III
III
Đúng như lời hẹn với nhau từ hồi Bạch còn làm thư ký bán hàng cho hiệu phụ tùng máy vô tuyến điện, Bạch và Hồ đã cùng nhau bỏ Hà Nội, đã cùng nhau đi chơi xa. Họ đi vào giữa mùa thu. Để cho Hồ được thêm quả quyết, lúc sắp lên đường, Bạch ca tụng cảnh rừng đàng trong lúc có sương gió thu “nó” về.
Vậy là vụ thu đó, cái thành phố Hà Nội muôn vẻ đã hụt đi mất hai người con trai...
… Đèn ô tô hòm rọi vào biển báo hiệu phà sang ngang: một vạch ngang cắt đứt một nét sổ rơi thông xuống. Cái người tiên sư[1] về việc kiều lương đạo lộ[2] nghĩ ra được cách báo hiệu bằng biển cắm ở rìa đường quả đã là một người giỏi về khoa tượng hình. Một vạch dọc bị ngăn đứt bởi một vạch ngang, hình dung một cách toát yếu đến con đường trường đứt đoạn bởi một dòng sông.
Bạch nhờ Hồ đánh cho mình một que diêm châm vào tẩu thuốc lá tắt ngấm trong khi chàng đang khái luận một lúc khá lâu về những phiền phức của nhiều tâm trạng giang hồ.
- “Này, bác tài, xe nhỏ, phà rộng, chẳng cần phải xuống xe nữa nhỉ?” Hồ vừa nói vừa vặn cửa kính xe xuống, giơ bàn tay xoè ra ngoài xem trời đã ngớt mưa chưa. Đường đi từ Hà Nội, qua Phủ Lý, qua Ninh Bình, qua Thanh Hóa, chỉ những mưa ngâu là mưa ngâu. Từ Thanh Hóa lên đến đây mưa vẫn rỉ rả.
Người tài xế hãm cả phanh chân phanh tay: “- Xin mời hai ông xuống cho. Phà dốc và trơn lắm”.
Hồ miễn cưỡng xuống xe. Người tài xế lấy nắm thuốc lào lau lên miếng kính dày trước mặt: “- Dạ, thế này mới tuột hết giọt mưa và dễ trông”.
Gió trên sông rộng thổi vù vù. Mưa trên sông rộng lộp độp rơi xuống nón mê và áo tơi phu phà đang cong mình trên đầu mũi sào, gò chiếc phà gỗ vào gờ dốc bên sang ngang. Mưa trên sông mau hột, tựa như tơ nhện giăng đầy trong cái tia sáng loé của đèn pha. Ngoài khu vực luồng sáng của đèn là sông đen như mực trát rộng rãi, với gió thổi mưa, với mưa vờn mặt nước, với nước du mạn phà. Chỉ có róc rách, lộp độp và ào ào.
Hồ thấy lạnh, rủ Bạch lại cùng chui vào xe; chiếc xe đã nằm gọn trong lòng phà, ván gỗ mỡ nhoáng.
- Đứng ngoài này mưa ướt hết Bạch ạ.
- Mày hèn lắm, Hồ. Không những mày là một thằng hèn mà mày lại còn là hành khách thiếu kỷ luật trong sự giao thông công cộng nữa. Mày không thấy người ta yết thị[3] lên biển nơi bờ sông rằng sang phà, tất cả hành khách đều phải xuống xe.
- Nhưng mà...
- Thôi câm đi. Đưa bao diêm đây.
Bạch đánh diêm thắp mồi thuốc khác, ngồi sà xuống thành phà, mặc dầu thành phà ướt và nhầy nhờn những bùn sông của bàn chân bẩn bọn phu đò ngang. Bạch nhìn trời nước đen ngòm, hít khói thuốc say sưa. Mồi thuốc đầu tiên thắp ở phả Đoan Vĩ ban nãy, hút một mạch không phải châm đến hai cây diêm, kể cũng đã ngon lắm. Và sao sang cái phà chiều ấy lâu thế. Từ bến phà này sang cho đến bến phà bên kia, lòng chiều sông hẹp có thế mà cũng phải cháy hết một mồi thuốc đầy.
Những giọt mưa phân lọt vào họng tầu kêu sèo sèo. Lắm lúc mưa nặng hột quá, hạt mưa rớt mạnh vào tàn thuốc cháy, kêu một tiếng sèo to gần bằng tiếng một con thiêu thân lúc cháy cánh vỡ bụng trên một ngọn đèn thờ. Cái tẩu thuốc lá đượm cứ như thế mà sèo sèo, hòa với nhịp đầu sào dùi xuống nước xiết. Lúc trầm, lúc bổng, cái tẩu thuốc lá cũng đang ca một bài hát lên đường. Đã lâu lắm Bạch không được hút thuốc với điếu này ở dọc một con đường dài.
