XXI
XXI
Hổi này Bạch ít khi đi vắng khỏi Hà Nội. Chàng năng ở nhà với cụ Tô, Dung và thằng Phong. Chỉ có mỗi tuần chủ nhật, chàng lại để dành riêng một ngày nào đấy để lên ở trên cái gác riêng phố Hàng Gai lấy một ngày. Ít ra là đúng một ngày một đêm. Ở cái gác riêng phố Hàng Gai, trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ ấy, Bạch chẳng làm gì cả. Chàng chỉ nằm dài trên cái ghế bố – cái ghế này cũng là một chút kỷ niệm cũ, nó đã bao lần được đặt trên bao nhiêu cái boong tàu bể. Bây giờ đặt nó trên một cái gác con vắng vẻ, trên một chỗ bằng vững, nhiều buổi duỗi mình trên ghế bố, Bạch muốn cái ghế này tự nhiên rùng mình lên như những ngày nào được ở bể, nằm cho tay xuống gáy mà nghe bọt sóng tan và nhìn mây trời và lũ hải âu.
Chàng cố nhắm mắt lại để cho ngoại vật đừng làm đãng trí mình, để nguyên cho tưởng tượng mình được làm việc cho tới kết quả. Chàng muốn tạo lấy một chút ảo tưởng về cái cảm giác rập rờn, rung rinh, lảo đảo nghiêng ngả xảy đến quanh năm suốt tháng cho những cuộc đời trôi thả trên bể động.
Chàng lim dim mắt, nhỡn tuyến dán hẳn vào tấm bìa lịch khổng lồ in hình một cái tàu bể ba ống khói điểm đốm trắng trên cái toàn khối xanh biếc của bức họa quảng cáo, bể cũng xanh và trời cũng xanh. Quá nửa đời người, Bạch đã bị hai cái màu xanh này chi phối tâm và óc.
Bạch xuất hết cả năng lực tinh thần ra mà chú mục vào cái ảnh con tàu đại dương đóng ở trước mặt. Chàng định thần nhìn, như một người tập phép thôi miên, những lúc chăm chú nhìn một cái khuyên đen, một cái vòng tròn vẽ vào tấm vách. Chàng cứ nối thuốc mà hút, mà nhìn mãi con tàu đại dương, chờ đợi một sự linh hiển của ảo cảnh. Sự hiển linh ấy đã đến. Có những cái gì ở tấm bìa lịch đang dần dần có sinh khí. Cái tầu bể đang chết trên tấm bìa lịch bỗng dưng sống như con tầu thực. Những đường viền vỏ tầu đen sì bỗng dưng nhòe dần rồi cựa quậy. Cái lòng thèm khát trôi nổi của một người đang nằm dài ra đấy bỗng dưng đã thổi được sinh khí vào một vật chết trên bức tranh tầm thường. Cái tranh in đổi màu sắc và vật trong tranh cũng đổi chỗ. Tâm tưởng và thị dục đem thôi miên nó thành ra một hình trạng của màn ảnh chớp bóng có cử động hẳn hoi. Cái tầu đại dương đang chạy từ từ trên cái bìa lịch, đang chạy trên bức tường vôi! Mùi con tầu cũng cầy xuống sống bể xanh và cái nền trời xanh hồi nãy im lìm như những buổi hoàng hôn oi ả không có tí gió ở vùng gần xích đạo, bây giờ cũng có lớp mây dao động, cũng có vẫn lên những vờn khói trắng. Sự thực thì cái khói tưởng tượng ấy, của một cái ống khói mơ ước chỉ là chút khói thực tế của điếu thuốc lá mà Bạch đang hút một cách mê mải.
Trong cảnh tịch mịch một gian gác chỉ độc một người nằm im để mơ mộng nhìn một cái bìa lịch của một hãng hàng hải luân thuyền, Bạch đang đem ngay mấy thước ruột khô héo của chính lòng mình ra để làm dây đàn, bấm khẽ, một khúc Giang Hồ Tương Tư.
