II
II
Nằm khàn ở nhà, Bạch giờ xem cuốn lịch bỏ túi, ôn lại những ngày đã qua. Ồ, thế mà đã được hơn một tháng rồi. Chóng quá. Thời giờ kể đi qua cũng mau lắm, khi người ta muốn giết chết nó.
Bạch không ngờ mình lại có thể ngồi làm thư ký bán hàng cho hãng máy vô tuyến điện ở phố Trường Thi đó. Chàng nhớ lại cái bữa đầu tiên lại đấy để gặp mặt người đầm chủ hãng.
Nhiều bạn thân của Bạch, nhận thấy chàng túng và chỉ kêu rêu những là độ rầy thớ thịt trong người buồn rầu tê cứng quá, đã mách chỗ làm đó cho Bạch, tin rằng sự cần lao sẽ đem lại cho Bạch chút ít vui tươi trong tâm hồn. Chứ thực ra, số tiền lương của một chân thư ký bán hàng có được là bao. Mà Bạch thì tiêu như phá. Họ cũng hiểu thế, nên hôm mách chỗ làm, đã bảo ngay Bạch:
- Tôi biết rõ anh không có cái tạng người công chức. Nghĩa là anh có đi làm chăng nữa thì cũng là cầu vui và thứ nhất là cầu lấy sự thay đổi cho tính tình. Ở đấy, họ bán các hòm mày vô tuyến điện, đờn hát suốt ngày, chắc hợp với cái lối chơi chơi đùa đùa của anh. Đâu có mấy bố xin chân ấy rồi nhưng trông kiểu người cũ kỹ chậm chạp và tiếng Tây nói mèng quá, họ không dùng. Với cái lối của anh nhanh nhảu, có duyên và lại biết thêm ít chút chữ Ăng Lê nữa, chắc họ phải lấy.
… Ừ, thì cứ lại xem, nếu không hay thì cứ cố ở lấy dăm bữa nửa tháng, chứ ai bắt bớ gì mà sợ. Suốt ngày nghe đàn ca của tất cả thế giới, của tất cả các nước, và lại có người trả tiền cho, anh còn muốn gì nữa? Chi có khi nào, có những khách hàng vào hỏi mua đồ phụ tùng của máy vô tuyến điện hoặc đổi vài cái bóng đèn thì trả lời người ta một đôi câu; còn ngoài ra thì cứ ghếch chân lên bàn giấy mà đọc tiểu thuyết phiêu lưu. Nếu tìm được khách mua máy thì lại còn ăn hoa hồng nữa...
Bạch nghĩ thấy cũng hay hay. Chàng bèn thử đi làm anh bán hàng thuê một chuyến xem sao. Hay ở, dở bước, chàng chưa biết thế nào, nhưng cuộc đời sắp sống, Bạch tin chắc sẽ chẳng giống trước và sẽ đem vào đời chàng một tí gì của lạ lùng, mới mẻ. Những mới lạ này có thể coi như là mới lạ của một con đường chưa bao giờ lữ khách được để gót giày tới.
Người đầm đứng tuổi thấy Bạch lanh lẹn và thạo chữ nghĩa, nhận chàng ngay. Công việc nhà hàng không có gì. Khách hàng cũng vắng vì kiểu máy vô tuyến điện này còn là một phương tiện chưa mấy người biết dùng tới. Thành thử, ngồi một mình giữa một phòng giày rộng rãi, thưa thớt mấy chiếc tủ kính đựng mẫu hàng, Bạch cảm thấy ngày giờ cứ chìm chìm tẻ tẻ mà hết, mà mở. Buồn quá, ngày hai buổi, lắm lúc chẳng có khách hàng vào thử máy, mà chàng cũng vặn hộp máy vô tuyến điện lên để cho nó ấm cửa hàng. Nhưng nghe những bài hát ngoại quốc, chàng chỉ thấy cái thống khổ càng tăng thêm. Chàng thấy nhớ cảnh tha hương. Chàng nhớ đến rất nhiều cái bến cũ. Cũng đàn, cũng hát như thế. Bạch không uống rượu mà cũng thấy trong người ngây ngất. Người lính thủy đổ bộ định đoạt tuyệt đời hàng hải để lập lại một cuộc đời thứ hai trên cạn, định xây chung một cái nhà với người yêu chẳng hạn khi nghe bản hát vẳng cái âm thanh cũ và xa xăm của bể hồ, thay đổi ý kiến và nguyện trở về với cảnh bồng bềnh, cũng chỉ sầu hận đến như Bạch lúc này thôi. Bạch phát sợ, khi chàng nghĩ tới những người có thể đem cả đời sống vào đây, chung thân làm một người thư