XXII
XXII
Từ ngày phải nằm mọp ở nhà, chàng đâm ra quẫn, vì chẳng biết làm gì cho ra tiền và sự thực thì Bạch có thiết làm ăn gì đâu mà đòi kiếm được tiền.
Gần đây chàng đã phải bán dẫn những vật tuỳ thân. Bán nhẫn bạch kim, đồng hồ vàng, rồi bán cả đến những vật kỷ niệm thiết tha như là chiếc va-li Hartmann gì đó. Chiếc va-li này lúc mới mua cũng phải đến bốn năm trăm bạc Đông Dương. Bỏ được quần áo cả mùa rét lẫn mùa nực, đủ cho một người dùng đi xa mà không sợ thiếu cái mặc lúc trời giở giời, lúc trời thay mùa ở dọc đường. Dựng lên thì là một cái tủ áo, ngả xuống thì là một cái giường nằm. Đem bỏ cân, vỏ va-li nặng không tới mười ki lô. Cái va-li ấy còn đức tính đáng quý này nữa. Là gặp nước mặn lâu ngày cũng không bị han rỉ và cái lần da hóa học phủ ngoài không trương không bở mủn ra. Va-li mà đóng kỹ lại rồi, thì có vứt xuống hàng tháng, nước bên ngoài cũng không tài nào thấm lậu được vào ruột trong. Trời ôi, thật là một cái va-li lý tưởng cho một người lữ khách thiên vạn cổ ở cái thế kỷ thứ hai mươi này. Nó làm chết mất cái khăn gói vải muôn nghìn năm buộc túm bốn đầu của ông cha chúng ta. Cái va-li ấy mỗi lúc chiếc tầu của Bạch ghé Marseille hàng tháng, để nghỉ ngơi và sửa chữa những vết thương của viễn trình, mỗi lúc Bạch đổ bộ cho bắt-tê xách theo mình đi qua cái kho hàng của nhà đoan khám hành lý, là đã gợi thêm cho biết bao nhiêu người đứng đấy. Bạch nhớ lại lần ấy có hai vợ chồng người Tây trẻ tuổi kia - đâu người chồng là một công chức cao cấp sắp được bổ qua tòng sự ở thuộc địa - đã lễ phép giữ chàng chậm bước lại để dò hỏi xem chàng mua nó ở đâu. Chàng hãnh diện chỉ bảo và cắt nghĩa và lúc rảo bước, Bạch ngoái cổ lại vẫn còn thấy cặp vợ chồng trẻ đó nhìn theo mình với bốn con mắt đầy kính phục. Thật vậy, ở cái đời khoa học tinh xảo này, những quý vật đem phô ra ngoài, người tinh mắt phải nhận thấy ngay và tự nhiên phải căn cứ vào vật mà đánh cho người chủ nó một cái giá vô chừng. Chẳng thế mà lần ấy Bạch ra Havre, không một đồng xu trong túi, chàng vẫn cứ dám vào “Khách sạn Bắc Mỹ” là một khách sạn nhất nhì ở đất cảng này. Chàng vứt cái va-li mồi ấy ở giữa buồng giấy khách sạn gần cầu thang máy. Thế rồi cứ ở tràn, ăn tràn, tắm tràn hàng tháng mà chủ khách sạn không dám hỏi tiền buồng và tiền cơm và lại cả tiền rượu đãi những anh em làm tầu mà thỉnh thoảng chàng có dịp vui kéo về buồng trọ nữa. Bồi khách trầm trồ liếc qua cái hòm đắt tiền của cái ông quý khách mà họ gọi lóng là nhà “Kỹ nghệ Đông Phương” - họ nhẩm Bạch là một phú thương Nhật Bản vì thấy chàng sạch sẽ và lại đeo kính trắng gọng vàng.