Trên đất bằng vững khu phố Hàng Gai, thu lại giữa một gian gác trọ mà sóng gió cũng ì ầm một cách mơ hồ quái dị. Cái tiếng sóng bể trong tranh cuốn lịch treo trên tường đi thẳng vào Bạch và cái sóng lòng một người phiêu lưu nằm dưỡng bệnh ở đây cũng được gửi hình ảnh một con tầu gợi cảm. Từ người đến bìa lịch và ngược lại, đang có sự giao cảm. Trong cái không khí nhàn nhạt và bình lặng của nhà gác, đang có sự hỗn hóa những luồng điện quái ảo của một thế giới lưu đãng hay phát sinh vào những ngày khủng hoảng. Bạch đang quên cả thời gian và mất cả ý thức về không gian. Cái cửa sổ ở tay trái sao nó lại không có hình tròn? Và tưởng tượng mạnh mẽ của chàng còn trổ thêm vài cái lỗ tròn hóng gió nữa vào tường để phòng này trở nên một cái ca bin tầu bể. Thế rồi mũi chàng đánh hơi thấy mùi thơm của mùi sơn nhựa thông. Thế rồi cả gian phòng lại còn tràn ngập một mùi tanh tanh của gió bể. Trong mùi tanh xa xôi ấy, lẫn cả mùi mặn chát của muối bể. Thế rồi Bạch còn lắng thấy cả tiếng chuông báo hiệu gọi thuỷ thủ và người làm dưới tầu nghỉ tay đi ăn cơm. Gian gác bỗng rung lên nhè nhẹ như một toa hỏa xa đang lăn bánh sắt. Gian gác bỗng cựa mình và tròng trành như một cái boong tầu bể đi vào gió thổi trên khối nước thiên vạn cổ trôi chảy không bao giờ mỏi mệt.
Điếu thuốc rơi, cháy vạt áo pyjama, Bạch choàng dậy. Chàng nhìn cái ghế mây dài, thấy mình là ngốc khi phải dùng đến nó để làm vật bài trí cho gian phòng đặc biệt này. Ừ, sao chàng lại không mắc ở đây một cái võng gai có hay hơn không? Thêm cái võng nữa, thì phòng này sẽ có thêm cái không khí của người lính thuỷ.
Thế là tuần chủ nhật sau, gian gác đã có thêm một cái võng gai bắt chéo ở giữa phòng, từ đầu tường bên đây qua đầu tường bên kia. Mà cái võng này lại chính tay Dung mua cho Bạch. Người vợ đã vô tình đi ru chồng theo một điệu đưa của sóng bể.
Hôm Dung đi chợ phiên Hà Đông về, thấy Bạch đang ngủ vội lay chồng dậy. Dung vui đùa như một cô con gái còn cặp tóc. Nàng cù Bạch và dựng chồng dậy. Bạch choàng mở mắt, mặt nhăn nhó. Trời ngoài sân nắng tràn ngập cả khoảnh vườn, cây và cỏ đều chín nẫu cả. Bạch nhìn vợ, không rõ tại sao vợ mình lại đùa và nhí nhảnh đến thế. Từ ngày làm bạn với nhau, vợ chồng có mấy khi đùa nghịch. Trái lại, Bạch thường hay tránh mặt vợ và Dung thì có nét mặt kẻ tử vì đạo, dưới cái bình tĩnh cặp mắt, nàng cố hết sức giấu kín những hờn oán thầm lặng.
Bạch díu nét mặt lại, càng ngắm Dung cười nói, chàng càng nhận ra Dung là một người đẹp trong hiền lành. Thật là một cô thôn nữ đi chợ trưa về. Cả một cái rực rỡ của lửa mùa hạ còn đọng trên đôi má Dung. Vài sợi tóc mai dính trên thái dương xâm xấp mồ hôi. Một cái quần lĩnh tía cặp nhiễu cánh sen, ròn cứng lại vì hun nắng đường xa từ chợ về, càng kêu loạt xoạt và Dung càng lướt qua giường Bạch nằm, thì người chồng vừa tỉnh ngủ ấy lại thấy hơi choáng váng vì chút hâm hấp ở người Dung đang tiết ra trong một mái nhà tranh vắng người. Cụ Tô đi đâu từ sáng và thằng Phong thì đang đẫy giấc. Chỉ có tiếng gà gáy trưa ở xa, và gần sát người Bạch thì là cái tiếng loạt xoạt của thứ hàng lĩnh ròn vì nắng ngoài đường. Dung vẫn cười nói nhí nhảnh như một người trẻ tuổi sung sướng vì được cử động trong một cảnh gia đình do mình tạo nên. Bạch ngây người ra mà nhìn vợ, lặng thinh không nói gì. Bỗng chàng cúi mặt xuống, vội sóc lại quần áo mình quá lỏng lẻo lúc ngủ quên. Bạch hơi xấu hổ vì chút cảm giác nhục dục vừa thoảng qua, một buổi trưa hè nhà vắng, vợ chàng có đôi má ửng hồng và một cặp quần tươi thắm.
- Tôi mua được cho anh rồi đấy.
- Mua cái gì?
- Võng. Cái võng gai. Chọn mãi đấy. Đi khắp cả chợ mới tìm được một cái sợi đánh săn như thế. Tôi tưởng đừng nên để mộc. Đem ngả nâu đi.
