favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

V

V

Bạch cả đêm không ngủ. Cái điếu thuốc lào cần trúc kêu vang mấy lần. Trống huyện điểm canh hai, rồi canh ba. Đầu trống tư, người lính lệ già quen đi qua thấy còn đèn sáng và cửa khép, ló đầu vào:

- Ông không đi nghỉ? Ông dùng trà tàu, xin cứ truyền để con đi đun. Đêm về cữ này đã bắt đầu dài đấy ông ạ.

Bạch lắc đầu và cám ơn. Chàng nhìn theo ngươi lính lệ có tuổi hầu cận ông huyện, và nghĩ lấy làm tội cho những cuộc đời cam chịu và yên vui với cái phận nhỏ bé. Cứ lời ông huyện, thì người lệ già này ngày xưa đã hầu cụ cố đẻ ra quan huyện, Từ ngày xuất chính, nghĩa là mười mấy năm nay, tên thập trưởng đó theo quan huyện qua hết mấy tỉnh vùng Trung Kỳ, đến mỗi cái huyện mới quan y tới nhậm thì tóc y lại trắng thêm mấy sợi. Rồi cuộc sống cứ làm cho ngươi ta quen mãi với cái mẫu đời ti tiểu của người ta.

Và tóc liên  tiếp bạc mãi. Nghĩ chuyện người, nghĩ chuyện mình, bất giác xòe tay ra ngắm chơi, Bạch nhìn chiếc nhẫn đeo ở ngón tay giữa và thêm bực mình. Đeo nhẫn. Thói quen. Thói quen lại nhắc Bạch phải nhớ đến vật cũ, việc cũ. Kỷ niệm, ôi chao! Bạch là người thèm cuộc sống không có dấu vết sót lại, không bị trách nhiệm vướng víu, không bị bổn phận kéo lùi mình về những chốn vừa rời bỏ, được rời bỏ. Đối với Bạch, Bạch nhận thấy đời là một cái chốn mà người ta miễn cưỡng phải ở. Chàng nhất định lãng phí hết cả thời giờ hiện tại của mình để đi tìm một cái gì có thể làm định thức cho một cuộc sống khác. Nhiều buổi chiều cô quạnh, từ ngày về nước, sống trên cạn, Bạch ngửa mặt lên trời, nhìn vờn khói tẩu thuốc lá, chàng lại muốn bỏ hết, bỏ lại ở đây hết để đăng ngay làm bồi tàu một khóa nữa. Lại mây, lại nước, lại làm người khách lạ của bốn bể. Cuốn sổ “Livret maritime”[1] của Bạch còn nhiều trang giấy trắng quá. Chàng muốn một vài ông thuyền trưởng nữa đóng cộp vài con dấu nữa vào đây.

Bờ biển Hắc Hải, vẫn còn nhiều thiếu phụ Thổ Nhĩ Kỳ bí mật.

Mây trời Ý Đại Lợi là những tấm xà cừ vĩ đại chưa nhạt vẻ đẹp rọi sáng của một vùng duyên hải.

Ở các giang khẩu xứ Nam Mỹ mỗi lúc tàu bể bỏ nước mặn, đi vào nước hai, rồi vào nước ngọt, những bộ lạc Mọi đốt lửa, nhảy múa, bắn tên lửa lên nền trời chiêu dương[2] vẫn cứ tỏ lời mừng các thủy thủ.

Và Thượng Hải...

Và Hoành Tân... Bạch nôn nao trong người. Chàng nghĩ đến một người đàn bà Tàu xứ bắc, thổ âm lơ lớ như tiếng nói người Anh, đã làm quà cho chàng một con chim vành khuyên mỏ hồng, một lần tàu chàng ăn hàng ở đấy những bảy ngày. Con chim ái tình ấy chàng đã cố ý đánh sổng ngay, lúc vừa từ giã nàng.

Bạch lại nhớ đến một cô geisha in hình vào nền núi Phú Sĩ buổi chiều và vẫy tay tiễn người rời khỏi bến. Những người này, nếu Bạch lại giang hồ một chuyến nữa, thì khỏi sao mà không gặp lại, nếu chàng muốn gặp. Nhưng chàng sợ nhất là thói quen, là những cái gì đã trở nên cũ. Một người cố nhân. Một cái vết xe. Một cái bến trùng phùng. Ngại lắm.