ký bán hàng, ngày ngày nghe mãi một bản đàn đã thuộc lòng. Nhiều lúc phải vặn máy hát lên cho những khách qua đường để ý tới và vào xem, Bạch muốn đỡ sốt ruột, chàng tựa cửa nhìn sang phía cổng Thư Viện và sở Sen Đầm. Hà Nội có phố nào nhiều xe rộn rịp nhất thì là con đường thông cù[1] Trường Thi này. Xe hơi chạy đi chạy về như mắc cửi. Bạch nhìn thấy lắm chiếc xe hòm, mũi và đằng sau bun trát như tắm, chàng thấy thèm đổi chỗ vô cùng. Những cái xe to quá! Hàng tám, hoặc mươi, hoặc mười hai máy cả. Máy kêu ròn cứ như máy phi cơ phóng pháo. Vậy mà trên những cái xe rộng rãi, to lớn như thế, chỉ có một người đàn bà cầm máy. Một mỹ nhân Tây Phương tóc hoe hoe, da mặt ngăm ngăm dạm nắng dạm gió và ở cổ, một tấm khăn quàng màu đỏ lửa lựu tung bay. Họ là những người ở xa về và rồi lại sẽ đi xa. Họ luôn luôn khởi hành. Những cái xe mỗi trăm cây số ăn cứ hàng vài ba chục lít dầu xăng kia, nếu chẳng lăn mãi với đường trường, lên thác xuống đèo, thì dễ thường chỉ để dùng đi trong nội phận thành phố này thôi hay sao?
Trong cửa hàng, luồng điện phương xa ăn vào ống thu điện trong hòm máy gắt quá, máy nổ lộp bộp kêu rè rè và nấc lên như tiếng súc vật bị chọc tiết ở lò sát sinh. Rồi nó lại kêu xì xì như tiếng tháo hơi nước tắt máy ở động cơ một quả hồ lô lúc con lăn thôi việc nghiến đá trên một con đường đang sửa chữa. Bạch càu nhàu quay vào, vận lại cái núm luồng điện ăn nhập với hòm thu điện, máy lại đều đều mà kêu, mà phát ra đờn hát của tất cả đâu đâu. Bạch nhớ và buồn lạ.
Những lúc này Bạch đang sống giật lui và so sánh những độ đường cả thủy lẫn bộ đã được đi qua.
Những bạn thân của Bạch mỗi lúc xuống phố Tây, đi qua hiệu đây, tiện đường lại vào thăm chàng.
Được cái ở sở này Bạch có toàn quyền để tiếp bạn hàng và có thể dùng thời giờ tuỳ theo ý chàng, nên bạn Bạch hay lui tới để mặc sức mà nói phiếm. Mỗi lúc người đầm chủ hàng có tạt qua cửa hàng thấy Bạch tiếp đông người ăn mặc lịch sự như thế, lầm tưởng rằng đây toàn là những quý khách đến hỏi mua máy của hàng mình, kính cẩn xin lỗi và đi ngay. Bạch và các bạn Bạch nhìn theo người đâm và tùm tỉm cười. Chàng quay lại nói với bạn:
- Được cái ở đây cũng dễ chịu. Họ không xét nét mình. Các anh xem đấy: cửa hàng của họ mà như phòng tiếp khách riêng của tôi. Tên loong toong nhà này đưa thư của tôi tới các anh, mời các anh xuống đây chơi có lẽ còn nhiều hơn là chạy giấy cho sở.
Mọi người cười khà và quay vào nói chuyện, chuyện rôm quá. Cái lối nói chuyện góp ấy thì là chấp cả đồng hồ đấy. Bọn họ là hạng người không nhận thấy thời giờ là tiền bạc, không bao giờ kê nổi lấy thời khắc biểu trong một ngày của mình nên họ mới túm năm tụm ba lại luôn luôn như thế được trong một cửa hàng mượn làm nơi để tiêu hoang ngày tháng. Lắm bữa, đến giờ nghỉ làm việc, người loong toong đã tắt gần hết đèn hàng và lên xong dãy cửa lùa bằng tôn rồi mà Bạch và họ vẫn chưa chịu đi cho. Ở đây chẳng gì cũng còn ấm áp hơn ngoài đường. Ngoài đường bao nhiêu bộ hành rảo bước trong cái tê tái của tôi cuối thu sang đông. Trên mặt đường nhựa, gió đuổi là vèo vèo. Gió một mùa, đang giục Bạch và bạn hữu nên mau nghĩ cách gì mà nhổ neo đi. Cả những tiếng đờn hát vang kêu từ trong hòm vô tuyến điện nhà này cũng bảo họ như thế.
