favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

VI

VI

Chưa hồi nào Bạch thấy thích và thấy cần phải ra ga như dạo này. Mỗi ngày vào khoảng chiều hôm, được đứng ở bến ga Hà Nội, chứng kiến một con tàu tốc hành ở Nam Kỳ ra hoặc một con tàu cũng tốc hành đi vào Sài Gòng, Bạch thấy đỡ thèm thuồng ít nhiều trong lòng. Bạch - con người, lưu đãng không được toại ý nguyện, sống chỉ để được đi - hồi này cứ phải chôn chân mãi một chỗ, lấy làm đau khổ vô cùng. Nghĩ đến cái tuổi xưa xa, luôn luôn ĐƯỢC ĐI, mỗi có gió đã lên, Bạch thấy mình bây giờ đã hết là mình rồi và những ngày sống chỉ còn là những ngày rất dài và rất nhạt thôi.

Được ra ga đứng ngắm những người khác đi cứ túi bụi cả lên, Bạch lắm lúc quá say sưa về cảnh nhộn nhạo của những người khác lôi thôi lếch thếch, vội vã và ầm ĩ lúc tàu nổi một hiệu còi, Bạch lầm tưởng mình là một người cũng được lên đường. Ống khói con tàu thở một làn khói trắng, một vòng bánh đầu tiên nhẹ quay và lôi cuốn những vòng bánh khác nhào trên đường sắt; vậy rồi từ từ, những toa xe gỗ nối nhau mà trườn, tiếng động bằng sắt nghe rất quen thuộc. Sân ga ban nãy tối sầm vì sự im ả của một đoàn tàu đứng ỳ ra một chỗ, bây giờ đã sáng rõ lên. Nhìn theo đoàn tàu chạy đã có đà, chỗ quá đầu ghi, Bạch chỉ còn thấy ở toa cuối cùng đoàn xe mỗi lúc một xa ấy một miếng sắt tròn báo hiệu, sơn đỏ ngòm, cũng đỏ như màu lá cờ hiệu cắm ở cạnh toa chót. Cái con mắt đỏ không chớp ấy lùi xa mãi và càng lùi mờ, càng như van hờn nhắc Bạch thử nhớ lại những cái gì xem.

Bạch nhấp nháy luôn luôn mắt mình muốn ướt và nhìn theo cái bóng một con tàu húc vào sương chiều xa. Ngoài phía ghi, một tiếng còi đội hắt về. Trên cái đống đá tai mèo lót đường sắt, trên chỗ cũ của con tàu vừa đỗ có những bãi quết trầu còn tươi thẫm và những mẩu thuốc còn cháy dở. Những lữ khách gửi lời chào một cái bến trên cạn và đánh dấu chỗ vừa đi qua của mình như thế đấy. Trời chiều ở bến ga không có gió. Mà giờ khởi hành một đoàn xe đã bốc hút cao khỏi mặt đất những mẩu giấy bóng xanh đỏ, những vuông lá chuối khô nhàu. Trong khoảnh khắc, giấy bóng và lá chuối khô hướng theo đoàn xe tốc hành mà chạy trên đá, quần quại và nghiêng ngửa như những cánh con diều lộn lèo và đâm ra vơ vẩn bị đứt dây trên khoảng không đã đứng gió. Gió khởi hành yếu ớt đã bỏ rớt lại những vật mỏng manh cũng muốn những chuyện được bay theo và được lôi cuốn đi.

Bạch cảm thấy mình là những vật vụn vặt kia đang bị bỏ sót lại.

Tàu đã đi khỏi Hà Nội tất cả rồi. Người ta đã lấy chiếc đinh ba sửa đổi lại cái bảng có đính những miếng sắt sơn đỏ báo giờ tàu tới tàu đi theo thứ tự chỗ đỗ từng đoàn xe. Tàu Hải Phòng về, bến thứ tư 18 giờ 11. Tàu đêm đi Lào Cai, bến số một, 20 giờ 49. Chuyến cuối cùng ở Na Sầm về, 20 giờ 30. Chuyến tàu thường ở Vinh ra, bến số bốn, đúng 20 giờ. Sân ga lúc này vắng quá. Phía đàng kia, là một màu xám tàn nhẫn của lũ toa hàng hóa. Màu xám ấy nhắc đến cái màu tro bụi và khói của một cái bến cảng, của một thành phố kỹ nghệ.

