favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

XXIII

XXIII

Trời tối. Bạch lần mò đến chỗ cầu chì cắm cái đầu dây ăn thông ra ngọn đèn để ở giữa bàn.

Một quả địa cầu chụp vào một cái bóng điện mỗi lúc cháy ở trong ruột thì cái vỏ bóng thuỷ tinh mờ lồng ở ngoài khẽ quay theo một chiều, đem trình bày ở trước mắt tất cả những phần đất Tân Cựu lục địa và hết cả phần nước của năm đại dương trên trái đất chúng ta ở này. Bạch đã sắm được tại một hiệu sách tây giá hơn hai ngàn quan - hồi ấy mới về nước, đồng tiền còn có dư luôn, Bạch tiêu không cần tính đếm. Xưa kia nó trong sáng, và cái bóng lồng ngoài đường vẽ tinh vi và cái màu biển xanh đẹp lắm kia. Giờ thì chỉ còn là một quả địa cầu nghèo. Phải bán cái đèn cũ đi để uống rượu chôn buồn giết buồn, chàng bèn nghĩ ra cách làm một cái đên địa cầu khác mà thế vào đấy.

Một tờ giấy tầu Bạch quét nhựa thông đã thế chân cho cái bóng đèn tròn kính mờ. Trên thứ giấy trong suốt nước nhựa ấy, Bạch đã mất công ngồi lấy bút nho tô vẽ hình các lục địa theo đúng như họa đồ địa dư, không thiếu một con sông, không thiếu một cái eo, một cái mũi, một cái vũng, và đến năm đại dương thì chàng tô một loạt màu xanh nhờ. Trong chiếc đèn, chàng để một bộ máy dây cót đồng hồ, mỗi lúc đèn đỏ thì dây cót luân chuyển và cả một cái đèn sáng ấy quay theo một cái trục. Ruột nó, cốt cách nó giống như một cái đèn kéo quân. Cốt bóng đèn làm bằng những sợi dây thép uốn cong. Bóng đèn sáng tỏ, những đường rất đen sắc lúc này biến thành những đường kinh tuyến đúng với độ số của bản đồ thế giới.

Trông cái đèn phất giấy nhựa trong có điểm những màu nâu và xanh, Bạch thấy nó gợi đến bóng dáng chiếc đèn lồng treo ở cửa một nhà khá giả Đông Phương lúc có việc hiếu và chàng lại càng khó quên được cảnh quẫn bách về tiền bạc. Từ khi bỏ con tầu bể, lên cạn giẫm mãi lên cái mặt đất quê hương, thực Bạch chẳng kiếm ra một đồng xu nhỏ nào. Mỗi một ngày qua là một ăn thâm vào cái vốn kiếm nên do sự cần kiệm mấy năm trên nước. Cái vốn ấy vợi lần lần và lòng cũng lần lần se thắt lại, tính tình Bạch cũng lần lần bủn xỉn thêm mãi và tinh thần lại càng thêm có sự suy mòn. Mỗi một ngày đi không trở lại, ông cụ Tô, Dung và thằng Phong, mỗi người lại đèo của chàng mất một ít sở năng. Và ít tiền cũng hết dần theo. Rồi đến những ngày bán đồ, cái một cái một.

Ngọn đèn lồng của địa cầu rì rì xoay quanh trục.

Cái đĩa máy hát vẫn rè rè thanh âm một khúc hát khàn khàn của thổ dân một bộ lạc mọi sống trên một thứ đảo giữa Thái Bình Dương. Bạch lại mường tượng nhớ đến phong cảnh đất Hạ Uy Dy.

Tiếng con võng vẫn kẽo kẹt nghiến khăng gỗ, hòa với tiếng mọt gỗ đục mổ ván gỗ lách tách như tiếng hạt ngô nổ trên chảo rang những ngày mưa phùn gió bấc ở quê đây.

Lòng Bạch tơi bời như sau một cơn mưa lã chã. Cái vỏ ngoài Bạch một thứ da ngăm ngăm mà sương cùng nắng gió kiếp giang hồ làm săn lại và ám lại như màu bồ hóng - muốn nẻ những đường rạn. Biết bao tâm sự. Nghĩ lại càng thêm...

Bạch kiểm điểm lại trong đầu một mớ tên những người bạn giang hồ đang vẫy vùng ở “bên ấy”. Cũng còn được mươi kẻ. Không rõ họ có tự hiểu là sướng không? Bạch ngờ rằng có một vài người trong cái đám thanh khí ấy đã được tin mình lập gia đình ở quê hương rồi. Chắc có kẻ sẽ lấy làm thương xót cho mình nếu họ không khinh bỉ mình là một tên lãng sĩ phản bội khi uất nghẹn lên đến cuống họng, một cái cuống họng mấy bữa nay đã cứng lại vì rượu cay ga và khói chát xít. Có những cái gì làm ngứa cổ, rát cổ và ứ lên đến cổ. Nhưng người ta vẫn thèm uống rượu, vẫn đòi hỏi đến rượu. Uống rượu vào, sầu có lắng xuống, thở khói thuốc, sầu có bay vắng đi trong khoảnh khắc, nhưng mà người ta thì bã ra có hàng mấy ngày.