Một người bạn chia cho Bạch xem một cuốn sách vừa mượn ở bên Thư Viện kia, Bạch nhìn gáy sách mạ vàng mang cái tên một danh sĩ ngoại quốc nổi tiếng vì nhiều tập du ký, cười:
- Hình như gần đây anh hay đọc những loại sách này lắm thì phải. Hẳn có sự thay đổi lớn trong quan niệm nhân sinh! Mọi khi tôi thấy anh hô khẩu hiệu đả đảo rất tàn nhẫn những thằng giang hồ kia mà?
- Bao giờ?
- Tôi còn nhớ anh đã dùng một câu để thống mạ[2] họ. Anh chẳng gọi họ là bọn vô dụng, bọn phiến động, là những hòn đá lăn mãi để không bao giờ rêu dính được vào là gì?
Anh bạn làng chuyện, mở một trang sách, đưa cho Bạch đọc mấy dòng chữ in mà chàng đã lấy móng tay gạch xuống: “Hạnh phúc, có lẽ chỉ tìm thấy ở những nhà ga”. Bạch mim cười:
- Tôi đọc những câu như thế, thấy trong mình rờn rợn. Cũng như là nhiều khi được nghe một tiếng buông bắt gở lạ của người ca kỹ già, tôi thấy lạnh buốt ở xương sống. Có lắm câu văn nó đi thẳng vào lòng mình, được đọc đến, không khỏi rùng mình như khi nhận được cái báo hiệu của một trận ốm nào.
Câu văn đả động đến việc xê dịch trong kiếp người, đã đủ khơi mào cho cuộc nói chuyện về giang hồ. Những người có mặt tại đấy, đều nói cả. Mỗi người vài câu. Mỗi người đều phát ý nguyện. Họ đều đưa ra nhiều chương trình du lịch quá. Người thì rủ sang năm, mùa nắng, vào Tây Kỳ, trốn nắng ở vùng Cao nguyên Lâm Viên, nhân tiện chơi Đà Lạt nữa. Người thì cho thế không thú bằng đi Vân Nam Phủ. Ở Côn Minh, tha hồ mà ăn đào, lê, lựu, mận. Cứ trèo hẳn lên cây trong vườn quả, trả khoán độ mấy hào Tàu thôi. Và ở Vân Nam, có những tiệm trà Tàu chỉ bán nguyên có nước trà. Ở đấy không có đồ mặn, và không có ngay đến cả đồ ngọt bánh kem nữa. Đã dễ chịu chưa? Người thì rủ vào Chùa Hương ở hẳn ở đấy lấy nửa tháng, trước ngày hội, đi xem rừng mơ non và uống nước gỗ mai già với đám tăng lữ tại Chùa Trong.
Trong bấy nhiêu chương trình của các bạn hăm hở tìm một nơi để đổi chỗ ở trong những ngày sắp tới, Bạch chỉ để ý đến lời phát nguyện của Hồ. Hồ nói chậm chạp, hình như vừa nói vừa muốn thưởng thức luôn cả đến những cảnh mà anh đang vẽ bằng những lời thèm thuồng:
- Các anh thử tưởng tượng lấy một cái thung lũng Mường tiếng nước dồn quanh năm trong bóng mây đục sớm chiều lúc nào cũng đóng nguyên một chỗ. Rừng, mỗi mùa, lại thay đổi quả lành một lượt. Gió, ở đấy, mỗi lúc lên, là giục người ta phải sống theo ý hướng của mình, chứ đừng a dua bắt chước cái sống của người khác. Ngựa ở đấy là một người bạn đường trường, chứ không phải là một con vật thay một cái máy vận tải của đời cơ khí. Người con gái và những thổ dân có tuổi ở thung lũng ấy, không biết thắc mắc là gì. Các anh có muốn vào ở đấy độ một tháng để cho mình được gần nguồn tự nhiên, để cho mình đừng xa gốc quá, thì qua tháng hai trời ấm, ta tổ chức một cuộc nghỉ ngơi cho tâm hồn. Tôi quen những lang đạo vùng ấy gần hết. Chúng ta nên đến đấy mà đổi không khí và tìm lấy ít ngày thoát li cho lòng.