Bạch muốn đi một chuyến nữa, trên một con đường khác bằng một hành trình mới. Nhìn khói thuốc, Bạch tự hỏi: “Tìm lấy một cái cớ chắc chắn để thoát ly, có người chọn các môn thể thao, hoặc thuốc phiện, hoặc ái tình - ái tình viết chữ hoa - hoặc những việc từ thiện trong xã hội. Có người chọn rượu, có người chọn cái quên trong phụng sự âm nhạc, hội họa, văn chương. Ta sẽ dựa vào cái cớ nào để sống cho đỡ nhạt nhẽo?” Thế là Bạch đã tự nguyện làm người lữ khách của mãi mãi, được đi chàng thấy vui, phải dừng nghỉ, chàng thấy nhớ nhung và thèm thuồng.

Bạch mở màn nhìn Hồ ngủ say quá, chân tay co quắp như người bị thiêu. Hồ có cả dáng nằm co lối cò súng và ngủ như một tên lính trong toán bại binh được nằm lăn trên ổ rơm một vùng quê tàn phá, không kể gì đến thành trì đã mất, không nghĩ gì đến cái mạng của mình là trọng, Bạch ngắm kỹ mặt Hồ: Eo ôi! Xấu quá. Đã hay rằng những lúc ăn ngủ, những lúc thằng người phải làm việc cần dùng của động vật để thỏa mãn những cần thiết trong thú tính, thằng người có những nét, những dáng xấu quá. Nhưng lúc ngủ này ở dọc đường trường, Hồ đã đi quá cái xấu. Ngủ như thế kia thì cháy khách sạn, cháy tàu thủy, hoặc đắm đò dọc cũng không biết được. Bạch thí dụ Hồ có ngày phải đi qua xứ lạnh có tuyết, có chó sói. Y sẽ coi thường cái thân của y để đêm rét ấy ăn cho thực nhiều, uống cho thực nhiều, lăn ễnh ra ngủ một giấc nặng như chì, để đêm ấy có kẻ lục lâm vào giết y, hoặc cướp mất cái khăn gói và chiếc gậy lên đường. Thật là một giấc ngủ của một kẻ bình dị, của một người thợ cày, của một người không có một cuộc đời tiềm tàng. Thử có một chút thắc mắc trong lòng xem Hồ có còn ngủ một cách nặng nề yên ổn như thế nữa không. Ra cái thằng cha này, đi để chẳng thấy cái gì cả. Có đi qua lại con đường cũ đến mấy trăm lần rồi hắn sẽ cũng trơ ra như thế thôi. Cả đêm nay của hắn ở một huyện gần Mường cũng chỉ là một giấc ngủ ngon. Về nhà mà ngủ có yên hơn không!

Hồ đã vươn vai, ngáp thông mấy cái, hỏi Bạch:

- Mấy giờ rồi anh?

- Mỗi đêm anh ngủ mấy giờ?

- Phải mười giờ là ít.

- Thế thì tính lấy, khắc biết. Hôm qua, ăn cơm xong, anh đi ngủ ngay. Lúc ấy chừng gần mười giờ. Cộng lại với giấc ngủ phải đủ mười giờ của anh thì rõ thời khắc hiện tại ngay.

Hồ biết bạn đùa nói lảng:

- Tôi ngủ ghê quá. Thế đêm qua anh thức cả đêm à? Các anh tài thực.

- Anh ngủ say, sao anh biết tôi thức. Tôi nhớ anh không đi tiểu một lần nào cả.

- A, biết chứ lại. Những mẩu đầu thuốc vứt đầy nền nhà kia kìa. Rác bã mía. Anh trông có giống như thế không? Tính anh bừa bộn quá. Có đĩa gạt tàn thuốc, sao anh không dùng?

Hồ không dám nói tiếp nữa về việc vứt mẩu thuốc. Trên mặt bàn, cái đĩa gạt tàn thuốc đã đầy tú hụ một đống tro xám có ngọn. Thảo nào!

Hồ mặc quần áo:

- Tôi phải đi ra ngoài mới được. Anh cho tôi một điếu thuốc.

- Hết rồi.

- Anh hút dữ quá. Hết cả thuốc giắt trong người, hết luôn cả bao thuốc nhà quan.

- Hút đỡ thuốc này. Tí nữa ra phố huyện sẽ mua.

Bạch đưa cho Hồ cái tẩu thuốc và cái dạ cá thuốc chứa cuốn của mình. Hồ lắc đầu từ chối cả bằng cử chỉ, cả bằng lời:

- Chịu thôi. Chối lắm, không quen.

