VII
VII
Cũng như ngày hôm qua, ngày hôm kia, ngày hôm kìa và còn trước thế nữa, buổi chiều nào vào khoảng tịch dương, Bạch cũng có mặt tại sân ga Hà Nội trước giờ khởi hành của tàu đi Sài Gòn.
Một người cai thuốc phiện nhớ ngọn đèn dầu lạc như thế nào thì Bạch thèm nhớ con tàu tốc hành như thế. Mỗi chiều ra đến sân ga, chàng chỉ phải bỏ ra có năm xu, chứ có phải bỏ ra nhiều hơn gấp trăm ngàn thế nữa chàng cũng không tiếc. Mất một cái vé ra cửa năm xu để ngắm cả một tấn tuồng xê dịch. Rẻ đến thế là cùng. Những bạn quen thấy chàng có mặt luôn luôn ở bên tàu thường hỏi: “Tiễn ai vậy?” Hoặc “Anh đi?”. Thay vào một câu trả lời cho một lời hỏi không đáng đáp, Bạch nhếch mép cười rất mệt mỏi. Rồi Bạch lánh xa một chỗ, tựa mình vào cây cột đèn và nhìn dăm bảy hành khách phong lưu. Quần áo thừa ấm áp, hòm xiểng đã gọn gàng và lại thừa đựng chứa, họ ung dung bước lên tàu. Đã có những người “bắt-tê” tay đeo băng con số, tìm chỗ gọn gàng xếp hành lý cho họ. Còn lâu tàu mới chạy. Họ ló đầu ra khỏi khung cửa toa đã hạ hết cả cửa kính pha lê, cửa chớp bằng gỗ thông sơn bóng. Họ tỳ cùi tay lên cái gióng đồng đánh bóng và hít những mồi thuốc đượm hương khói thơm, họ bình tĩnh nhìn chằm chặp ra cái cửa chính nhà ga chỗ hạng ba. Họ dán mắt họ vào cái kim phút đồng hồ to lớn. Một đợt gió gắt thổi bay những chiếc cà vạt sặc sỡ những màu của phương Nam ra khơi và nắng ráo. Họ cười, nhìn vào khoảng không. Những nét cười của họ cũng tươi thắm như những màu hàng tơ dệt đính ở cổ áo trước ngực họ. Họ là những người lữ khách sung sướng. Nếu mới là người được đi có một lần và chiều nay là buổi chiều khởi hành đầu tiên trong một đời người, họ không thể gọn ghẽ như thế ở trong lòng, ở ngoài mặt và ở dáng điệu. Vài tờ tuần báo nằm tròn trong lòng bàn tay trái họ, ở ngón tay út hoặc ngón thứ tư có những chiếc nhẫn kim khí rất khoẻ mạnh kèm với thứ nhẫn đính hôn thưa mảnh và trơn lì. Những bàn tay trượng phu ấy muốn đánh lừa thời khắc trôi chậm quá, gõ đầu ngón tay vào khung gỗ và miếng kính toa tàu thành một bản nhạc đục rè có những tiếng gỗ, tiếng đồng và tiếng thuỷ tinh hỗn độn.
Phía cửa ga hạng ba có những tiếng giày dép vội vã. Có đến ba bốn thiếu phụ lịch sự đang ngơ ngác tìm tàu với những câu hỏi hốt hoảng: “Tàu suốt đã chạy chưa? Tàu Sài Gòn đỗ đâu?” Đám phụ nữ ấy tiến lại phía mấy chiếc toa hạng trên.
Từ trên toa hạng ba, mấy người hành khách phong lưu rất bình tĩnh từ nãy giờ đã bước xuống, vẻ mặt khó chịu và hậm hực không thể giấu kín được.
- Kìa mợ!
- Kìa cậu!
- Kìa anh!
- Kìa em!