Vừa rồi Bạch thoáng có cái ý thèm muốn Dung cũng như một vài lần ấy, lúc giang hồ, chàng đã được ôm ấp lấy vào lòng trong một đêm tầu cập bến, những người đàn bà không có tuổi, không có tên, không có địa chỉ thường lẫn quất ở các miền duyên hải để kiếm tình, để kiếm tiền. Chàng lấy làm ngượng vì cái ý nghĩ dâm bôn ấy và tự trách mình đã làm tủi đến đức hạnh của một người nội trợ. Chàng có ý phàn nàn cho cái luân lý đặc biệt của một kẻ đã quen cái thân giang hồ đi rồi. Vì ngượng, Bạch đâm ra nói xẵng với Dung:
- Sao lại ngả nâu? Võng đang mới, trắng như thế này việc gì mà nhuộm nâu?
Dung ngạc nhiên vì thấy Bạch nói to và gắt nữa. Nàng đấu dịu:
- Nếu không nhuộm thì để mộc vậy, có khó gì. Em tưởng có thằng Phong, thỉnh thoảng dở tay, đặt nó vào võng, thì nên ngả nâu đi cho nó sạch...
- Ai mắc võng ở nhà này mà định cho thằng Phong ngủ. Để đấy. Người ta mang lên trên gác phố Hàng Gai đấy.
Sao anh không nói ngay để tôi mua hai chiếc luôn thể. Thế mà tôi cứ tưởng... Thôi được. Để phiên chợ sau tôi kiếm một cái khác cho thằng Phong vậy. Chứ bây giờ chợ gần tan buổi họp rồi, có ra đến nơi thì hàng võng gai họ đã dọn hàng về cả.
Dung bẽn lẽn, lánh xuống nhà dưới. Bạch định ngủ lại, nhưng hối hận linh tinh làm cho chàng no cả mắt và lòng chàng đẩy những bực mình.
Ngoài sân, bóng nắng đã lệch. Bạch bắt đầu cảm thấy cái nặng nề của buổi chiều gia đình. Ở ngoài Hà Nội có lẽ phải nhẹ nhõm hơn ở đây. Chàng bèn gói ghém chiếc võng gai lại, ra đi và dặn Dung đừng đợi cơm. Dung nhìn theo Bạch bước ra khỏi ngõ và bất giác nhớ đến những lần Bạch hấp tấp vì tiếp được những cái dây thép xanh xanh.
Loay hoay mất cả một buổi chiều, Bạch mới mắc xong được võng. Cái võng mộc, sợi gai trắng đẹp như thế mà Dung lại có ý đem nhuộm nâu đi thì thực là lẩm cẩm quá. Bỗng chàng lại ngờ cả sự phê bình của mình, chàng ngờ mình không được công bình. Không rõ Dung có thực là lẩm cẩm, hay là tại chàng vốn oán ghét Dung mà rồi có sự thiên lệch trong xét đoán, mà rồi đâm ra nói xấu vợ trong lúc vắng mặt? Nghĩ cho cùng, Bạch lại chỉ thấy Dung là đáng thương hại, người đâu mà bình dị quá. Người bình dị như thế mà lại lấy phải người chồng phiền phức như chàng thì hai đứa có thắp đuốc mà đi tìm suốt cả đời cũng chẳng bao giờ thấy được hạnh phúc. Nếu thực có một ông trời, thì kể cái ông trời ấy cũng đã giỏi thừa trừ và khéo xe thực.
Bạch đưa võng đã khá lâu rồi mà những cảm giác nao nao gây cho xác thịt cũng không xua đuổi hết những ý nghĩ phiền muộn về đời Dung, về đời mình, về tương lai của hai đứa phải miễn cưỡng sống gần nhau. Ban nãy Dung nói là tưởng mình bảo mua võng về để thỉnh thoảng ru cho con nó ngủ cho đẫy giấc, cho chóng nhớn, cho chóng thành người. Dung chẳng hiểu một tí gì sốt. Người chồng nàng, làm gì đã có thời giờ để săn sóc đến con thơ. Bây giờ chàng đang thiết tha về đời sống của chàng cũng chưa xong nữa là. Trong cái gia đình rầu héo này, nếu có một người nào cần nằm võng cả ngày thì người đó phải là Bạch. Để được di dưỡng cái tinh thần trôi giạt, bập bênh của mình cho nó giống như những ngày cũ lênh đênh trên nước có sóng, lúc này ở cạn để chờ đợi, Bạch muốn nằm ỳ ra trong lòng cái võng này cứ chao đi chao lại cho liền liền.
