IV
IV
Chiếc xe hơi dừng trước cổng huyện. Phong cảnh đất Phong Ý đã lạnh lắm. Cảnh lại còn giá cứng hẳn lại trong khoảng huyện lỵ Cẩm Thủy. Đèn xe rọi vào một tòa công đường âm thầm, một cái cổng huyện sứt sẹo có rêu phong kín màu khí núi, một cái hàng rào nứa tép cánh sẻ đầu nhọn hoắt và những lỗ mắt cáo to rộng đến con chó Mẹo[1] cũng chui lọt.
Xe tắt máy một lúc đã lâu mới thấy một chú lính lệ già yếu co ro thu hai tay trong bọc, sợ hãi tiến lại ngọn đèn pha. Bạch nghển mình trên nệm xe, nhìn ngọn đèn măng sông lạnh lẽo trong khung cửa sổ mở rộng ở tư thất. Chàng nhìn người lính lệ, nghĩ mãi mới nhớ ra đây là người lính pha trà hầu cận quan huyện. Trước đây, có một lần, đã tới hai năm nay, hồi quan hẳn còn lỵ ở huyện Yên Định, hẳn đã đốt thuốc cho chàng ra ngồi cạnh bờ sông vắng, một đêm quặn đau bụng.
- Quan đã giấc chưa?
- Dạ bẩm quan con vừa ngồi cho ông Thừa Nhất và cụ Thông Ba hầu tài bàn.
Nghe thấy tiếng nói tên lính lệ trả lời khúm núm trước hai người mặc tây đi xe hơi vào hỏi thăm quan phụ mẫu, Bạch nhận rõ tên lính già đó là lão thập trưởng [2]thân tín của quan huyện đem từ quê hương Quảng Trị ra, nhậm hạt nào, là đều cho hắn đi theo cả.
- À, chú thập!
Bạch xuống xe, ra chỗ đèn pha sáng, tìm trong túi lấy một tấm danh thiếp. Người thập trường lại gần, liền nhận ngay ra cái “ông khách ở Hà Nội” vô thăm quan hắn tại huyện Yên Định và ngày nọ bỏ quên một cái ống đựng thuốc lá bằng đồi mồi.
- Dạ bẩm quan ở Hà Nội vô chơi? Quan con những lúc đánh cờ tướng, vẫn nhắc đến quan luôn, và cái hộp thuốc đồi mồi quan bỏ quên, con có đưa trình quan con. Không rõ quan ở đâu, nên quan con vẫn cất đi một chỗ.
Bạch cười:
- Chú thập đưa giùm thiếp vào hộ tôi.
Giập (Nguyễn Tuân toàn tập Tập 1 đề là “dập”) bã trầu, cái cổng đường âm thầm ban nãy, có đèn sáng qua kẽ cửa, rồi hai cánh cửa mở rộng. Người thập trưởng trở ra, tay cầm cây đèn nến có chụp tròn. Thứ đèn ấy là thứ đèn nến cắm vào hai bên xe ngựa và bây giờ cũng ít nhà dùng.
- Quan con nói rước hai quan vô phòng khách. Quan con dở tay xong, sẽ lên sau.