A, thế này thì ra là một cuộc trốn chạy và là một cuộc bắt bớ nữa. “Chàng ra đi, “Thiếp” tìm. Chỉ chẳng buộc nổi chân voi. Nhưng buổi chiều này, ở sân ga Hà Nội, mấy thiếu phụ kia định lấy nước mắt ngăn cản một người chồng, giữ giệt lấy một vị hôn phu. Được biết ngày lâm kỳ[1] của chàng vì chút tò mò - người đàn bà nào đã yêu lại chẳng tò mò - đêm qua thiếp đã khóc và những mong “Lệ biến thành trận mưa dầm, ngăn lấy bước ngựa chàng buổi sớm mai”[2].
Bạch tiến gần lại đám người trẻ tráng đẹp đẽ này đang rì rầm phân trần cùng nhau. Nhìn họ mà Bạch cười một cách ảm đạm quá. Thôi, thế này thì ra cõi đời chúng ta đây lại thêm được vài tên giang hồ bất đắc chí nữa rồi. Và trên một cái bến nào, lại có vài cái neo nữa thả xuống để không bao giờ kéo lên khỏi mặt nước. Bởi vì “anh” đã trót dại yêu “em” và em thì chỉ muốn những chuyện xây một cái tổ cho thật ấm. Những đêm gió lạnh qua cành khô, con chim cái muốn an ủi con chim đực, thường sẽ bảo con chim đực ngồi rù rỉa lông cánh rằng ngoài tổ này gió phải là lạnh lắm. “Muốn tìm hạnh phúc ở đời, đứng vẫn không bằng ngồi. Và bay lắm không bằng đậu nhiều. Và nếu cứ nằng nặc đòi bay thì hai ta cùng bay”. Hai ta cùng bay! Bạch nghĩ mà muốn cười vào mặt những người đàn bà rất đẹp và rất ngu ấy.
Rồi Bạch đâm ra buồn bã và bực dọc khi sực nhớ thấy mình cũng là một người đàn ông có vợ. Vợ chàng cũng là một người đàn bà chúa hay khóc. Gặp những ngày trời nắng ráo, Bạch đem quần áo ra phơi và đem va ly bị nồm vẽ rêu mốc ra lau chùi, vợ Bạch khóc, lúc tỉ tê, lúc sướt mướt. Gặp những ngày trời quang đẹp, Bạch rủ vợ đi chụp ảnh chơi và mặc quần áo tốt cho con nó cùng đi với, vợ Bạch cũng khóc, và lúc tạm nín, lại mếu máo hỏi chồng:
- Mình sắp đi xa phải không?
- Ai bảo thế?
- Tôi biết lúc nào mình sắp được đi đâu tôi thấy mình vui lắm. Dạo này tôi thấy mình nhận được nhiều cái phong bì thư lạ lắm. Cái nào cũng chi chít những thứ tem ở đâu đâu ấy. Có phải mình rủ tôi và con đi chụp ảnh là định để lại cho mẹ con tôi một cái kỷ niệm rất thấm thía về sau này đấy phải không?
Những buổi vợ chồng lời đi tiếng lại như thế, Bạch lại bỏ nhà đi mất mấy hôm. Nếu chàng không xách thêm một cái cặp đựng độ mấy cái quần áo lót đi lang thang về các vùng quê gần thì chàng lại lánh lên ở một cái gác xép chàng thuê ở phố Hàng Gai rất ồn ào kia. Bạch ở đấy có khi ba bốn ngày liền, nhất định không ra khỏi nhà và không tiếp ai, trừ một đôi người bạn rất thân. Nhưng lâu nay những người bạn rất thân ấy đều đi xa vắng Hà Nội cả rồi. Họ đi Tàu, đi Nhật đi Tây. Bằng tàu bể, bằng tàu bay. Thỉnh thoảng họ lại gửi về cho Bạch một tấm các-bốt-tan để cho Bạch càng thấy sốt ruột và nghĩ thêm tội nghiệp cho một người đàn bà đã trót vướng vào mình. Lại còn một đứa con nhỏ nữa. Người vợ chưa đủ là quả chì nặng hay sao mà cuộc sống còn cho mắc thêm một hòn nữa vào? Bạch hình dung đến một cái lưới gai của bọn chài bể, một mép trên có quả phao nổi, một mép dưới có các quả chì chắc chắn. Trong một cái lưới dệt bằng các thứ sợi tơ tình cảm của vợ đẹp trẻ và của con thơ, Bạch tưởng có ruồng rẫy mạnh thì cũng gỡ ra lọt. Nhưng tơ lưới óng đẹp lắm, cứ kể mà đem chọc rách đi cũng đáng tiếc và tội lắm thay!