Chiếc võng gai vẫn cố ru một người ốm rên ngủ đi, ngủ trọn một đêm, một ngày, một tuần, một tháng, một năm để chờ đợi một sự hiển linh gì xảy đến nhổ mình đi khỏi cái chốn đã lên mốc này, để lúc chợt được nghe một tiếng lên đường thì bừng tỉnh giấc và được thấy ngay mình cầm một gói hành lý và lao người mình vào một cái khung cửa tàu nào đấy chỉ chờ có mình đặt chân lên thì nổi hiệu còi và tức tốc giã cảnh giã người.

Chiếc võng phố Hàng Gai kẽo kẹt đến đêm nay là đêm thứ mấy? Và làm sao mãi đêm nay Bạch mới lại tưởng nhớ đến cái hình ảnh cô Hòa gặp lại trên ô tô ray ở xứ này?

Gặp nhau trong ô-tô-ray, lúc nhận được nhau là cố nhân, thì cố nhân có việc phải hấp tấp xuống chỗ chân cầu Bồ Đề. Hòa có dặn chàng lại chơi đằng nhà. Nhà ở đâu? Không thấy in địa chỉ ở danh thiếp. Phép tắc xã giao. Cứ kể ra tìm lấy đúng nhà một cô Hòa ở cái Hà Nội nhỏ bé này đối với Bạch không là một chuyện khó. Bạch tự hỏi mình xem có nên đi tìm lại cố nhân không.

Thứ nhất là Bạch lại biết nhà Hòa làm nghề kim hoàn. Xưa kia nàng đi ngoại quốc với một lô nữ trang đem bầy hội chợ. Cái nghề ấy vốn là nghiệp nhà. Nghiệp nhà hẳn Hòa vẫn giữ. Và bây giờ chắc Hòa cũng đã có một cửa hàng vàng bạc mới nếu không còn ở chung với cha mẹ. Nhưng có thêm một ngôi hàng kim hoàn nữa thì rồi cũng cứ phải tìm ra. Hà Nội đâu có phải là rừng mà một đứa đã từng bôn tẩu qua bao nhiêu là biên thuỳ và hải phận như Bạch rồi thì đâu có phải là một con chim lạc ngàn. Nhưng tìm Hòa để làm gì? Bạch tự hỏi.

Từ cái đêm thoáng gặp lại Hòa trên tầu rồi lại vụt mất luôn Hòa ở một cái ga nhỏ đầu cầu, có đến gần một tháng rồi chứ chẳng ít. Cái việc gặp gỡ ấy đi vào trong lòng Bạch rồi lại xuất ra khỏi lòng Bạch một cách thản nhiên quá. Cuộc trùng phùng xinh xắn như thế - một bên là giai nhân lãng mạn, một bên là người du sĩ thiên vạn cổ của bốn mùa nơi bốn phương giời - làm sao ngay lúc ấy lại có thể không lưu lại cho nhau được một vết thương gì trong lòng? Giá ở một người ít có dịp bồng bềnh, một cuộc tái kiến như thế, khỏi chi mà không ồn ào sôi nổi được. Người ta sẽ nhắc chuyện cũ một cách om sòm, xa vắng nhau thì ngày tơ tưởng, thì đêm mộng ước.

Nhưng đối với Bạch, cái thú gặp lại người xưa, cái thú chơi với cố nhân cũng không còn là tha thiết như ở lòng những người lành lặn bình thường khác nữa rồi. Phải chăng đấy là một điểm rất đáng buồn cho tâm hồn một kẻ lấy phiêu lãng làm cái lẽ cao nhất của ý sống. Vàng bạc, món ăn ngon, quần áo đẹp của một cảnh yên nhàn, phú quý không đủ làm cho người ấy sướng. Một người vợ hiền, một đứa trẻ dĩnh ngộ, một người bạn trai trung thành, một nữ tri âm và liên tài, một tâm tình đối với đất cát, đến bấy nhiêu cái giá trị về tinh thần, về luân lý, đem cộng lại mà cân, đối với Bạch, vẫn cứ không bằng được những giây lát lãng du, những cảm giác chuyển di linh tinh. Đi, tức là tất cả. Đi tức là hạnh phúc. Tất cả thèm thuồng, ham muốn, hăm hở của Bạch đều quy vào một mối, một ý đi. Còn bao nhiêu cái khác, Bạch vui lòng để phần, để dành cho người chung quanh. Riêng đối với chàng, những dục vọng về danh phận, những bổn phận và tình đối với đất cát quê nhang, những phụng sự về nghệ thuật, những vui sướng trong kiến thiết, nhất nhất chàng đều chểnh mảng cả.

Chàng chỉ muốn sống để được đi cho đến chết. Chỉ có chết thì mới nghỉ.

Nếu ở đời này việc luân hồi là một chuyện hẳn có, thì có được tái sinh chăng nữa, chàng cũng chỉ lại muốn có đi, lại làm một người giang hồ một đời nữa ở một kiếp sau. Nếu phải sinh làm kiếp chim, thì chàng muốn thứ chim ấy sống không cần phải làm tổ. Tổ của nó phải là cả một cái bầu trời. Nếu phải làm con cá thì con cá ấy sẽ không phải ở riêng cái hang của mình. Cũng như chim bằng kia phải lấy mây và tất cả các đỉnh núi cao làm nơi đi về không nhất định, con cá kình này sẽ lấy đại dương làm địa bàn cho cái kiếp bơi lội không cùng của mình, chỗ nào là thế giới của nước thì phải tìm đến cho được.

 

Thêm vào giỏ hàng thành công