Hồ và Bạch mặc luôn cả áo tơi, đặt mình vào lòng chiếc ghế bành chạm, những đường gỗ hương mộc chạm nổi đâm vào lưng ghế người ngồi làm cho Hồ càng thấy cái đau đớn vật chất của người đi đường. Đèn tọa đăng có sáng, nhưng phòng khách nhà quan vẫn lạnh. Trên mặt tường trắng bạch và phẳng lạnh như tường một học đường hay một bệnh viện, chỉ có một bức ảnh lụa đỏ lồng kính có dán những hình núi Ngự Bình, sông Hương Giang và cầu Hàm Rồng làm bằng lá nón khô cắt tỉa rất tỉ mỉ. Hồ lạ mắt nhìn mãi. Hồ có chút ít chữ nho gia sáo[3], đọc đến bức trướng sa tanh màu tím Huế có thêu bốn chữ hành thư[4] kim tuyến, quay lại hỏi Bạch:
- Bốn chữ “Thập niên lãnh hoạn” phải không anh? Mừng một ông huyện, sao người đưa bức trướng lại dùng chữ “lãnh hoạn”? Nếu tôi không nhớ bậy, thì hai chữ lãnh hoạn chỉ dùng để chỉ những cảnh cô quạnh nghèo túng của những người làm quan nhỏ như các vị huấn đạo mới phải chứ? Cuộc đời một quan huyện có ngựa xe quan khách lui tới, có cờ trống đón rước lúc hành hạt, tiếp đón thượng tân quý khách trẩy qua, cuộc đời một ông Lệnh doãn sao có gọi là lãnh hoạn được hở anh?
Có tiếng người đi guốc kinh[5] sệt sệt ngoài hành lang. Người ấy tiến vào phòng khách, hai tay xoè mở đón lấy khách. Lúc vội vàng người ấy chưa kịp cài kín hết hàng khuy một tấm áo bông nhiều lót màu quan lục.
Bạch vội đứng dậy, giới thiệu:
- Bạn tôi, ông Hồ... Quan huyện Cẩm Thủy.
Hai người bắt tay. Hồ ngượng nghịu, kính cẩn. Ông huyện suồng sã, thân mật. Ông huyện cười, nói, xoa tay kêu rằng đêm ở ngoài chắc lạnh lắm. Đây là câu nhận xét của một người chủ nhân lịch sự đối với kẻ ở xa vừa tới, thay cho lời chào mừng. Bạch tủm tỉm nhìn bạn, nhìn ông huyện cười nói oang oang và nhìn cái gian phòng đang ấm dần vì sự tiếp đãi sốt sắng.
Uống xong tuần nước trà nóng hôi hổi, ông huyện hướng vào phía Hồ rồi quay sang phía ghế Bạch:
- Dạ, ông bạn đây có đi về vùng ni luôn, hay mới là lần đầu? Cữ ni huyện tôi gặp mưa dầm luôn.
Ông huyện thấy Bạch bắt đầu xe điếu ống dài tới hai thước ta, hút điếu thuốc lào một cách luộm thuộm, lại càng cười. Bạch thở khói trắng, chỉ bạn:
- Lần này là lần thứ nhất, bạn tôi qua quý hạt. Tính bạn tôi cũng hay vẩn vơ như tôi và nhân nghe nói vùng Mường Hồi Xuân đẹp, nên vô đây thăm cảnh và đi qua huyện, thấy có đèn sáng chúng tôi vô chào quan huyện, xin chén trà nóng, rồi lại lên đường luôn.
Bạch ngừng câu nói, ngắm cái vẻ ngốc nghếch ngơ ngác của Hồ đang trố mắt nhìn mình. Hồ muốn hỏi thầm Bạch bằng mắt sao lại không nghỉ ở đây khi đã định với nhau như thế ban nãy rồi? Và vào đây lại chỉ uống một tuần nước rồi lại đi suốt? Đường núi thì xa, đêm mưa thì lạnh và có công việc gì mà phải đi tiếp ngay? Ở đây, ấm trà bốc khói muốn giữ người ở bệt lại lắm mà. Và chăng, ông quan huyện lại thực tình vồn vã. Mới gặp mà Hồ đã có nhiều thiện cảm rồi. Hồ thật là một đầu óc chứa đầy đơn giản. Ở dọc đường, chàng thiếu tín thành đối với du lịch; vào tới đây, chàng lại tỏ thêm là người chẳng hiểu tí gì đến lời lèo lái trong giao thiệp ngôn ngữ. Chẳng lẽ Bạch đòi ăn và xin ngủ ngay ở câu nói đầu tiên với một ông huyện sở tại? Bạch nhin Hồ một cách hóm hỉnh khi ông huyện to tiếng
- Bậy mà! Đi luôn răng được. Ai cho đi mà đi. Đi qua cái huyện nghèo của tui đã không có lòng ghé thăm thì thôi, chứ đã vô chơi thì răng cũng phải ở với tui lấy một đêm một ngày... Bây giờ! Thằng Cửu chạy ra ngoài nói tài xế đánh xe vô. Và biểu bếp làm cơm mau lên! Tui xin phép, chạy một chút cái đã.