Những lúc được đời giang hồ cho mát mặt trong chốc lát, thực Bạch chưa từng bỏ phí một dịp nào để giả vờ làm người giàu có, mặc dầu cái ảo tưởng đó chỉ đậu được có một tuần, một ngày và có lúc chỉ có mươi phút thôi. Lắm lúc chàng cho tụi bồi tiền đầu sai rất hậu. Tiền ấy cũng chẳng phải là Bạch đem của nhà đi mà vung vít ở đất nước người. Bạch vốn là một người bồi tầu bể lớn, mỗi chuyến con tầu chàng qua Viễn Đông, cả lượt đi lẫn lượt về, có khi Bạch kiếm được hàng mấy ngàn quan bổng ngoại. Chàng khéo chiều hành khách của hãng, ăn nói từ tốn, có duyên và trong câu chuyện hầu khách lúc tầu màn xế, có nhiều khi Bạch lại tiết lộ ra một chút tài học của mình. Nhiều bậc lữ khách bệ vệ, sang trọng, có ý ngờ Bạch là một du học sinh nghèo đi ra ngoài cầu học một cách công kiệm, vừa làm nghề vừa học và sự khuất nhục khi hầu hạ này cũng chỉ là một cái cớ của một thanh niên trí thức bị cái nghèo bó lấy cái chí lớn. Họ trọng thưởng Bạch. Và cái anh bồi Bạch trên mặt bể ấy, lại đem cái tài đó mà đãi lại những người bồi khác ở trên đất cạn, làm cho bọn này phải nhầm về cái địa vị của mình. Bạch cho như thế mới là đúng cái hành tung của một người chân chính phiêu lưu. Vả đấy chẳng qua là của thiên thì lại trả cho địa, mỗi người được hưởng chút lộc nơi bể hồ, có ai nghĩ đến sự cầm tiền cho nóng tay mãi mà làm gì. Cái lãi là ở chỗ khác kia. Cái lãi chính là ở chỗ mình được luôn luôn thấy mình sống với sự thay đổi kế tiếp ở chung quanh mình. Mỗi ngày rập rình trên khoảng nước mênh mang, dưới cái vòm trời lồng lộng là lòng mình lại được cởi mở thêm, hứa hẹn thêm và có lúc quá say vì sự sống, người ta muốn ca hát vang lên để ca tụng một đấng vô hình nào đã có công sinh ra mình để làm người mà được sống một cách lành mạnh và tự do như thế này ở giữa muôn loài.
Mỗi lần Bạch được thắng bộ vào và đưa cái va-li Hartmann lên đất liền nơi bến hoặc lại đi sâu quá nữa vào lòng một cái xứ nào, nếu tàu chàng đỗ lâu ở đấy, là Bạch lại vui vẻ mà phát tiền đầu sai cho đám bồi buồng ở khách sạn. Rồi chàng cũng đánh bạc, cũng mua hoa, cũng uống rượu, cũng lần nẻo thăm tình. Đi đến đâu cũng chỉ cầu mong lấy vui vẻ và gây được vui vẻ, cho nó bõ cái lúc chớp bể mưa nguồn, trong sương gió quanh năm, vẫn chỉ có mình trơ ra với cái tâm sự mình thôi.
Bọn bồi ở các khách sạn lớn ở các bến lớn thực đã có một lối riêng để dán vào hành lý người khách trọ những nhãn giấy in sẵn tên khách sạn. Có lẽ những đám bồi ấy đã ngầm kết thành một liên đoàn quốc tế nhân công khách sạn và những cách chúng dán nhãn hiệu lên va-li là những ám hiệu riêng để kẻ trước mách bảo cho đồng nghiệp sau biết rằng vị hành khách ấy là hào phóng hoặc keo bẩn và anh em nên trông vào ám hiệu ấy, liệu đấy mà hầu hạ cho vừa phải. Họ dán nhãn hiệu in tên tửu lâu, lữ điếm có lúc thì thiên thẹo, có lúc thì chân phương thẳng thắn, có lúc thì ở thành bên, có lúc thì ở ngay giữa mặt hành lý tuỳ theo cái đức tiêu tiền của mỗi hạng khách tá túc ở lữ quán họ làm việc.
Từ những cái bến trước, bọn này đã cho dán vào va-li Hartmann của Bạch vô số là nhãn giấy theo một ước lệ, theo một thứ tiếng lóng của nghiệp đoàn, giới thiệu ngầm với anh em làm bồi buồng ở tửu điếm hải cảng sắp tới rằng cái ông Bạch này là một người rộng rãi và anh em cứ nên ra công mà hầu hạ, ông ta sẽ không để cho anh em đến nỗi thiệt thòi đâu. Thành thử Bạch đã không đổ bộ với cái va-li Hartmann ấy thì thôi, chứ mỗi lần đưa va-li vào quán trọ thì người ta lại tranh nhau mà đỡ lấy, mà hầu hạ chàng như đối với một du khách phong lưu tột bực.