Tiếng võng đưa kĩu kịt nghiến mãi vào con khăng gỗ đầu võng gợi nhắc đến tiếng đưa võng của một bụi tre già những ngày gió hè. Từ ngày về ở dưới gối cụ Tô, Bạch đã khổ vì cái tiếng kĩu kịt của một cụm tre mọc ở đằng sau nhà, tựa vào một cái luỹ đất nơi quê hương. Cái lùm tre không ấm bụi ấy, mỗi lúc có gió lên, lại cọ vào nhau mà đay nghiến, mà than khóc. Lắm cây tre già cần quá, kiến đục những lỗ hổng rất to xuyên thấu đốt tre khô nỏ, thân tre biến thành một cái ống tiêu vĩ đại. Gió mùa hè, mỗi lúc dồn vào những thân tre già mọt này là lại gây nên một khúc địch rỉ rền. Gió nổi lên trên cánh đồng lúa, thấy ngọn lúa nhấp nhô, chập chờn lượn chạy. Bạch nhìn sóng lúa đồng, lại tưởng nhớ đến một cái bể cả và động đến tấm lòng bốn phương. Tựa cửa nhìn cánh đồng xa động đậy sau nhà, Bạch còn khổ thêm vì những tiếng sáo thiên nhiên nó như van xin chàng hãy khá thương lấy những người thân yêu nhất trong đời chàng. Bỏ họ lại, giũ áo ra đi, thì có người đến chết theo chàng mất. Tội lắm. Bỏ thì thương vương thì tội. Thành ra bất cứ buổi trưa hay buổi chiều tối có gió nồm nam, mỗi lúc gió lên là Bạch lại thấy đau khổ trong lòng và buồn đến nhức cả ống xương nơi người. Cái tiếng sáo tre khô tuyệt vời ấy, là cả một khúc nhạc ăn nhịp với thứ kèn đám phường già nam, nó hợp với cái tình tiết rối lộn của một tấn đại bi kịch đang diễn trên sân khấu trong lòng một kẻ giang hồ bất đắc chí.
Rồi Bạch đâm ra sợ cái bụi tre ở sau nhà. Có hôm chàng đã phát khùng lên vác con dao bẩy ra định đốn hết cả bụi. Cụ Tô cho chàng là một đứa con bạo ngược lấy làm giận lắm, ra ngăn không cho Bạch chặt phá.
Cụ nói mát:
- Cái bụi tre đó là của ông nội ngày xưa trồng để cắm hướng nhà. Thày bao nhiêu tuổi thì bụi tre ấy cũng được bấy nhiêu năm. Từ ngày anh về nhà, khoảnh vườn anh nghĩ xem đã trồng nổi vào cái nhà ta thêm lấy cây gì chưa? Mà bây giờ anh ra chiết cây bẻ cành cho nó đang.
Thấy dưới bụi tre dăm sáu cái măng bị con dao của Bạch làm bật cả lần vỏ ngoài, cụ cười:
- A ha, tre già măng mọc! Mọc cho nhiều vào cho nó ấm bụi.
Bạch xách dao trở vào, trong bụng tự nghĩ rằng một ngày rất gần đây, chẳng cần phải triệt hạ tre, chàng cũng sẽ hết phải nghe theo cái bụi cây ấy thổi giọng than rầu. “Ra được giữa cái bể lớn, thì mới hết cái ám ảnh này. Có giỏi thì những cây tre này theo ra đấy mà mọc”. Chàng lại trách thẩm mình sao đang phóng phiếm nhẹ nhàng như thế, bỗng chốc trở về trong cái luỹ tre xanh nơi quê cha đất tổ làm gì, để cho thêm bận lòng như thế này.
Bạch lấy chân đẩy võng. Cứ phải liên tưởng đến những chuyện vụn vặt ở gia đình, chàng lấy làm dậm dật khó chịu quá. Chàng đứng dậy quay máy hát, đặt một cái đĩa có một lối ca rất nhộn nhịp huyên náo. Bạch muốn mượn đến những ồn ào bên ngoài để đàn áp bớt những rạo rực trong lòng mình. Chàng cho là may quá vì hôm vừa rồi nếu bán cho Hồ cái máy hát này thì bây giờ lấy gì mà giải được buồn, mà làm tan được u uất trong lòng.
Chiếc máy hát hết dây cót, thanh âm bản hát kéo rề ra, nghe khàn khàn chua chua rồi ú ở như tiếng con bò hấp hối ở góc bàn xi-moong lò sát sinh. Cái kim máy kêu đánh xoẹt như tiếng xé vải. Máy hát nín và gác vắng trở nên lặng như tờ. Buổi tối đã đến. Bạch cũng chẳng buồn bật đèn.