Những buổi Bạch đi lánh vợ con tại căn nhà xép thuê ở riêng một mình này, Dung mong mãi không thấy chàng về lại đâm bổ lên tìm. Gọi mãi mà cửa vẫn đóng kín mít, Dung viết mảnh giấy tuồn vào kẽ dưới tấm cửa: “Ông ngoại chiều nay cũng có ăn cơm ở nhà ta. Nếu mình không về ăn thì ông nội và ông ngoại không chịu uống rượu như mọi lần có mình bên mâm”. Bạch rón rén nhặt thư và thừa hiểu đây là một độc kế của Dung. Mỗi lần có xảy ra chuyện xích mích, vợ chàng thường nấp đằng sau những bậc huynh trưởng trong gia tộc để kéo chàng về. Mấy lần trước thì là ông chú bà thím nếu không là các bạn hữu phải trọng nể. Lần này thì ông nội ông ngoại.
Ở trong phòng, bừa bộn đèn cồn, thuốc lá cuốn rồi và chưa cuốn, cà phê, đường, bánh mì và sách báo mở vứt lung tung. Bạch thấy không lên tiếng thì cũng tội. Chàng phải mở cửa. Vợ Bạch tay xách một lẵng thực phẩm mới mua ở chợ, miệng cười. Nàng được cười lúc này cũng như lúc nàng đã phải khóc thầm khi thấy Bạch lau chùi những hành trang cũ trước ngày đăng trình đi đâu rất xa. Bạch lặng thinh đi bên cạnh Dung, cảm rõ thấy mình là một người sống rất gượng gạo và thiếu can đảm, vì không có tàn nhẫn và dứt khoát trong xử sự.
Hôm nay, ở giữa sân ga, được chứng kiến một đám bắt bớ chồng và vị hôn phu, Bạch thấy những thiếu phụ ấy là hóa thân của vợ mình. Những người đàn bà đẹp và hiền ra đều giống nhau cả. Ở một bài thơ năm chữ trong Âu học ngũ ngôn thi người đàn bà đẹp và hiền nào cũng muốn thêm hai chữ vào đầu mỗi câu gửi lại cho một người chồng lên ngựa sắp ra roi, mượn mấy lời thơ cũ trong sách để tạ cái tình người đi. “Thiếp như bạch nhật mạc nhàn quá. Quân diệc thanh xuân bất tái lai..., Cổ lại mã thượng kỷ nhân hồi[3].
Đứng hơi xa, chỉ nhìn thấy điệu bộ họ cắt nghĩa và van nài rồi dằn dỗi nhau ở phía cuối cùng đoàn tàu. Bạch tiến gần đến, lướt qua họ đang túm tụm lại cốt để nghe lỏm mấy câu.
- “Tôi van cậu. Nếu cậu không về thì tôi cắt nghĩa với thày mẹ thế nào cho ổn thỏa. Cậu cứ nghe tôi, hãy về đi đã. Rồi ngày mai đi. Tôi có giữ đâu. Mà tôi giữ nổi thế nào được cậu”.
- “Anh ôi... thân gái hạt mưa sa. Em đi cùng...”.
Hà, những câu này Bạch đã nghe thấy nhiều lần lắm rồi. Và khi đã có một người mềm mại, đẹp và thân nói với người đàn ông như thế thì người đàn ông chỉ có việc chào con tàu đi không có mình và trở về ngay cái nhà mình. Bạch lấy làm thương cho mình và thương lây cả mấy ông lữ khách hụt kia. Ban nãy, lúc họ đứng một mình trên toa tàu mới nhanh nhẹn làm sao? Có giây phút Bạch đã ghen ghét họ. Nhưng bây giờ... bây giờ đời họ cũng nặng như đời chàng. Bấy nhiêu sợi dây thân ái, hồ dễ mấy ai đã cắt đứt được cho mau. Những hòn chì. Đời họ có những hòn chì, toàn là cục chì mắc vào cổ chân.