Trở về xứ, Bạch thấy mình đưa theo được cái va-li tuỳ thân ấy về thời vật báu đó của con người lưu lạc lúc quy cố hương cũng có giống như cái áo gấm của kẻ khác khi trở về cái làng chôn rau của mình. Những đồng bào thèm đi và không được đi cứ đọc những cái nhãn giấy in xanh đỏ dán chi chít chung quanh cái Hartmann là cũng đủ kiêng nể Bạch rồi. Thật là cả một kho địa dư chính trị thế giới, với những tên gợi cảm của các thủ đô lớn, hải cảng lớn mà chỉ những người có cái thói lang bạt kỳ hồ là mới tha cắp được về đến đây thôi. Riêng đối với Bạch, những nhãn giấy đó còn là những ấn chứng sót lại của chút phong lưu giang hồ mà Bạch tin rằng không có gì ở đây đánh đổi hoặc cướp đoạt được. Cái va-li đã quý giá lắm rồi mà những nhãn giấy in kia lại còn quý giá gấp bội. Cái tình của người lữ khách bỏ nhà ra đi trong bấy nhiêu năm trời, đem gửi tất cả vào đấy hẳn phải là nhiều, là rộng lắm. Ở đời có những cái kỷ niệm vụn vặt mà người ta không thể sưu tầm, một lần thứ hai nữa.
Vậy mà một buổi trời đẹp, chính Dung đã vô tình làm hỏng cả chiếc va-li của Bạch, làm mất giá chiếc va-li quý báu này. Nàng đã đánh rơi xuống thềm hoa một cái chén ngọc liệu, nàng đã đập tan một cái bình pha lê gọt. Hôm ấy, chồng nàng ngắm nàng, ngắm sự phá hoại, đã như điên như dại, đã muốn chém nàng ra thành hai đoạn.
Sau cái hôm tứ hỷ ấy, thật Bạch giận Dung còn gấp mấy mươi Hậu Nghệ nghìn xưa – cái ngươi Hậu Nghệ được lưu tên vào huyền sử bằng cái việc phi thường hạ một lúc chín con quạ lửa, tức là chín cái mặt trời, căm hờn người vợ ngu ngốc, dám tiểu tiện vào gốc cây đa thần để cây thiêng bay vụt mất lên trời, để đến nỗi người chồng tiếc của ấy phải bám theo vào rễ gốc cây bay, đành bỏ thế gian, đành theo cùng cây cổ thụ chui vào cung trăng với cái số phận một thằng Cuội. Chính hôm Dung làm hại Bạch, Bạch ngán ngẩm đứng nhìn cái va-li cũ của mình nghẹn ngào như một người sự chủ đứng trông những ngọn lửa cuối cùng thiêu cả cơ nghiệp nhà mình ra tro. Sau hôm tứ hỷ đám cưới Bạch, Bạch mệt quá vì mấy hôm khách khứa, chàng đánh một giấc ngủ trưa rất lâu. Cái nghề cô dâu mới về nhà chồng thường hay cất nhắc công việc nhà chồng, dọn dẹp luôn tay để tỏ ra mình là một người siêng năng. Hôm ấy trời nắng to, lục lọi đến những đồ vật riêng của Bạch, Dung thấy đáy va-li cũ ấy, lèm nhèm những mẩu giấy dán chỉ chít cả lên, bèn đem ra sân; lấy nước là thấm cho ướt bở những mảnh giấy sứt sẹo ấy và lấy khăn ướt lau chùi cho chiếc va-li cho nó được sạch bóng như một cái va-li mới mà lại. Rồi nàng mới lộn vào vất hết những quần áo của mình đưa về nhà chồng vào trong đôi hòm da đầy ăm ắp. Dung đã lấy làm đắc ý lắm khi nàng đem phơi đôi hòm da đen và chiếc va-li của Bạch ra ngoài sân. Ánh nắng cuối thu nhấp nhánh trên nước sơn đen đôi hòm cưới; nhưng ánh nắng ấy không linh động một chút nào trên làn da chiếc va-li cũ lổ loang từng đám - vệt hồ của nhãn giấy chưa chịu đi hết, mặc dầu sức kỳ cọ của một người đàn bà.