Lần này được rời khỏi Hà Nội cho thật nhanh, Bạch cảm thấy mình đã hoàn toàn là mình: một người thèm đi và được đổi chỗ. Đi với cái thương nhớ những người vừa chia tay, với cái hồi hộp của phút sắp được hưởng tại chỗ sẽ tới. Dưới màn mưa phăn, tẩu thuốc rỉ rền mà cháy và âm thanh nó là cả một cơn sung sướng hoang mang của phút đãng trinh. Cũng như mùi gió lúc này trên sông mưa, khói tẩu thuốc buổi lữ hành này có một hương vị quyến rũ. Ngậm đến những cái điều có cao[4] nặng như thế này, ai mà chẳng muốn chống thêm một cái gậy nhọn đầu và thấy gió đã khởi, người ta liền lên đường! - Chẳng kể là tối đất và chẳng kịp để lời từ giã cùng ai.
Cái điếu Ropp cũ kỹ này, về ở với Bạch đã đến bốn năm năm có dư. Bây giờ nó đã sém cả thành nồi, đã xây xát cả mình gỗ, đã dập vỡ cả đầu ống, vậy mà Bạch vẫn cố giữ lấy. Chàng đi đâu, cái tẩu thuốc đi đấy. Người làm tướng ở thời chưa có súng đạn, quý con thiên lý mã vị tất đã hơn được Bạch gìn giữ tẩu thuốc. Chẳng thế mà lần cháy tàu buôn lúc tàu vào kênh Tô Di Sĩ[5]- hồi đó chàng làm bồi giặt trên tàu - chàng phải bỏ hết, bỏ cả chiếc va ly tri kỷ tuỳ thân mà nhảy xuống xuồng, gỡ mau lấy người. Lênh đênh trên Hồng Hải, Bạch đã vui sướng là không để lạc mất cái tẩu thuốc giang hồ. Hồi ấy, Đắc - cũng là một người thiếu niên có học, thích bay nhảy và làm bạn bồi tàu cùng một chuyến đi với Bạch - Đắc đã phải phì cười, khi lảo đảo đứng không vững trên làn sóng dựng thành vách đứng, Bạch cọ mình điếu vào mồ hôi kè mũi lấy chất bóng cho gỗ điếu lên nước, Bạch đã nhại một câu của Gide[6] mà âu yếm bảo cái điều bạn bầu răng: “Khởi hành ban đêm, thức giấc dậy giữa cái xán lạn của bình minh; và cảm thấy chúng mình chỉ là hai trên cái bấp bênh của sóng”. Lần ấy lâu rồi - mồi thuốc có pha trộn mùi gió muối ngoài khơi. Mồi thuốc hút trên bể cả cuộn sóng vẫn đượm và ngon. Đã đành.
Nhưng bây giờ, dù chỉ còn là một tên thủy thủ trên nước ngọt các hồ sông trên xứ sở, dù chỉ còn là một lữ khách mà cái đường bán kính xê dịch chỉ luôn luôn ở vào cái cữ trên dưới vài trăm cây số, Bạch vẫn tin rằng mỗi mồi thuốc mình thắp khi ngọn gió đã lên, cũng vẫn còn đủ cái hương vị cố hữu của khởi hành.
Cái lòng kẻ lưu đãng bao giờ mà chẳng hoan hỉ mỗi khi được thay đổi chỗ ở.
Tối lắm. Trên phà, dưới mưa, Bạch đang sống đến cùng kiệt cái phút sống của mình.
Chiếc phà lừ đừ ra đến giữa sông rồi uốn mình quay mũi. Đèn pha xe hơi, như một ngọn hải đăng xoay quanh trục, quét sáng mặt sông và loáng rọi vào những đoàn bè nứa im lìm. Hồ đút hai tay vào túi áo đi mưa và run lẩy bẩy trước đèn sáng. Bạch nhún vai lắc đầu, nhổ nước điếu ứ trong miệng xuống lòng sông kêu đánh bẹt. Và chàng đã bắt đầu bực mình về những dáng điệu đớn hèn của người bạn đồng hành. Hồ quả là người hành khách gượng gạo của đường trường. Những thứ người này là chỉ đi để mà chết một phần ở trong lòng. Và làm bận rộn đến nhật kỳ[7] của kẻ khác. Có lẽ Hồ đã tin tưởng rằng cảnh giang hồ quan tái, đâu cũng là cỏ non xanh tận chân trời và du tử là lúc nào cũng chỉ có du xuân. Bạch tự trách thầm mình rước lấy của nợ này đi theo làm gì cho thêm bận.
Chàng vỗ vai bạn:
- Anh đang nghĩ đến những cái gì trong phút này?
Hồ thều thào lảng sang chuyện khác:
- Đi đêm vất vả quá. Mưa gió lầm lội và tối tăm, đi chơi nó cũng kém thú. Tôi không hiểu tại sao, nhiều đêm mưa to gió lớn ở Hà Nội, anh hay lại đấm cửa nhà tôi vào những giờ khuya khoắt, gọi hỏi tôi: “Có đi chơi được không?”,
- Anh không hiểu là phải. Một ngày gần đây, khi nào anh đã làm quen nhiều với mưa, với gió, với cảnh xa lìa khỏi tổ ấm; một ngày gần đây, khi nào anh hiểu tôi hơn, khi nào anh không sống được một cách trịnh trọng và tự cho là đầy đủ trong hiện tại như bây giờ nữa, khi đó anh sẽ hiểu rõ. Mà tôi còn tin thế này nữa, là bây giờ anh sẽ có những thói quen giống hệt thói quen của thằng Bạch tôi này. Rồi anh sẽ cảm thấy cái thú đi đập cửa nhà bạn lúc khuya khoắt, rủ nhau đi chơi phiếm trong lúc mọi người đều ngủ cái giấc ngủ của con vật sống với sự đơn giản và yên nghỉ.