Bạch nhìn theo hút một ông sếp ga. Trông ông ta trơ trên quá. Không có tàu đi tàu về, ông sếp ga đã mất cả lẽ sống của mình tại chỗ lữ đình này và nhắc Bạch nghĩ đến những cảnh huống “điểu tận cung tàn”[1].

Không hiểu tại sao, mãi đến hôm nay Bạch mới để ý đến cái ga Hà Nội. Đã từng đi ra ngoài nhiều, đã từng ăn cơm thép[2] của thiên hạ. Bạch không thể đem so sánh những cái gì của xứ sở với tất cả những cái gì ở ngoài phần hương[3]. Cái nhà ga, cứ kể ra cũng không đến nỗi tủn mủn quá. Cái cửa chính xây bằng đá cuộn tò vò như cửa thành khải hoàn, có cột đá, có bệ cấp đá, trông cũng bề thế chứ. Nhưng ngắm lại đến sự vận tải, và những cách chở khách ở trước ga... trang sức cho một khu trước mặt ga, độ mười lăm cái xe xích lô, vài mươi xe cao su vừa lùn vừa cao. Không có bóng dáng một chiếc tắc xi nào. Và nếu có được dăm bảy cái xe hơi nhà nào đỗ đấy thì toàn là thứ xe con hơn mười mã lực và ăn dầu xăng có tốn lắm cũng đến mươi lăm lít là cùng. Cảnh tượng rất hoạt động tại một cái bến cạn rất lớn của một thủ phủ đấy. Thà đừng có ra ngoài nữa cho nó đành yên vui với cái phận hẹp nhỏ của mình. Cái tinh thần của sự so sánh, và biết so sánh, đến hay đem sự đầu độc vào ý nghĩ con người ta. Bạch đã hết sức nói xấu quê hương với cái ông bạn Nam Kỳ mà bốn năm hôm nay, ngày nào cứ đúng vào giờ có tàu tốc hành vào Nam là Bạch cũng gặp ông ta lăng xăng ở sân ga để lúc tàu chạy rồi thì ông cũng quá thẫn thờ như Bạch. Một bệnh nhân của du lịch? Một người đau khổ của xê dịch chăng? Bạch trộm bắt gặp ông ta nhiều hôm ở ga ra, thế nào cũng rẽ sang phòng Bưu Chính bên cạnh.

Năm sáu hôm liền, nhìn nhau mãi bằng rất nhiều thiện cảm, hôm nay Bạch đã làm quen với ông ta và lúc tàu Nam Kỳ chạy rồi, Bạch và ông ta cùng song song ra về.

Lúc đứng ở cửa ga phàn nàn về sự hoang vắng của bến Hà Nội. Bạch đã lấy ông bạn Nam Kỳ đó làm người làm chứng cho lời nói của mình. Vậy mà ông ta còn cho Hà Nội dẫu sao cũng còn khéo và ngộ lắm. Ông bảo Bạch:

- Ông đã vô Nam Kỳ rồi chớ? Cái ga Sài Gòn còn xấu thua cái ga Hà Nội nhiều. Ga Sài Gòn nhỏ thí thi như cái ga xép Thường Tín, Văn Điển gì đó thôi mà.

Cái ông bạn Nam Kỳ mà bây giờ Bạch rõ tên là thầy Ba Bạc Liêu, đã cười một cách ốm yếu chấm dấu cho câu chế nhạo.

Bạch mời thầy Ba Bạc Liêu vào một băng thất[4] trước cửa ga uống bia và nói chuyện.

- Trước ba má tui cũng cho tui qua Tây ăn học, trong bốn năm cho tất cả độ mươi chục ngàn bạc, cả tiền ăn xài cả tiền học. Rủi gặp hồi kinh tế khủng hoảng, ba má tui mần công chuyện bị thua lỗ nhiều quá tui phải bỏ học mà về. Về nước, nhớ Paris quá đỗi ông nè. Nếu có dịp là tui lại xách va ly qua bển liền. Ở ngoài Hà Nội này, những lúc nhớ nhà, tui thường hay ra ga, ngày nào mà tui lại không có một người đồng hương đồng quán lên tàu. Được xem họ đi vào, mình nó cũng vơi vợi trong lòng. Thực ra, tui có định đi đón ai và tiễn ai đâu.

Thôi, đúng quá rồi. Cái thày Ba Bạc Liêu này cũng là một người thèm đi. Bạch thấy mình đoán trúng, tự thưởng thêm cho mình một cốc rượu bia nữa.