- “Ấy là đã lau chùi sạch như ly như lai rồi đấy. Cứ để như trước thì có mà phát lợm lên được”, Dung nhìn cái va-li của chồng tự nói với mình và tỏ vẻ hoan hỷ ra mặt.
Chờ Bạch dậy, nàng chỉ ra sân đúng vào cái đám hòm vừa cũ vừa mới ấy và hỏi chồng:
- Anh xem xem có khác trước không. Tôi lau mất cả một buổi.
Bạch hốt hoảng, nhảy một cái từ trong nhà ra sân: đứng giữa trời nắng chang chang mà kêu lên chỉ được có ba tiếng “Giết tôi rồi!” rồi lịm dần người đi. Chàng cúi sát xuống mặt chiếc Hartmann, ở đấy còn hoen những hình chữ nhật in dấu hồ và lổn nhổn những viên bột giấy tròn đét lại vì nước thấm và vì sự kỳ cọ khi nãy. Thôi bây giờ còn biết nói thế nào. Chẳng nhẽ mới lấy nhau mà Bạch đã đem Dung ra mà dày vò, mà mắng nhiếc, xỉ vả sao? Bạch đứng trước cái va-li buồn thiu có hàng nửa giờ đồng hồ, mồ hôi toát ra đầm đìa, dáng điệu bơ phờ thương xót như một người quyến luyến với một cố nhân già đang thở hắt mãi ra để mà về trời, mỗi một phút qua là làm giá lạnh một đoạn mình mảy tái xám thêm lại. Bạch cứ thế mà điếng cả người đi cho đến suốt ngày hôm sau, không ăn được, không nói được, không ngủ được. Lúc nào Dung cũng ở bên cạnh chàng, xun xoe, lăng xăng và luôn mồm hỏi han:
- Anh làm sao thế? Anh làm sao thế? Để em lấy thuốc.
Giương đôi mắt cầu cứu, Bạch nhìn vợ mới cưới có ý thầm van lơn nàng đừng nên hỏi dồn nữa. Có trời mới cắt nghĩa nổi cho Dung là tại sao mà chàng lại lăn đùng giẫy giụa như thế. Khổ quá.
Được cái ông cụ lang gì mới lại giết người nữa. Cứ đòi bắt mạch mãi. Rồi bắt uống thuốc do tay cụ kê đơn. Cụ gọi là bệnh cảm thử và cũng là may đấy, nếu không sớm gặp cụ, thì chẳng mấy nỗi mà thành ra phong nhập lý mà đi đứt. Chẳng thà đi đứt, Bạch ngẫm. Mình chết còn hơn phải sống để mà ngắm cái va-li của mình đâm ra thành tật.
Dung nhanh nhẩu hầu chuyện cụ lang già vốn là chỗ đi lại quen với cụ Tô:
- Thưa cụ dạy thế có lẽ đúng đấy. Hôm qua chả nhà con ra xem phơi phóng đồ đạc ở ngoài sân nắng, đứng nắng có đến nửa giờ mà lại không đội mũ miếc gì cả
Đang sốt nằm trong chăn, Bạch giận quá, phải tung chăn ra mà nói mát một hồi vào giữa mặt người vợ non dại và giữa cái bộ râu bạc của một cụ lang quá giản dị kia. Cụ lang đứng dậy, trịnh trọng bảo Dung:
- Coi chừng. Mợ phải coi chừng lắm, không có cậu ấy đâm ra nói mê đấy. Tiết nắng cuối chầu này độc lắm. Ở trong làng, có lắm trai tráng chỉ đi có từ nhà ông lý về mà cũng nằm lăn đùng ra đất rồi đâm ra mê sảng, trông hãi quá.