Ông huyện nói luôn một hơi, lời mời mọc giữ khách rất tha thiết. Nói xong, ông vụt đi ra ngoài, vừa đi vừa cải cúc áo bông. Bạch không chen vào được lây nửa lời từ chối khách tình[6]. Ngoài hành lang, rồi phía nhà cầu, tiếng ông huyện truyền người nhà dọn buồng cho khách nghe sang sảng. Bạch nhìn Hồ. Hồ cười, sung sướng và quá tầm thường.
Cải giường sẵn sàng trong gian buồng phía đầu trái khu nhà tư thất là một bộ ghế ngựa ba tấm gụ. Người lính vừa trải phủ lên một chiếc chiếu hoa xộc xệch. Chừng ít người nằm, chiếc chiếu không hẳn là mới có mùi mốc. Trên tường - vẫn màu trắng - có một đôi câu đối lòng máng bằng gỗ cây kè, kèm một bức hoành có ba chữ đại tự chân phương “Đức Lưu Phương” và một cái ảnh phế đề Duy Tân, chừng cắt ở một tờ tạp chí Pháp nào, treo lơ lửng giữa cái mênh mông của một tấm tường phẳng lạnh.
Ngọn đèn măng sông nhỏ bốn mươi nến soi tỏ gian phòng trống trải. Nơi góc tường, trên nền gạch lá nem, một cái giá cũ đỡ lấy một cái bình gỗ dáng bầu rượu lơ thơ vài cái thẻ đầu hồ có tơ nhện giăng.
Bạch thay giày, nhìn bức hoành, nghĩ đến gia thế nhà ông huyện đây mà chàng có biết ít nhiều. Ba chữ hoành phi “Đức Lưu Phương” ở một gia đình khác, thường chỉ là những chữ sáo nhạt nhẽo viết vào một đồ vật bài trí như trăm nghìn vật gỗ bài trí khác. Nhưng ở đây, nó có bài vị gợi đến lòng kính mến. Ông cụ có ông huyện còn lưu lại ở vùng Quảng những kỷ niệm của nhiều chính tích[7] hay và lành. Cái nguồn đức họ nhà ấy vẫn còn tuôn chảy một mùi thơm ngát... Bạch sắp nói chuyện về thân thế ông huyện Cẩm Thủy với Hồ trong khi Hồ đang mở va ly còn tìm khăn rửa mặt thì ông huyện đã vào, niềm nở vẫn như hồi nãy:
- Tui ước chi cũng được nhẹ mình như mấy ông, thỉnh thoảng lại bày ra những cuộc đi chơi xa, thăm bạn nhàn tản ở các vùng quê anh em và được luôn luôn ngao du sơn thủy. Tui thấy cái lối của ông Bạch đây mà thèm muốn quá... Ủa, Cửu ơi! Chớ xà bông đâu? Lấy thau mà không đem xà bông vô? Lính tráng ở đây hắn dờ dẫn quá. Ở gần Mương, cái chi cũng cổ lậu. Cảnh ở đây, cứ như đất của người bị đi đầy. Chẳng có chi đáng nói, đáng nghe cả. Hôm vừa rồi, dưới hai cái chợ Hà Lũng, dân hai làng sở tại có mở hội mười ngày, chợ mới cho họp nửa tháng không lấy thuế, thôi thì cờ xí, trống chiêng, tổ tôm bài điếm, người Kinh chen người Mường, vui ồn lắm, mấy ông không về mà chơi?