- Thôi, để tôi cùng đi luôn với anh ra ngoài phố huyện mua thuốc và đi chơi luôn thể. Nhưng mà anh phải ăn mặc cho tử tế, đi giày vào. Mình nên giữ giá cho chủ nhân. Chẳng gì cũng tiếng là khách nhà một ông quan.

Bạch và Hồ đi qua một cái sân cát huyện, mưa đêm đã làm nén dẹt hẳn xuống. Cái vết bánh xe ô tô in hình chân rết cao su xuống đường lồi lõm như trổ vào cát. Người tài xế đang thử máy trong nhà xe, thổi mấy cái ống bu-gi sứ trắng. Trong cảnh sương sớm nơi huyện Mường, chỉ có tiếng máy rú, đợt ngắn đợt dài. Cây ngoài phố huyện gieo giọt sương lộp độp.

Những giọt sương sớm đậu trên búi cỏ trông lóng lánh như thủy ngân nhoè trên tấm mạng nhện mà chỉ tơ giăng làm bằng nước hạt móc sa. Hồ hút thuốc lá ngắm những mạng nhện sương trên làn cỏ. Chỉ có mùi cỏ, mùi đất và hoa đất của loài giun dế. Xa xa một vài điểm chàm. Người nông phu xứ Mường. Cảnh lành và khí trời cũng lành. Đây mới là địa đầu quê Mường. Muốn được thở sơn lam chướng khí cho thật thích thì phải đi sâu vào nữa kia.

Lúc Hồ và Bạch trở về thì cửa công đường huyện vẫn kín bưng. Cái huyện đường một ngày chủ nhật khóa ấn không có dân sự đến kêu nài, giống hệt một cái sân ga lúc không có tàu tới, tàu đi, tàu tránh nhau. Bạch lại sực nhớ đến những ngày lang thang của mình ở những vùng quê được khai thác, có ánh sáng văn minh rọi đến, có đường cái quan giải đá, có cột dây thép, có đường xe lửa viền theo mép quan lộ. Một cái nhà trạm chỉ phát thư và bán tem. Một cái nhà ga xép. Một ngọn đèn xanh. Một tiếng còi đồng. Một lá cờ đỏ. Những hơi khói than đá.

Một cái li rượu.

Và viễn cảnh những sợi dây kim khí điện tín và viễn ảnh con đường sắt song song rồi nối nhau ở chỗ cùng tận của nhỡn tuyến. Cái tứ một bài thơ giang hồ của thế kỷ này.

Quan huyện vẫn còn giấc. Lính thưa rằng quan hắn vốn hay dậy sớm, nhưng đêm qua phải đi tuần với ba tay lính cơ, hai giờ sáng mới về ngủ. Hồ và Bạch uống tuần nước trà không hương vị.

- Lúc này lại muốn có ngay một cái hiệu Đông Hưng Viên[3] - lúc hiệu chưa mạ kền sửa chữa lại, chưa đổi mới theo thời thượng, còn cổ kính kia - ở đây. Chỉ ở Hà Nội là sướng.

Bạch tiếp vào câu ước của Hồ:

- Được trà này mà uống còn là khá đấy. Có những chỗ, người dân nghèo lắm; nhiều ông quan nghe tin sắp phải đến lỵ ở đấy, cố vận động để xin đi hạt khác - hoặc không được thì đành lẽ ở lại Bộ, chờ khuyết chỗ khác. Có những hạt, ông quan đi hành hạt hằng sáu, bảy tổng, không làm thế nào mà bói ra được lấy ra một dúm trà Tàu. Như vùng Can Lộc và Cẩm Khê ở Hà Tĩnh chẳng hạn, như vùng Gio Linh tỉnh Quảng Trị chẳng hạn. Cá khô cơm đỏ. Và lòng dân lại khó nạt. Thế mà ông huyện đây ở mãi được ở đấy. Những người như thế, còn lâu mới nhiễm được mùi phú quý.

Hồ ngắt:

- Thế mấy giờ mới đi Hồi Xuân?

- Thì phải đợi người ta dậy đã.

- Tôi sốt ruột, muốn được đi ngay.

- Không cần chào chủ nhân? Anh chướng quá. Lúc đêm qua, xe đang có đà đi xa, anh kêu mưa rét đòi nghỉ. Ăn no rồi ngủ. Bây giờ lại kêu sốt ruột. Việc nhà chăng? Chán rồi à?

