dễ thương lạ. Người đi chống gậy đứng ở đầu toa đang chuyển động, nhìn xuống sân ga, nhìn vào mặt kẻ ở cùng hát rằng:
Ta có nên chia tay nhau mà không hy vọng
- Không hy vọng trở về.
Ta có nên chia tay nhau mà không hy vọng
Một ngày còn được gặp lại nhau.
Đây chỉ là một lời từ biệt.
Các anh ơi, đây chỉ là lời từ biệt,
Phải lắm, chúng ta sẽ còn gặp nhau,
Các anh ơi, đây chỉ là một lời từ biệt
Và, những bàn tay giữ chặt lấy nhau
Vào một buổi ngày tàn này
Với những bàn tay nắm chắc lấy nhau
Chúng ta kết nên dây thân ái
Hỡi những bạn Hướng Đạo kết chặt bằng dây thân ái
Chung quanh những ngọn lửa trại chung
Hỡi những Hướng Đạo Sinh đoàn kết bằng tình thân ấy
Chúng ta chớ nên nói câu vĩnh quyết
Bởi vì Thượng Đế thường thấy chúng ta gần nhau
Và sẽ phù hộ cho chúng ta,
Bởi vì Thượng Đế thấy chúng ta sum họp Sẽ tìm cách cho chúng ta đoàn tụ.
Bạch lẻn ra về trước khi đoàn hướng đạo ở lại kéo nhau ra cửa ga. Cuộc sống của những người này là đầy tin tưởng và không lúc nào có một tí sơ suất của tinh thần. “Ta có nên chia tay nhau mà không hy vọng trở về... Chúng ta chớ nên nói câu vĩnh quyết...”, Bạch cho rằng chỉ khi làm được người hướng đạo thì mới dám nói quả quyết như vậy. Chàng lại nhớ đến lời mình hẹn với một cô đầm thợ thêu người nước Áo ngụ ở Ba Lê: “Bây giờ là mùa xuân. Tôi về nước, độ mùa thu tôi lại qua. Tôi và em sẽ gửi nhiều thư cho nhau trong khoảng xuân thu ấy”. Bạch nhẩm tính. Từ ngày đó, đã có bảy mùa thu và sáu mùa xuân kế tiếp nhau đi qua rồi. Mà biền biệt, không một lá thư, không cả đến ý nhớ không mất tiền mua nữa, chứ nói chi đến truyện trùng lai và tái kiến. “Ta có nên chia tay nhau mà không có hy vọng trở về…”, Bạch nghĩ thầm mà lại muốn cười. Cười để mà được buồn thêm: “Ra người ta tụ ít tán nhiều, lúc lâm vào cảnh sinh ly thường xây quá nhiều ảo tưởng nên một ngày trở về ít khi xảy đến thực”.
[1] Có lẽ là từ chữ lăn phăn thu gọn lại (?) – VTN.