Lính đã dọn bàn, phủ lên bàn một tấm khăn ăn bằng vải cao su sơn, có những hình kỷ hà học ngũ sắc. Những đĩa nho nhỏ, những kiểu xinh xinh, bày la liệt trên bàn ăn. Bát, đĩa, thìa, liễn, chén, cái nào cũng nho nhỏ như là đồ sứ Nhật Bản.
Ông huyện, người tính tình đơn giản chất phác, đi lăng xăng trong phòng, cười nói luôn luôn và lúc lính trình: “Dạ bẩm con mở rượu” thì ông kéo luôn cả hai ông khách mặc tây ngồi vào bàn ăn, chỉ lũ bát đĩa:
- Ngó bộ lôi thôi quá phải không hai ông? Trong tôi hay dùng những đồ kiểu nhỏ bé thế ni thôi. Ngoài các ông, thì quen dùng đĩa bát lớn. Mỗi chỗ một thói quen. Nhưng ở ngoài vô, ở trong ra, đi lại có luôn luôn, rồi cũng không có chi là lạ mắt cả. Xin mời hai ông cầm đũa!
Ông huyện cười rung cả người; ông lấy làm thích cái câu nói khai bữa ăn mà ông cho là đạt lắm. Bạch và Hồ cười một cách dè dặt.
Cơm dọn có rất nhiều mắm Huế. Và mấy đĩa chuối chát, rau thơm và dưa món. Đã một đĩa ớt xanh, lại một đĩa ớt đỏ. Trông vui mắt lạ. Nếu dùng bữa cơm này làm mẫu để vẽ một bức họa tĩnh vật thì cái giá trị bài trí của mâm cơm thực là hoàn toàn.
Cơm ăn với mắm cá, mắm tôm chua, mà lại uống với rượu vang trắng. Cốc rượu vang của Bạch và Hồ vẫn còn nguyên mà người lính đứng hầu cơm cứ xun xoe đòi rót thêm mãi rượu vào.
Ông huyện tỉnh tự nhiên quá, không để ý đến sự ăn uống của khách. Thành thử mãi đến lúc ông ăn xong bát cơm thứ hai của ông rồi ông mới nhìn thấy khách mới nhấm nháp chưa xong được bát cơm thứ nhất xới đã từ ban nãy.
- Mấy ông ăn uống coi bộ như đàn bà. Tui bữa mỏ cũng dùng tới sáu chén ni. Vùng trên đây không có hàng quà bánh chi cả.
Ông giơ cái bát mẫu kiểu Nội Phủ[8] lên rồi lại ăn tiếp. Bạch và cơm, gắp mắm, liếc sang phía Hồ, trong bụng lấy làm phiền bực. Bạch biết rõ Hồ không quen ăn mắm. Hễ ở nhà thân quyến có dọn mắm thì bữa cơm ấy chàng xin ngồi riêng. Người con trai đâu mà có thứ hèn đến thế, Bạch vừa ăn vừa tự nói. Sợ sự uể oải của Hồ đối với bữa cơm mắm của ông quan người đàng trong có điều làm tủi lòng ông huyện, Bạch phải gỡ cho bạn và nói ngay:
- Ông bạn tôi, giá không phải kiêng cữ thì ăn cũng nhiều lắm. Uổng quá, những món mắm quý ngon như thế này mà lại phải ăn kiêng. Bạn tôi đang tiêm thuốc, bác sĩ dặn phải tránh những vị nhiều chất mặn.
- Vậy chớ sao không nói? Thảo nào tui thấy ăn uống lạt lẽo quá. Tui lại cho là khách tình, định lên tiếng trách... Cửu ơi! Con xuống biểu bếp hắn làm trứng cho mau lên.