- Tưởng hôm qua có ở Hồi Xuân rồi thì hôm nay đã về tới Hà Nội. Xe mượn của người ta. cũng phải có chừng độ.

- Anh có nhớ rằng lúc anh bảo đi mượn xe, tôi đã ngăn anh để tránh trước cho anh một sự cằn nhằn của bây giờ? Đi chơi xa, phải rộng rãi thời khắc, rộng rãi tấm lòng. Và không phải tính đến ngày về thì mới là thỏa. Thế nào gọi là lãng du? Lên miền rừng để tìm những cảnh không chờ đợi mà anh muốn định trước một cái thời khắc biểu thì anh bất cận sự vật quá. Thôi được, chút nữa ta chào quan huyện rồi trở về Hà Nội. Tưởng anh muốn xem mấy cái châu đất Mường thì tôi đưa anh lên, chứ muốn đòi về thì có khó gì!

Ngoài sân huyện, ban nãy chỉ có một người lính già quét lá rừng. Bây giờ đến ba bốn tên chạy ra chạy vào. Dưới trại giam, thày lệ mục cũng đã có mặt. Quan giấc đã dậy.

Hồ chưa biết nên đi thấu lên tới Hồi Xuân đã, hay là quay luôn về Hà Nội, đành bỏ dở đoạn đường rừng có đèo, có dốc, có đường chữ chi. Chàng hãy biết xếp quần áo ngủ vào va ly đã. Chàng chạy loăng quăng bên cái khăn mặt ướt. Bạch chưa chịu rửa mặt cho để chàng được bỏ khăn ấy vào túi cao su cho nó gọn. Hồ biết lúc này Bạch đang nghĩ xa xôi, có giục đi rửa mặt thì anh cáu. Dẫu sao, Hồ vẫn kiêng nể Bạch. Nhưng mà ờ, người đâu mà kềnh càng quá. Bắt chước thế nào được anh ấy. Cứ theo được anh ấy thì suốt đời là chỉ có du lịch, du lịch ngắn, du lịch dài. Chỗ nào cũng mò tới. Lắm lúc ăn mặc thực sang, lắm lúc như con mẹ ngộ[4]. Đang vui bỗng buồn. Có lúc nằm mà thức cả đêm tuy rằng mắt có nhắm. Có lúc mở mắt mà ngủ đứng, ăn uống thì không ra bữa. Đến cái ngủ thì thật càng là không chịu nổi. Lắm buổi chỉ ngủ mười lăm phút. Có giấc ngủ li bì một đêm không đủ lại lân sang cả ngày hôm sau, trời đã vàng mặt, đánh thức dậy thì gắt và ngủ vật vã thêm một nửa đêm nữa. Thế rồi dậy là đọc, viết, đi đi lại lại, nói to nói nhỏ. Ai mà hiểu được. Hồ đã tự hỏi nhiều lần: “Đáng lẽ những thứ người siêu nhân này là không nên có gia đình. Vợ con, anh em nào mà gần được? Đi không ai hay, về không ai biết. Cơm chờ canh đợi, vợ con Bạch khổ lắm đấy. Mà không biết hắn cứ đi hoài như thế để làm gì? Khó hiểu quá”.

Bước vào phòng, quan huyện rất lấy làm ngạc nhiên:

- Ủa, đi mô mà đã thu dẹp cả đồ đạc như vậy?

Hồ vừa bỏ thõng nắp va ly khép xuống, vừa quay cổ lại:

- Dạ, chúng tôi định đi từ sớm. Quan lớn còn giấc, nên anh em có ý chờ để gửi một lời chào.

Bạch đi gần lại ông huyện:

- Chúng tôi xin phép trở về Hà Nội. Bạn tôi, hôm nay hơi khó ở. Và cũng có ý sốt ruột về chút việc dở đang ở ngoài ấy không yên tâm mà lên Hồi Xuân như đã định. Thành thử cuộc đi chơi chuyến này phải bỏ dở.

- Tui nói câu này là thiệt tình: các ông phải ăn bữa ăn sớm với tui đã. Rồi các ông đi đâu thì cái đó tuỳ, tui không dám biết.

- Quan huyện nên cho phép để anh em về sớm.