Bạch muốn đi lại gần phía họ, xin phép đám thiếu nhi kia kéo họ ra một chỗ khuất mắt tất cả lữ khách của nhà ga để bỏ nhỏ vào tai họ một câu: “Thôi các ông ạ. Không nên châm chọc đến định phận nữa. Vợ đẹp thế. Con khôn thế, há nên đi đâu? Đến ngay như kẻ này sẵn cảm tình với các ông, với khởi hành, kẻ này vốn có một người vợ không được đẹp như thế, và có những đứa trẻ không được ngoan như thế, mà cũng còn không dứt nổi một cái tà áo gió đã làm lay động từ bao giờ, huống hồ nữa là các ông. Chúng ta là những cái neo sắt rỉ, bị vùi dưới đáy lớp bùn đọng dưới lòng bến. Số phận những quả neo bị bùn sâu cắn chặt chỉ còn nhờ trông vào những lớp sóng ngầm của những ngày bão táp mai mốt rất dữ dội nhổ hộ lên được thôi. Các ông cho phép tôi được ái ngại cho các ông. Tôi thật thương các ông lắm cũng như tôi đang thương tôi vô vàn. Chúng ta chỉ là những cái neo rỉ bị đời sống giang hồ cắt đứt dây, bỏ quên lại và đánh tụt xuống một cái mỗ của bãi bùn lầy vữa”.
Bạch muốn xách họ ra một chỗ vắng, đứng trên một đám cứt sắt than đá của một đường tàu không vắng, bảo họ như thế và bắt tay chia buồn rất tha thiết cùng họ. Chao ôi, đồng bệnh tương liên[4].
Không khí chiều ở sân ga đã nhộn nhịp lại vang ngân lên một tiếng còi đồng. Còi hiệu của một cuộc đi có giờ định trước. Đúng 19 giờ ở cái mặt trắng chiếc đồng hồ khổng lồ mũi kim rất sắc, con số giờ không nhoè. Từ xửa từ xưa, từ bao giờ đến giờ, vào giờ này, từ khi chuyến tàu tốc hành lấy giờ này làm giờ khởi hành, đã có bao nhiêu lần người ta cảm thấy nhộn nhịp trẩy từ nơi đây đến nơi đó. Bắc, Nam, mỗi đầu thiết lộ, một cái thủ phủ. 1748 cây số. Hà Nội - Sài Gòn. Bốn mươi giờ đường sắt.
Muốn đo cái sức đi của du tử, người ta thường dùng đến hai lượng số không gian và thời gian. Những lúc này, ở sân ga Hà Nội, con tàu tốc hành đã lướt qua cái ngã tư Khâm Thiên rồi, còn có những người đang đi bằng một tấm lòng khát vọng sôi nổi trong một cái thể xác bị tù túng. Những người ấy là Bạch, là tất cả mấy người suýt lên đường kia đang bị vợ con và ý trung nhân[5] lấy nước mắt để giữ lấy cái đà chân muốn tiến mạnh đến những nơi có cám dỗ của bất thình lình. Mặc kệ con tàu đã đi bỏ rớt lại họ. Vẫn là những lữ khách đứng ra ngoài mọi điều kiện thuộc về thời và không gian. Họ là những người muôn năm phải đứng yên để mãi mãi du lịch trong tưởng tượng bằng một tấm lòng đau khổ.
Trên sân nhà ga, đã vãn cả người đi tiễn lẫn người đi. Tất cả lúc ra về, ra cửa trả lại tấm vé cửa năm xu, không một ai để ý đến tấn thảm kịch của những cuộc viễn du hụt này. Lôi thôi, lếch thếch, những người chồng vì vợ giữ lại không cho lên đường, một tay xách hành lý, một tay dắt con, uể oải bước ra khỏi khung cửa nhà ga mà ban nãy họ đã đi qua với hết thảy bồng bột của lòng. Mặt họ dài ra, chân họ rời rạc. Cái va ly mới sặc mùi da bò của người không được đi, sao mà nặng như là sũng nước ngâm đến thế.
Bạch quay cổ nhìn lại họ một lần cuối cùng trước khi nhảy lên xe.