Bữa cơm chậm hẳn. Chậm hơn lúc mới ngồi vào bàn ăn. Ông huyện ăn rất chậm để đợi khách. Khách cũng ăn chậm để đợi trứng. Tanh miệng, Bạch nhắp chút rượu vang, thì lại càng thấy tanh hơn. Ra cái món mắm Việt Nam không tài nào đi đôi được với rượu nho, mặc dầu tập quán xẻ dịch khắp mọi chỗ đã dạy chàng tập lấy cái nét xềnh xoàng tiệp diệp cho sự ăn uống. Mãi đến những ngụm rượu sau, Bạch mới thấy thơm miệng. Chàng ngồi ngắm trộm Hồ gắp rặt thứ thịt lợn luộc bỏ vào bát. Bên cạnh những đĩa mắm còn đầy, đĩa thịt lợn luộc đã vơi, đã để lộ những nét vẽ cành mai màu xanh nơi lòng đĩa. Bạch lấy làm phàn nàn cho Hồ. Bạch nghĩ đến sự ăn uống cảnh vẻ của những đứa con cưng như trẻ cầu tự. Ruốc thăn bông này, giò lụa chả quế này, thịt rim này. Ăn uống như là gái đẻ kiêng khem. Chàng đã biết thậm chí có người lại không ăn được thịt bò. Động thấy một thực phẩm lạ là chùn ngay đũa lại. Những người này thì còn đi đâu được nữa, làm thế nào mà chịu được mùi vị cơm hàng cháo chợ và nhiều vị khác của các thứ hàng quán trên thế giới. Bạch lại nghĩ đến mình, từ trước đến giờ, lăn lóc mãi, “đi nêm cơm thiên hạ” mãi, trong bụng chứa tạp vị các xứ kể ra cũng nhiều lắm. Chàng cười thầm vì tự đắc mình không bao giờ phải kêu sểnh nhà là ra thất nghiệp. Nhà... chàng làm gì có nhà. Đến quê hương chàng cũng còn đang đi tìm nữa là.
- Ủa, ông Bạch và ông xơi rượu đi chứ!
Món trứng đã bưng ra. Đĩa trứng vàng một màu đều đặn, không có góc nào già, không có góc nào non, làm bật lên màu xanh của rau sống, màu đỏ hồng hoàng của đĩa mắm tôm chua và màu đỏ da chu của đĩa ớt mọi[9]. Hồ sung sướng kín đáo nhưng không qua khỏi mắt tinh quái của Bạch. Ông huyện đẩy khẽ đĩa trứng vào phía Hồ và nói bòng:
- Trứng này là của người ăn kiêng... Cửu ơi, vô biểu làm trứng nữa... Ông cứ dùng trước đi. Ông Bạch và tôi hãy ăn mắm đã.
Bát cơm, lần xới này, ai nấy đều thấy ngon miệng hơn lần xới thứ nhất. Tính thành thật, bình dân và tự nhiên của ông huyện đã góp nhiều ngon lành vào mâm cơm đạm bạc của một vị Lệnh doãn liêm khiết. Ông huyện đặt đưa xuống thành bàn ăn, đặt bát vào cái đĩa tày lót trên bát, chỉ đĩa trứng tráng thứ nhì vừa đưa tiếp ra:
- Vì có các quan Tây hành hạt qua đây lỡ buổi cơm hay vô dùng cơm trong huyện với tui, nên tui phải kiếm một người dưới tỉnh lên nấu nướng cho nó được vừa miệng các ngài ấy một chút. Các ông ấy vô ăn với tui nhiều khi chỉ có rặt trứng. Vậy mà cũng ngon, có chướng không? Bếp nó làm mấy chục thứ trứng, làm tui lại bắt nghĩ đến cái chuyện một bà chúa Huế đãi người nhân tình một bữa cơm chỉ có mười hai thứ muối. Thằng bếp hắn khai ra mấy chục thứ trứng. Tui thì tui cho rằng bày vẽ ra nhiều món ăn phức tạp, nhiều khi cũng không tiện cho những cái dạ dày giản dị như dạ dày tui. Tui quen với sự thanh bần đi rồi. Vậy