- Mô có được! Nói bậy nào! Tui đã biểu làm cơm rồi kia mà. Hôm nào chủ nhật tui cũng ăn cơm sớm hơn mọi ngày.

- Dạ, xin để cho khi khác. Hậu hội còn nhiều.

- Nè, tui sắp giận hai ông đó. Hôm nay, rỗi việc dân, tui định vừa ăn vừa nói chuyện nhiều với các ông. Túi qua, đã nói chuyện chi mô. Vậy các ông định bỏ tui mà đi, sao đành? Mấy khi đã có dịp gặp nhau được

Bạch và Hồ nhìn nhau, do dự, yên lặng. Cứ nằng nặc đòi đi cho được. Hay là nhận một bữa cơm thết nữa thì đã làm sao? Hồ chỉ cần có mặt tại Hà Nội tối nay mà thôi. Hồ lấy mắt hỏi Bạch. Bạch đang nhìn vào khoảng trống rỗng.

Quan huyện đã gọi thống[5] một hồi. “Thằng” Cửu, “thằng” Thập dạ ran và chạy sầm sầm. Chưa có cái gì nhanh một cách kệch cỡm hơn được cái tiếng của lính lệ dạ dịp. Người ta dạ một cách bâng quơ và chạy như ma đuổi.

- Thằng Cửu đó à? Chú xuống nói với bà cho ăn sớm hơn mọi chủ nhật nghe. Còn Thập mô, con ra ngoài phố huyện bảo ông Ký Rượu, ông Tham Kiểm Lâm và cụ Đề chút vô hầu tổ tôm nghe...

Bạch muốn cười. À, thế ra lại đánh tổ tôm. Hồi thứ nhất của buổi sớm nay tại huyện là một bữa cơm và hồi thứ nhì là một chiếu bạc. Chàng hiểu những cuộc họp tổ tôm này là ngụ ý gì rồi. Từ khi làm bạn thanh khí[6] với ông huyện, đi lại thăm nhau ở huyện lỵ đến mươi lượt, thì có đến năm sáu lần Bạch cầm bài ở một bàn tổ tôm tại tư thất mà ông huyện cố tình tổ chức. Ông huyện biết Bạch là một người không lấy gì làm thừa thãi về đồng tiền. Vả ví có giàu có ức triệu chăng nữa thì người ấy có bao giờ cầm tiền cho được nóng tay. Bạch sai đồng tiền cũng như Bạch khiến cuộc đời chàng. Chỉ cổ tiêu. Chàng tiêu tiền, tiêu thời giờ, chàng tiêu cuộc đời chàng. Chàng đem cả ngày tháng của mình ra mà đánh bạc và sống như một người ngồi chờ một cái gì rất quan trọng nhưng mãi chưa xẩy đến.

Mỗi lần cuộc lãng du đưa Bạch tới hạt mình nhậm, ông huyện lại tiếp đãi Bạch theo cái lễ nghi mộc mạc nhưng chân thành, đơn giản nhưng mà chan chứa thân tình, thế rồi cái ông huyện không ưa cờ bạc ấy lại bày ra đánh tổ tôm. Mỗi lần đến để rồi đi, Bạch lại mỉm cười hầu bài ông huyện. Bạch không lấy làm ngạc nhiên khi thấy cả chiếu bạc đánh những cây bài dễ ăn, và không có ý lấy sự được ù một tí nào. Ra cái ông huyện cũ kỹ ấy lại tỉnh quái đến thế. Ông muốn tặng Bạch tiền lộ phí một cách kín đáo quá. Thường mỗi khi đánh, ông huyện gom tiền cho ông và gom luôn cả suất của Bạch nữa. Thế rồi hễ trắng chân thì không kể nếu được đồng nào, Bạch được ông huyện nài nên giữ lấy. Đó là cái lộc của ông, ông nên giữ lấy làm duyên với cái dân tình ở đây, ông huyện xuề xòa nói thế. Ông huyện mến Bạch lắm và không hiểu Bạch chơi với ông ta từ bao giờ, mà ông huyện thường lấy làm phàn nàn rằng uổng cho mình không giàu có đủ tiền bạc để cho Bạch tiêu. Cái người có hai con mắt lạnh lẽo ấy, hẳn có một ngày làm được một cái gì to lớn, hẳn có một ngày không chịu đi nữa, ngừng bước đứng sững lại trong xứ sở để làm một cái gì xứng đáng cho quê hương đang cần một chương trình kiến thiết dài hạn.