Từ hôm ấy, Bạch càng năng ra ga vào những giờ chiều. Bạch nghĩ trong đầu mà lại muốn để một lời cám ơn, cám ơn cái ông chánh kỹ sư giám đốc Hỏa xa Đông Pháp từ khi nhậm chức đã cho thay đổi lại giờ xe lửa vô Nam. Trước kia, tàu chạy vào ba giờ chiều Xe qua Huế vào khoảng bình minh ngày hôm sau. Và sáng tỏ mặt người ngày hôm nữa thì xe vào ga Sài Gòn. Bây giờ, với cái thời khắc biểu mới, tàu chạy vào khoảng bảy giờ chiều, người hành khách đi từ Bắc vào Trung và Nam qua hết mười bảy độ vĩ tuyến, sẽ được nhổ bãi nước bọt thóc mách của mình xuống dòng nước sông Hương vào lúc mười giờ sáng sau khi đã điểm tâm và dọn lòng mình, đón lấy cảnh mới; và mãi đến gần trưa hôm sau nữa mới phải kêu: “Trời ơi! Đã đến rồi”, lúc đoàn tàu đi chầm chậm lại dưới cái nắng xích đạo của Sài Gòn. Tính cho gọn được cái thời giờ lúc đi và lúc đến ổn như thế, người ta ít ra phải là một người hiểu tâm lý và trong một người đại công chức quyền cầm đầu cả một Bộ thiết lộ một xứ, phải có một người nghệ sĩ của du lịch nữa. Bạch lại càng vui vẻ trong lòng hơn nữa khi chàng nghĩ đến những cuộc tấu nhạc của hãng tàu Nhật Bản cho cử lên ở mặt các bến đảo Phù Tang, mỗi khi có chiếc tàu bể nào của hãng kéo neo xoay mũi ra khơi. Tiếng đàn trên tiếng sóng đỡ lấy một vuông mùi xoa vẫy bay. Được đi là vui lắm chứ. Há lại chẳng có đàn nhị tiễn tống. Cái thân suốt đời ở yên một chỗ như đứa làm con có hiếu đời Nho, hễ “phụ mẫu tại đường” thì nhất định phải là “bất khả viễn du”[6], và có một cái tổ quốc để mà trở nên một hòn đá có rất nhiều rêu như thế thì sao có bằng được người Do Thái không có quê hương để mà vĩnh viễn lang thang trên lục địa. Cái mũi đinh cây côn gỗ của một kẻ nạn nhân trong lịch sử nhân loại từ có Tân Ước Kinh tưởng đã nếm thử được nhiều màu đất và mùi đất lắm. Hãy mượn lấy cái gậy ấy mà lên đường. Khước lắm. Gió thường hay lên cơn, thổi vi vu ở đầu cây gậy ấy.
Đấy, Bạch đã từng nghĩ lan man như thế, những chiều chàng lặng lẽ đứng giữa cái chốn nhốn nháo của sân ga sặc sụa mùi khói than đá và mờ mờ hơi nước đun sôi. Khói than đá. Hương ấy thừa gây mùi nhơ nhớ cảnh giang hồ. Mùi khói than đá lại còn gợi lại mùi dầu ét- xăng của đoàn xe vận tải đường trường và lại còn gợi đến cả mùi sơn dầu thông thơm phưng phức quanh quất trong ruột những con tàu bể. Bạch không hiểu tại sao lại có người lợm oẹ được nhiều thế, mỗi khi khứu giác họ được làm quen với chút hương sơn, hương đá than hoặc nước xăng. Bất giác Bạch nhớ lại một bữa rượu ở phố Canebière bến Marseille do tất cả anh em Việt Nam làm tàu tổ chức để ăn một cái Tết Nguyên Đán ngoài quê hương. Gần tàn bữa tiệc, không rõ ở trường hợp tranh biện nào, khi chếnh choáng hơi men, Bạch đã hùng hồn nói một câu mà ba phần tư anh em có mặt ở bàn tiệc phải cực lực hoan hô và công kênh chàng lên, như ngày tháng tám ở quê nhà, người ta múa sư tử ăn giải treo ở các tư gia. “Thưa các bạn, nếu người ta cho tôi được quyền chọn lấy một trong hai thứ mùi thơm của dầu thông và nước huê của tất cả những cỏ nội và hoa ngàn cô lại, thì nhất định tôi chỉ xin lấy độ mười thước khối không khí trộn mùi dầu sơn nhựa thông thôi. Trong mạch máu người tôi, có đến một nửa thành phần là muối chát của bể”.