Những lời thiết tha, những cái vỗ vai thành thực của Bạch cố làm sống lại cái lòng Hồ trước cảnh tiêu sắt [8]của bến phà Sông Mã một buổi mưa đêm, những lời và cử chỉ ấy vẫn không đủ gợi cho Hồ thấy và hiểu rằng được đi là một sự vui. Bạch thấy bạn vẫn càu nhàu, bắt sang chuyện khác: “Có lẽ đêm nay mình nghỉ tại hạt Cẩm Thủy này. Đi thấu lên tới Mường Ca Da, sợ rét lạnh và mưa gió lắm, anh không chịu nổi. Từ đây lên tới Hồi Xuân, còn những năm mươi cây số đường rừng, những đèo và dốc, nhiều đoạn anh phải xuống xe vất vả lắm”.
Chàng ngừng nói, hít tẩu thuốc, tủm tỉm nhìn mặt Hồ tái nhợt trong luồng ánh đèn pha loe đầy mặt trước phà.
Đêm hôm ấy, Bạch và Hồ cùng nhau thỏa thuận nghỉ đêm lại ở huyện Cẩm Thủy.
- “Giường của chúng ta đêm nay kê ở trong tư thất ông huyện sở tại. Tôi quên chưa nói cho anh biết quan huyện đây đối với tôi là chỗ giao tình xưa cũ”.
Nghe Bạch nói, Hồ cười với vẻ bằng lòng. Chàng đang vẽ trong đầu một cảnh êm ấm giữa chốn sơn lâm lữ thứ. Mưa dầm như thế này, gió heo như thế này, sương đêm đang tỏa như thế này, ở một nơi đất khách - đối với Hồ, ngoài cái nhà quen thuộc của mình, thì chỗ nào chẳng là đất khách - ở một nơi đất khách không có hàng quán mà có một cái màn, cái nệm của một ông huyện để mà ngủ một đêm, Hồ thấy yên lòng và thấy sung sướng tràn ngập thân xác mình đã mệt mỏi với đường xa. Vừa rồi cười, Hồ thực đã không rõ đến lòng người bạn đồng hành đang bực mình cắn môi, đang nhai đầu tẩu thuốc tắt ngấm. Với Bạch thì được đi, tức là không bao giờ ngừng. Cái yên ủi của người lữ hành già ấy là được thấy mình un đẩy mình mãi mãi trên con đường. Những độ đường! Những độ đường qua cho mau. Cái nhanh ngụ trong chỗ rút bớt những đoạn nghỉ đi, Bạch vào hạng hành khách có thể ngồi trong một chuyến xe hòa vét chỉ chạy độ 20 cây số một giờ, nhưng xe phải chạy luôn một mạch từ nơi này đến nơi nọ. Chàng có thể nằm mà luận chơi về cái bản ngã mình trong toa hàng, một con tàu vắng, mặc cho tàu cứ chậm chạp mà lăn bánh trên đường sắt, mặc cho tàu cứ uể oải mà tiến lắc lư mà đi, bao giờ đến đâu cũng được, nhưng miễn là con tàu vét ấy đừng phải đỗ luôn luôn ở những ga xép. Trời ôi, những cái nhà ga xép! Nghĩ đến những nhà ga xép mà Bạch thêm ngại cho ngày giờ của chàng, ngày giờ trong đời sống mà chàng định tiêu không tiếc không đếm. Bạch thường vì những phút phải ngừng lại bên nhà ga xép cho con tàu ăn hàng, ăn than, ăn nước theo đúng như thời khắc biểu của sở xe lửa. Bạch đã vì những phút ấy dài tựa năm và nặng như một kiếp con người.
… Mới đi từ Hà Nội vào đến đây, tính chưa được ba trăm cây số xe hơi, làm gì mà đã phải nghỉ lại. Thà xe hỏng hay yếu cho nó cam. Xe thở đều, động cơ đang đòi ăn dầu hút mỡ nhiều như thế kia kia mà. Giá Hồ là người biết vui với cuộc đi dài, biết say sưa với một con đường núi có mưa, có đêm, có gió mà chịu đi thấu tới Hồi Xuân mới chịu nghỉ thì chuyến đi này có bao nhiêu là thi vị của viễn trình.
Bạch hờn mát, không nói với Hồ nửa câu. Trong cái yên lặng ấy rất hợp với im vắng của vùng Cửa Hà trong đêm mưa, một mồi thuốc nữa lại cháy hết trong nõ tẩu điếu.