Mãi về sau này Bạch mới nhận ra cuộc hôn nhân là một cái ách tự mình quàng vào cổ, nhưng ngay ngày đầu tiên ấy, bị hỏng cái hòm giang hồ, Bạch đã ngờ ngợ thấy đó là một cái điềm gì rất xấu, rất không hay, rất dữ cho sau này rồi. Chàng đành cam chịu và tịnh không có giảng cho Dung biết tại làm sao, cái hôm đứng ngắm va-li ở ngoài sân mà mình lại có thể chết ngất đi đến thế. Cắt nghĩa mà làm gì nữa. Có bao giờ người thân trong đời mình lại hiểu được mình. Chính ra, là người thân thì lại càng không rõ một tí gì về mình. Họa chăng thì chỉ có kẻ xa lạ gặp có một buổi chỗ quê người là chịu hiểu mình hơn hết. Cái giống tri kỷ lại chính là ở trong cái đám hàng xứ, ở chỗ bốn phương trời tản mạn. Chao ôi!
Cho đến ngày nay có lẽ Dung cũng không bao giờ nghĩ đến cái tình tha thiết của chồng mình đối với cái va-li ngày cũ nọ. Bạch nghĩ đến chiếc Hartmann, lúc mình sống với thiên hạ thì oanh liệt thế, lúc đem theo nó về cái xó quê hương này thì nó bị chính tay vợ mình nhục mạ nó một cách quá khôi hài như thế, chàng nửa muốn khóc và nửa muốn bật như cười.
Nhân có một ông dân biểu còn ít tuổi đã từng qua Pháp, một lần tìm đến hỏi mua chiếc Hartmann mà các hiệu ở đây không có, Bạch bèn bán quách. Ông ta từ khi dân đẩy ra gánh lấy việc nước, phải đi luôn, lúc Sài Gòn, lúc Huế, lúc lên các tỉnh mạn ngược. Phải đổi chỗ luôn và được đi tầu vé hạng trên, ông ta lấy làm thích cái hành lý đó lắm. Được cái biết người biết của, Bạch đòi ba trăm, ông không cò kè, xỉa ngay ba tấm giấy lớn. Nhân biết Bạch là người đã trôi nổi ở hải ngoại nhiều, ông hỏi sao va-li này lại không có những nhãn in, sao các khách sạn “nó dán vào cho ít cái con bướm in đó thì khéo biết mấy”, Bạch lúng túng trả lời rằng “họ” vô ý đem xé, đem bóc đi hết nhăn. Người chủ mới chiếc Hartmann nổi giận một cách thành thực:
- Vậy chớ “họ” là ai mà “họ” lại có cái lối chơi phá hoại một cách chướng như thế?
- Dạ, thằng bếp ở nhà nó không biết gì cả, đem ra lau chùi và cậy hết. Lúc tôi về thì cái hòm đã sạch sẽ lắm rồi.
- Những thứ người như thế, ông không nên dùng. Phải đuổi ngay ra khỏi nhà ông ạ, nếu ông cho phép tôi khuyên ông. Giữ những người ấy trong nhà là rồi còn mang lấy vô khối tai vạ. Tôi tiếc quá. Tôi đã được đi ra ngoài, tôi biết lắm. Có tiêu mất hàng bao nhiêu rồi thì người ta mới dán vào hòm cho mình những cái giấy in ngũ sắc đó. Uổng quá ông Bạch nhỉ.
Vừa bán xong chiếc va-li mồi, thì người giang hồ ấy, có một hôm lại gặp dịp bán nốt chiếc phong vũ y. Bạch dịch luôn ra và thường gọi cái trench-coat của mình như thế.
Bạch cũng không nhớ tên và cũng chẳng cần biết đến tên cái người mua áo cũ đó làm gì. Đâu hình như y là một người điền chủ trẻ tráng, sinh cơ lập nghiệp ở một tỉnh trung du đất Bắc. Áo hai lần lót, một lần cao su, một lần lụa, đều tháo rời riêng ra được. Y thích nhất là cái lần vỏ áo, dệt bằng sợi gai đánh săn lại, mà mềm và mịn như thớ sợi tơ. Dai lắm. Nhẹ lắm. Mỏng lắm. Gấp lại lúc chưa dùng đến, bỏ hòm, nó chỉ cộm lên không hơn bánh rưỡi thuốc lào.