Rất nhiều kỷ niệm xưa cũ đã xô bồ trở về với Bạch vào những lúc chiều chiều thơ thẩn ở nhà ga hít tẩu thuốc nhìn làn khói điếu của mình và nhìn luôn cả khói tuôn nơi đầu ống khói của những con tàu sắp sửa đi xa. Cái người thi sĩ ấy đang tìm những ý thơ cho một bài “Giang hồ hành” và lúc gieo được chữ cho bài thơ trường thiên thì vận chỉ toàn là những chữ của hằn học và thèm thuồng.
Chàng ra chơi ở sân ga nhiều quá. Sự siêng năng ấy của một người có cái bề ngoài nhàn hạ đã làm cho người chung quanh nhiều phen ngộ nhận mình. Cái gì mà cứ buổi chiều nào cũng ra đứng tễu ở bến ga, tựa lưng vào một cái cột sắt mái hiên xi măng, quay mặt vào những đoàn tàu móc sẵn toa? Cái gì mà lại cứ ra ga để chiếm một chỗ đứng, nhìn trời, nhìn khói, nhìn vào tất cả bấy nhiêu cái mặt người thảng thốt đang tay xách nách mang, với sự bình tĩnh ốm yếu của một người chỉ biết có lãng phí ngày giờ của mình? Từ thày ký soát vé cửa ra vào, từ ông sếp ga cầm cờ đỏ, từ chú Tây đen cầm ba toong giữ trật tự và dẹp bọn bán hàng rong ở hè ga cho đến mấy ông đội Tây lục quân thuộc địa đeo súng lục đứng ở gác bến, ai ai cũng phải để ý đến cái anh chàng người dong dỏng và nước da mai mái ấy, mỗi buổi chiều là thơ thẩn ở đây và hút cứ từng nửa gói thuốc lá chưa cuốn. Tất cả bấy nhiêu người đều có thể nhận lầm những cớ khác đã xui anh chàng ấy túc trực ở nhà ga. Nhưng có một điều này mà họ không thể nhận lầm được về thái độ cử chỉ của Bạch. Là y không có đưa tiễn ai bao giờ. Phải, từ hôm họ để ý tới hắn ta ra sân ga liền liền hàng nửa tháng, không bỏ sót một chuyến tàu tốc hành nào, chưa khi nào họ thấy hắn ta đỡ hộ hành lý cho một vị hành khách hoặc trao đổi với ai một lời chào vui hoặc buồn. Thậm chí hắn cũng không thèm trèo lên tàu để cho người ta có thể lầm tưởng là hắn đi lục lọi trong ruột toa, cố tìm lấy một kẻ quen thuộc ra đi. Không, không, hắn chẳng đưa đón ai cả. Vậy cái người lãng tử cô đơn không có bạn hữu, không có thân quyến ấy ra ga làm gì? Nếu người ta buồn và lại dồi dào thời giờ thì người ta vào tiệm hút, lầu trà, đi nghe kèn ở công viên hoặc rong chơi ở phố Tây mà ngắm hàng tạp hóa, trước tủ gương chớ! Hà Nội thiếu gì đất cho những người du đãng thích đứng đường. Vả chăng, cái thằng cha ấy sang trọng thế kia mà ca vát, sơ mi, quần áo hàng nỉ của hắn là những thứ hàng xa xỉ đem tự nước ngoài vào mà người ở đây có muốn dùng tới cũng phải bỏ ra nhiều tiền lắm thì mới đi theo kịp được thời trang như y. Lắm bữa người ta còn thấy hắn dùng những thứ thuốc lá hương yên hộp tròn thơm tho và sang vô cùng. Cái ông sếp ga tay chơi ấy, từ khi Bạch định làm quen và mời hút thuốc để mở đầu cho những câu chuyện vụn vặt về tàu bè luân chuyển, đã phải công nhận về chỗ xa hoa của Bạch dùng thuốc hút quá xa phí. Một điếu thuốc của Bạch mời có khi giá trị bằng cả một gói của người khác dùng hàng ngày. Hầy, Bạch thật là cả một điều bí mật cho những khối óc tò mò. Bởi vì ở một cuộc sống phức tạp này, có nhiều cái thơ mộng rất bình dị của nhiều nghệ sĩ đã bị chúng nhân hiểu lầm và phô diễn cho đến thành ra những việc kỳ quái, họ mới chịu thôi cho.