Ông huyện than tiếc luôn cho Bạch: "Người thông minh như thế, tài hoa như thế, răng[7] lại không chịu làm một việc chi? Chỉ thấy ông ta du lịch hoài. Cái lối đi chơi không có kỳ hạn và không biết chán mỏi ấy đã để nhiều thiệt thòi riêng cho đời ông ta và luôn cả cho cuộc sống chung của chung quanh nữa.

Lính lại dọn bàn ăn. Hôm nay ăn trên nhà riêng, chứ không ăn nơi phòng khách này. Lại có cả bà huyện cũng ngồi ăn. Ông huyện cắt nghĩa với Hồ:

- Xin phép hai ông để nhà tui cùng ra hầu cơm cho vui nhà. Ông Bạch đây thì nhà tui đã được biết từ lâu.

Bà huyện đã ra, đi đứng tự nhiên, y như chồng. Một cuộc thi lễ. Không có lời giới thiệu mà Hồ cũng đã rõ đấy là bà huyện và bà huyện thì cũng đã biết cái ông bạn mới của quan nhà bà đây là ông Hồ, một người của Hà Nội - Hà Nội, nơi mà bà cho là người nào cũng lịch thiệp và phần nhiều là kỳ quái cả. Bà chắp tay chào Bạch:

- Ông vô chơi. Bữa qua tui bận bổ ít cau tươi, phơi kịp để tháng mười này cụ cố nhà tui dùng có việc ở nhà quê Quảng, thành ra không lên hầu cơm hai ông được. Dạ xin mời hai ông ngồi.

Quan huyện chỉ mấy đĩa thịt vịt, niềm nở:

- Vịt Mường đó. Béo lắm. Dân hắn vừa mới đi cửa sau mang vô lễ. Đến hai tháng ni, mới lại thấy Mường mang đồ chín vô lễ. Mấy ông có duyên quá. Giá các ông có chịu khó mà đi làm quan, thì cũng tốt lộc lắm đa!

Vợ chồng ông huyện cười. Chú Cửu đứng hầu cơm cũng quay mặt vào tường cười theo. Hồ và Bạch cũng quên cả những phút nặng nề của lúc mới ngủ dậy và cười nói nhiều hơn.

Bữa cơm nay, không có một chút mắm Huế nào. Hồ cám ơn thầm vợ chồng ông huyện đã thể đến cái tính khảnh ăn của một người Bắc. Riêng Bạch thì chàng lấy làm phiền quá. Còn gì phiền cho người khác bằng lúc người ta buộc phải săn sóc đến miếng ăn của mình. Những lúc ở nhà, vào nhưng ngày xám trời, mẹ Bạch và vợ Bạch thường hay hỏi ý kiến con và chồng xem những buổi như thế, muốn thèm ăn thức gì để đi chợ, để đổi bữa ăn. Người nhà hỏi dồn Bạch và khai hết tên những thứ thịt của loài máu nóng, của loài máu lạnh và các thứ tên rau cỏ ngon lành. Bạch không biết trả lời ra sao. Chàng không hiểu rõ miệng mình thèm ăn thức gì. Chàng không lựa chọn, chỉ nói: “Ăn gì cũng được, mẹ và mình ăn thế nào thì tôi cũng ăn theo. Những việc chợ búa mình hiểu hơn, thì cứ tuỳ ý mà làm”. Những người muốn chiều chồng chiều con đã lấy làm chán quá. Bạch cũng rõ thế. Nhưng biết làm thế nào. Nếu không sợ làm cực lòng thân quyến có ý săn sóc đến đứa con hoang toàng của gia đình nhiều quá, thì chàng đã dám kêu to lên rằng những lúc phải trở về nhà như thế này, chàng chỉ thèm ăn lại cái miếng bánh bích quy bể và thứ lương khô của những con tàu chạy dài hạn, lúc gặp cạn, lúc gặp gió không lái được vào bến, lúc thì mất đường hằng tuần lễ trong mù biển vang âm những tiếng còi thê thảm hỏi đường và xin đường trong lờ mờ lạnh.