Cảm vì cái dĩ vãng của người thất thế ấy lúc phải ruồng bỏ một chiếc áo cũ đầy hơi hướng của mình, kẻ kia lúc trả tiền cho Bạch, đã trả cho chàng theo giá áo lúc còn mới nguyên. Và nói một câu làm mất nhiều thời giờ của Bạch. Lẩm cẩm và lôi thôi quá.
- Ổ, như các ông thì còn vô khối dịp ra ngoài và tìm đến tận tổ mà mua áo mới. Ở xứ này không tài nào tìm được cái marque ấy. Hồi anh cả tôi đi du học về, cũng có đem theo được một chiếc về, dùng qua mười mấy năm, mà đến bây giờ áo vẫn không chịu xơ mòn, cái lần trắng ngoài càng giặt giũ càng mờ mặt. Tôi ướm thử thấy nhẹ nhàng thoải mái lắm. Anh tôi thấy tôi thèm cái marque đó, có đổ thách và bảo cho tôi biết là kiếm thế nào ở đây cũng không ra được cái thương tiêu ấy. Tôi cũng có ý định nếu không tìm được hàng đó, thì nhất định không sắm tơi đi mưa. Đành dùng áo cao su vậy... Này, tôi cũng có một cái tính nó quen đi đấy ông ạ. Là tôi không biết kiêng những hơi hướng người khác đâu. Lần ấy ở tỉnh tôi, có ông Tây Phó xứ ấy chết bệnh già, quần áo ông, đem bán đấu giá, tôi mua rất nhiều.
Người giang hồ phải bán hành lý của mình ngay ở trên một khoảnh đất quê hương: một bài thơ buồn.
Người sương gió phải bán đến cái áo tơi, trong những lúc nằm khàn giữa những người thân yêu mình để mà lắng thấy trong tâm mình đang có một trận mưa rả rích: cũng lại là một bài thơ buồn nữa, không dài hơn không ngắn hơn.
Thế này thì càng ở nhà, lại càng bày ra trò thất nghiệp. Xúc cảm quá, Bạch đã làm được hai bài thơ. Đả động đến chiếc va-li, chàng đã làm một bài từ khúc. Đả động đến chiếc áo tơi, chàng đã làm một bài cổ phong. Nếu những vật tuy thân kia lại có dịp được trở về với chủ cũ thì chiếc va-li sẽ là một hòm nước mắt và áo tơi kia - lệ thẩm thấu ba lần vải - còn dầm dề gấp mấy cái áo lụa xanh khi Bạch Lạc Thiên khóc người đẹp gặp một đêm trên cái bến Tầm Dương.
Nhưng mà những lời thơ ấy đã buồn quá cái sự đáng buồn. Bạch không muốn tình cảm của mình phải nhũn đến như một sợi bún. Chàng muốn là một người có năng tính.
Muốn được đi cho nhiều, chàng đã từng phải tàn nhẫn với bao nhiêu là trời nước đẹp đẽ cùng là biết mấy mươi cái tình đầm thắm thành thật cứ thỉnh thoảng lại thấy trên một cái bến nào đấy. Chàng đã phải hy sinh đến những cái vô giá ấy để được thảnh thơi mà trôi giạt trên dòng phiêu lưu. Đến những cái vô giá ấy mà Bạch còn không dám tiếc, huống hồ giờ chàng tiếc chi đến một cái hòm cũ và một cái áo cũ. Lúc nào cần đến và thừa tiền thì lại mua chứ sao.
Chàng an ủi mình và cầm lấy số tiền bán gần hết những vật tuỳ thân lúc lữ thứ đó. Bạch lại đi mua rượu và thuốc lá trữ sẵn đấy để những buổi chiều nào buồn tràn ngập đầy người, sầu uất thấm qua khắp da thịt thì chàng lại đem ra mà uống dần hút dần. Một người của giang hồ khi bị gạt rạt lên cạn thì chỉ còn biết đánh đắm cái dằng dặc, cái rười rượi của lòng vào đáy một cốc rượu xanh rượu đỏ, hoặc nhờ ít khói lam của hơi thuốc thở ra treo hộ cái mồm sẩu của mình lên cho cao, cho cao nữa, càng cao nữa, càng cao càng làm cho người ta tạm quên được cái mặt đất tầm thường này đầy những vướng víu oan nghiệp.