Và sau khi vào xem những kiểu hòm hành lý đi tàu biển có bọc giỏ mây đan ở một hiệu làm va ly phố Hàng Hòm, hai người chia tay nhau rất niềm nở như là một đôi bạn xưa cũ được trùng phùng.

Hai người từ giã nhau, không quyến luyến, không ghẻ lạnh, Bạch cũng không hỏi người bạn Nam Kỳ hiện giờ ở đâu và thày Ba Bạc Liêu cũng có cái nhã độ không dò la đả động tới việc xin địa chỉ của Bạch. Chỉ có những người đại lữ khách mới tập nhiễm được cái thói quen không hỏi địa chỉ của nhau mỗi khi được sự tình cờ cho gặp gỡ giây phút. Người giang hồ phiêu bạt mà lại có địa chỉ sẵn sàng thì còn gì buồn cười bằng nếu người ấy không hẳn là đã chịu yên phận, cắm neo ở mãi một bên bờ nào. Đến ngày hôm nay họ không còn biết rõ chỗ ở của họ, huống hồ lại còn đòi hỏi để biết cái chỗ nằm ngồi của họ ngày mai ngày mốt. Hỡi ơi, mặt đất nếu quả không là quá rộng thì còn đi mãi, người ta còn có ngày được gặp nhau. Trái đất nó vốn tròn. Nếu phải là duyên và những đại lữ khách nếu chưa thấy đời giang hồ là mệt mỏi, thì sự tình cờ vẫn còn dành nhiều hậu hội trùng phùng. Cơ hội trùng phùng ấy là một cái lữ điếm ở phụ đầu[5], là một sân ga có hai đoàn tàu tránh nhau, là một cái lưng đèo độc đạo, là một cái bến sang ngang và đi về chỉ có mỗi một con đò gỗ nát ấy thôi, lúc gặp nhau khoảnh khắc, không mấy khi hai bên có đủ giấy mực để đưa một bức thơ đề. Chủ khách chỉ kịp chào nhau bằng một tiếng nhạn trong sương triêu mộ[6].

Bạch nhớ lại cái lần ấy ở Nam Mỹ vượt Đại Tây Dương về thương khẩu căn cứ Le Havre, lúc rời tàu “L'lle de France” đổ bộ vào phố Bến, chàng thành tâm đi tìm người bạn hàng hải cũ tên là... là cái gì nhỉ? Bạch tìm mãi. Phải... Anh Thôi quê ở vùng An Dương, Hải Phòng. Có đến bốn năm không gặp Thôi. Lắm lần tàu của Bạch và tàu của Thôi thường cùng cặp một bến chênh nhau chỉ một đôi ngày.

... Kỷ niệm xa nhoè đã dần dần có đường viền và rõ mãi lên. Ừ, hồi ấy cu Thôi nó ở một cái phòng khách sạn trung lưu đầu phố Marinière gì ấy, và lúc chàng vội vã leo lên được cái cầu thang tay vịn nhờn mồ hôi dẫn lên tầng gác thứ ba ấy thì cụng đầu rất mạnh vào bọn đồ đạc của một người đang hấp tấp mang xuống. Hai người xin lỗi nhau.

- Kìa, Thôi!

- Bạch đấy à? May quá!

- Hình như mày lại đi đấy phải không?

- Ừ. Sao mày lại ngạc nhiên? Mày làm như tao giang hồ lần này mới là chuyến đi đầu tiên ấy. Muốn sống cất ngay cái vẻ mặt yếu ớt của những kẻ đam mê gia đình đi.

- Còn được bao nhiêu thời giờ?

- Đủ để uống một cốc whisky.

Thế là Bạch đã cầm đỡ cho Thôi một cái va ly nhỡ bỏ được hai bộ quần áo len mỏng và hai người ba chân bốn cẳng sang cái quán cà phê đầu ven phố.

Cầm cốc, vừa nhìn đồng hồ tay, Thôi vừa nói vào khoảng những tợp rượu mạnh bạo:

- Đúng 17 giờ 10, tàu tao nhổ neo đi Bordeaux và Alger qua Gibraltar. Giờ đã năm giờ kém mười. Đúng năm giờ phải có mặt cho họ điểm. Thằng “gậy” ở chiếc Gascogne này, nghiêm khắc lắm. Thôi tao đi nhá!

Một chiếc tắc xi xịt khói. Một cái bàn tay vẫy trong mù phố bến. Và hai năm biệt tăm tích. Không một chiếc các-bốt-tan. Bạch thường nhớ tới Thôi nhất vào lúc tàu chàng đi trong mù bể, nổi còi khàn khàn tránh những chiếc khác đi nghịch đường với mình.