Bên mâm cơm gia đình, Bạch dù muốn chiều né thân quyến đến đâu, chàng cũng không làm cho vui bữa ăn được, mặc dầu chàng cố làm ra bộ mình ăn ngon và nhiều lắm. Chỉ có những người phản ghét xê dịch thích cắm neo nhiều hơn là nhổ neo trong đời sống, mới thấy rõ hương vị một củ dưa hành muối ăn hàng tháng ròng. Ở một chỗ nhất định, ăn mãi cái miếng ăn của những thứ thực phẩm trường cửu quen thuộc! Đây là thứ thực phẩm của người sống mãi một chỗ với ngàn năm trật tự, tính toán, trong khi mọi cái ở chung quanh đều trôi chảy, đều đi qua với vẻ bừa bộn của biến thiên, và bằng cái bất thình lình của tình cờ. Và người ta chỉ ở cạn, thì biết thế nào mà chiều cho vừa được cái dạ dày một người đi bể, chỉ biết có bể lớn. Có lẽ cái dạ dày người lính thủy là dễ dãi và khó chiều nhất. Chính người ấy cũng không biết ăn uống như thế nào là được vừa miệng. Cái bếp nấu của người ấy quen xây trên bể lớn rồi. Và chỉ có gió mặn ngoài khơi thì mới tra nổi mắm muối và đồ ăn của khách bể hồ đi tìm quê hương trên nước.

Bữa ăn sớm ở huyện Cẩm Thủy chưa được dùng đến đồ ngọt tráng miệng thì những con bạc ngoài phố huyện được vời vào đã tề tựu đủ cả, và đang thập thò ngoài sân.

Lính, một mặt bưng mâm đi, một mặt chia bài. Ông Ký Rượu khúm núm vít cái cần trúc điếu ống nhà quan khảm xà cừ nhất thì nhất họa[8]. Cụ Đề ngồi bỏm bẻm nhai miếng trầu không, và không biết nên nhổ bãi quết trầu vào cái ống súc đồng to để ở góc tư thất hay là vào hẳn cái bình phông sứ để ở trước mặt quan. Còn cái ông chủ hiệu tạp hóa lớn nhất ngoài phố huyện thì giả vờ đọc câu đối của đám thuộc hạ mừng quan thày treo ở những mảnh tường khuất kín nhất trong nhà. Họ đều có vẻ lúng túng, không dám ngồi cho hết cái mặt ghế và đều lễ phép hỏi quan huyện:

- Dạ, bẩm quan góp mấy?

Quan huyện mở tráp lấy bạc, trả lời:

- Y như cựu lệ. Góp mười.

Hồ và Bạch còn phân vân vì chút tị hiềm[9]. Chẳng lẽ hai người cùng đi với nhau thành bọn mà mỗi người đều giữ một chân bài thì thiếu lịch sự, coi không tiện. Nhân có tiếng thử máy xe hơi kêu rú ngoài sân, Hồ xin phép ra ngoài để chỉ bảo cho tài xế chửa quen với cái xe mượn của người khác. Bạch ngồi dưới cánh quan huyện, theo ý muốn của quan huyện. Cũng như mấy lần đánh tổ tôm trước, lần này ông huyện Cẩm Thủy lại góp tiền bài cho Bạch. Hết hội đầu, ông huyện bỏ tờ giấy hai chục xuống chiếu bạc, tính cả vào suất của ông và của Bạch. chừng như sực nhớ ra đây là canh tổ tôm trong tư thất của quan, cái ông Ký Rượu ấy, đến hội thứ nhì không dám ù luôn luôn nữa. Ông Ký vẫn tươi cười khi thấy sự may mắn trong cờ bạc đã dồn cả sang chân bài ông khách Hà Nội của quan. Và quan huyện thì tự nhủ: “Thôi cũng là phải. Chỗ tiền ông Bạch được đó cũng đủ trả tiền ét-xăng cho cuộc đi chơi. Mình bày ra cờ bạc, cũng chỉ có ý nhờ dân sở tại đây cung đốn hộ tiền lộ phí cho ông bằng một cách gián tiếp. Quan huyện vuốt cằm, có một vẻ cười nghịch ngợm rất kín đáo”.

 

[1] Chứng minh thư thủy thủ.

[2] Ngày nay viết triêu dương, tức là buổi sáng sớm.

[3] Hiệu ăn lớn của người Tàu ở phố Hàng Buồm.

[4] Điên.

[5] Thống ở đây nghĩa là liên tục không dứt.

[6] Hợp nhau, đồng điệu nhau.

[7] Tại sao.

[8] Thỉnh thoảng mới dùng tới.

[9] Muốn tranh sự hiềm nghi.

Thêm vào giỏ hàng thành công