mà quan Đại lý Hồi Xuân còn khen tui là tiêu hoang và biết săn sóc kỹ cái bữa ăn của mình! Tui không hiểu quan Đại có ngụ ý chỉ trong câu khen đó. Hôm thấy bếp làm món trứng ăn sáng ngon, ngài dùng hết và nháy mắt cười cười bảo: “Quan lớn nuôi người sành lắm. Những người Pháp làm việc quan ở xứ thuộc địa, lúc tìm bối bếp, muốn thử xem chúng nó có làm được việc không, thường chỉ đưa cho nó một đôi giày và mười quả trứng. Hễ nó làm được món trứng cho đừng cháy, vừa chín vàng đều, và đánh cho bóng và gọn đôi giày tây, là mọi việc khác nó đều làm được hết thẩy. Ở bên Pháp, một người đàn bà trông nom bếp nước cho mình, một người biết làm đủ các món trứng, ít ra mỗi tháng phải trả công tới 500 quan”. Ý chừng quan Đại Lý nói bóng gió ngờ tui kiếm được nhiều bổng chăng? Tui cố ý muốn từ nay không dùng những tên bếp khéo như thế này nữa. Riêng về sự cung phụng cho tui, tui xềnh xoàng lắm. Nước trà Huế, thuốc lào, rượu có bạn thì mới uống; cờ bạc thì xuống tỉnh, các cụ có ép lắm tui mới ngồi một hội tài bàn hoặc tổ tôm chiếu lệ, thua được chi thì cũng xin cáo về nhà trọ. Có một thẳng bếp khéo nhiều khi chưng ra, cũng là cớ cho người ta ngờ mình. Làm quan phải giữ thớ lợ[10] từng các việc nhỏ mọn như vậy. Mệt lắm” (không thấy dấu “ mở).
Đêm ấy, cơm rượu xong rồi, có chăn, có nệm, có màn và sẵn được cái mệt mỏi của đường trường, Hồ ngủ một giấc ngon lành đến sáng, không kịp nghĩ đến sự lạ cửa, lạ nhà và nhớ hộ cho rằng đây là một cái huyện đường rừng và đêm này là đêm mùa thu ở địa đầu xứ Mường. Bạch ngắm bạn ngủ ngon lành như lối ngủ của một người con trai đang lúc lớn lên, chàng lấy làm chán quá. Thật mang anh ta đi theo, cũng là rước lấy một cái nợ. Đường không giải nhựa, anh ta kêu; đường cách sông, cách phà, anh ta kêu; trời mưa, anh ta cũng kêu, cho xe chạy nhanh, anh ta sợ. Rồi còn phải lo từ cái chỗ nằm yên ấm và từ cái miếng ăn vừa miệng cho anh, và săn sóc đến sức khoẻ của anh nữa. Thôi, cũng cho xong một chuyến này, lần sau thì kệch. Bạch càng tin là đúng quá, cái câu mà chàng thường nói với chàng như là câu châm ngôn mượn của người hiền: “Chỉ có người lữ khách cô đơn là đi được nhiều hơn cả”. Trong cuộc sống, vướng víu thêm một người, là lại thêm ít bổn phận gây ra ràng buộc phiền phức nó bó kết lại thành một quả chi dính vào gót chân người bộ hành.
[1] Mẹo, đọc chệch từ chữ Mèo, tên cũ của người H’Mông.
[2] Theo Việt Nam Từ Điển của Hội Khai trí tiến đức: chỉ một người cai coi mười người lính.
[3] Thêm thắt, vay mượn.
[4] Một lối viết chữ Hán có đá thảo.
[5] Guốc của người Huế.
[6] Không thân thiết mà khách sáo.
[7] Sự nghiệp cai trị của một ông quan.
[8] Trong cung vua.
[9] Mọi: tiếng cũ, để chỉ vùng các dân tộc thiểu số.
[10] Nhã nhặn lịch thiệp (khác với nghĩa thớ lợ đang dùng hiện nay).