Trong khi đau khổ vì cảm thấy mình là một con chim đại bàng bị cắt cụt cánh, chỉ còn có được đi một cách lạch bạch trên mặt đất chật, Bạch ra ga nhìn trò xê dịch của xe lửa cho vợi lòng thèm, chàng có biết đâu mình đã là cả một đầu đề cho sự tọc mạch của chung quanh.
Nhưng, mặc dầu, nếu Bạch có biết rõ người ta đã gán cho mình những ý nghĩ không tốt, chàng cũng không bỏ được cái thói quen ra ga xem tàu.
Chỉ có những hạng người cao đẳng muốn mượn thói xê dịch để dưỡng cái bệnh phải sống ở đời và chốc lát muốn thoát ly khỏi cái chặt chẽ của đời sống, thì mới hiểu được cái thú vị của thói quen ấy.
Bạch vẫn cứ ra ga hoài. Những phu “bắt-tê”[7] đã thuộc cả mặt chàng. Chàng cũng thuộc cả những con số gắn vào lon tay của bọn phu khuân vác. Họ xin chàng một điếu thuốc luôn luôn. Và thỉnh thoảng chàng xin họ một que diêm. Không còn gì chán bằng sự cứ gặp nhau mãi ở một nơi nhất định để nhìn nhau với con mắt vô sự và dửng dưng. Sốt ruột lắm.
Bạch nhớ mãi câu nói của ông ký ga già: “Tôi ngồi ở đây đã mấy chục năm. Từ ngày mới có sở xe lửa Đông Pháp”. Ông ta hom hem lụ khụ, và theo lời ông nói thì mấy chục năm nay, ông chỉ cầm có một cái kìm bấm thang những tấm bìa vé. Tính ra đã có mấy trăm vạn triệu người phải chìa tay cho ông ta khám vé khi qua cửa vào ga. Ông vẫn ngồi đấy, thân hình đã đâm ra rễ cái rễ con gắn ông vào cái ghế để cho ông ngày lại ngày làm mãi cái việc rất bình thường là cầm một cái kìm thép. Cái kìm ấy, trước kia nước kền tắm mạ bóng và đẹp lắm. Bây giờ nó han rỉ hết sức bẩn thỉu. Cái mã xấu xí của nước kìm thật là đi đôi với nước da mặt người cầm nó. Nước da mặt ông ký ga già ấy xỉn cáu lại và trông hãm tài không biết thế nào mà nói cho hết được. Người không biết nghề nghiệp của ông ta sẽ bảo ông là một người nghiện thuốc phiện, da mặt bị ám khói dầu lạc và khói á phiện. Cái khói ấy, hỡi ôi! Chỉ là khói than tàu của hàng nửa đời người công chức chôn chặt nửa phần đầu tiên tuổi mình ở nhà ga để ngồi lịm tại đấy mà nhìn thiên hạ tháng ngày trẩy mãi như nước chảy theo dòng.
[1] Ngày đã hẹn ra đi.
[2] Ý lấy từ hai câu thơ cổ: “Nguyệt tương song lệ đề vi vũ – Minh nhật lưu quân bất xuất thành”.
[3] Tạm dịch: Thiếp như ngày tháng không để trôi qua vô vị… Chàng cũng như tuổi trẻ không quay trở lại… Xưa nay người trên lưng ngựa chả mấy ai về.
[4] Cùng bệnh nên thương nhau.
[5] Người yêu.
[6] Cha mẹ còn sống không thể đi xa.
[7] Khuân vác.