Một lần ấy, chiếc tàu Nhật Kiku Maru ăn hàng ở Marseille. Trước ngày nghỉ cuối cùng, có người bảo Bạch rằng Thôi hiện ở Paris và muốn hỏi gì cứ tìm đến hội quán Ái Hữu Đông Dương thì thấy. Bạch không đem theo một tí hành lý gì, vội nhảy bổ lên Paris.

Cái bác Khương già ấy là bạn đỡ đầu của cả hai người đã khôi hài với Bạch:

- Các chú độ này làm ăn mát mặt có khác. Khá thực. Một thằng làm tàu Nhật Bản, tha hồ mà sạch sẽ và khối bổng. Một thằng làm bồi pha rượu trên tàu bay. Bay cũng ăn tiền, nghỉ cũng ăn tiền.

- Anh Thôi giờ làm cho hãng tàu bay? Chạy đường nào?

- Paris - Londres. Nó cũng biết tin tàu Kiku Maru của chú bỏ neo ở dưới ấy, nó cũng vừa ra chuyến P.L.M. xuôi Marseille tìm chú đấy.

- Vậy ra tụi tôi đã gặp nhau giữa đường mà không hay!

- Các chú giàu tiền có khác. Mỗi thằng bỏ ra hàng mấy trăm quan để nhìn mặt nhau một tí! Các chú còn nhiều tình cảm lắm. Những tiền ấy, tưởng để mà chu cấp cho những anh em làm tàu bên mình qua đây quê người đất khách, lúc bị thải lên bộ, thì hơn.

Bạch từ Paris trở về tàu Kiku Maru, hụt gặp lại Thôi, lòng buồn rười rượi. Vô duyên quá! Hai lần tìm bạn để định nói một việc tâm sự, thì một lần có gặp cũng như không chỉ có mấy phút, vừa kịp nốc vài tợp rượu và một lần nữa thì hai người cùng vật nhau trong cái tối tăm vô danh rất chớp nhoáng của một đêm tàu tốc hành P.L.M.. một người xuôi, một người ngược.

Tàu Kiku Maru đã đi được mười hải lý tiến thẳng sang các xứ Cận Đông theo cái hải trình thương mại của nó. Cái gác chuông nhà thờ Notre Dame de Marseille đã mờ trong sương chiều thả nhanh xuống mặt biển. Bạch nhìn sóng khơi, lòng chao chát nỗi vô tận của lòng trên cái cùng tận của bể. Và lúc thấy đầu được nhẹ nhõm vì sự thanh đạm của một bữa cơm Nhật Bản hoàn toàn, Bạch nhận rõ thấy nỗi cô quạnh có tính chất nghiệp dĩ trong đời những anh khách đi trên mặt nước hoặc sống trên mặt nước, định lấy cái bể rộng làm người ý trung nhân muôn năm của mình. “Tôi sẽ cạn chén rượu tân hôn của tôi với biển lớn”, Bạch nhớ đến lời nguyền của người đánh cá xứ Ái Nhĩ Lan mà thêm buồn buồn. Lòng chàng rỉ rầu mênh mông và lại thương cảm một cách quá văn hoa nữa.

Hôm sau, viên cẩm tàu đưa cho Bạch ký nhận một bức vô tuyến điện của Thôi đánh từ chỗ trường bay Croydon.

“Bạch - Thợ giặt trên S/S Kiku Maru, đường Mạc Xây - Cận Đông”.

“Lúc này lòng tôi vui sướng quá độ. Được cá ngựa to ở Luân Đôn. Đã vận động được một chân thuỷ thủ đường Cực Đông đi lối châu Mỹ, như vẫn thường ngỏ lời với anh. Gởi một lời chào mạnh giỏi. Thôi”.

Bạch lẩm bẩm:

- Thế này thì qua Đại Tây Dương, qua vận hà[7] Panama, vào Thái Bình Dương, ghé Cựu Kim Sơn, sang Nhật. Mình chưa đi cái con đường ấy bao giờ.

 

[1] Hết chim thì vứt cung.

[2] Thép: nhân tện thêm vào (từ cổ).

[3] Quê hương.

[4] Phòng lạnh.

[5] Bến tàu, chỉ thuyền buôn bốc xếp hàng.

[6] Buổi chiều, ngược với triêu dương là buổi sáng.

[7] Kênh đào.

Thêm vào giỏ hàng thành công