XVII
XVII
Dung không khi nào ngờ Bạch lại ngồi trước mặt mình, nằm bên cạnh mình để tìm cớ nói xấu mình. Nàng cứ dửng dưng, nàng cứ thản nhiên, bởi vì nàng là một người đàn bà đơn giản. Và người đàn bà đơn giản ấy đã làm cho một người đàn ông phải bực dọc luôn luôn, bởi vì tâm hồn người đàn ông ấy phiền phức vô cùng. Bạch muốn ích kỷ, rồi lại thương vợ, rồi lại muốn ghét vợ. Chàng muốn ghét Dung và lấy cái ghét ấy để phá vỡ một sự gắn bó nguy hiểm, để cho mình đỡ bận vì người khác và người khác cũng đừng làm bận đến mình. Khi mà Bạch không phải yêu thương người nào hơn là chỉ yêu thương có một mình chàng thôi thì Bạch lại tha hồ mặc sức mà sống với hoài bão của chàng. Nghĩa là chàng có quyền đi mà không bao giờ phải nghĩ đến ngày về hoặc đi mà không bao giờ phải đắn đo từ biệt ai cả. Chứ còn như thế này... Ngồi trên một con tàu mà cứ phải lo nghĩ băn khoăn về một người có quyền nhớ mình, có quyền buồn bã vì mình và nếu người ly phụ ấy lại ốm tương tư nữa thì bao nhiêu trách nhiệm sẽ đổ cả lên đầu tên lữ khách đã phạm vào cái tội lãng mạn thèm nhớ một con đường dài, mơ tưởng đến một vùng nước rộng.
Bạch muốn làm án cho Dung để tìm thế nào cho rõ rệt một cô Dung không xứng đáng mang cái tên mình và được quyền đòi chen vào cuộc sống riêng của mình. Ngày lại ngày, Bạch cố gom góp những tật xấu của Dung thu thập lại thành một tập hồ sơ. Bạch muốn tập hồ sơ ấy sẽ riêng quyết định cho chàng cái việc ly dị kia. Thực ra Bạch không muốn chịu lấy cái tiếng là phụ bạc với Dung. Bạch muốn được ly dị và chỉ muốn một tập hồ sơ ấy quyết định cho ly hôn. Như thế, sau này có lẽ chàng sẽ không bị thắc mắc nếu chàng lấy lại được tự chủ về đời sống tự do của mình.
Trong những tật xấu của Dung, điều rõ rệt nhất có lẽ là vướng phải cái tật - cái cố tật chung của đàn bà ở xã hội này - hay bóc thư và tò mò đến những giấy má riêng của Bạch.
Lắm buổi lục lọi những tập thư cũ của Bạch cất trong đáy chiếc hòm khổng lồ, Dung đã tỏ vẻ sung sướng ngây thơ. Dung không bao giờ hiểu đến nỗi quan trọng của cử chỉ ấy. Kiểm soát lục lọi thư của Bạch, Dung không ngờ mình đã phạm cái tội do thám rất bỉ ổi mà một người đàn bà có chồng có giáo dục một chút không khi nào lại vướng phải. Dung có một người chồng khó hiểu quá. Người chồng ấy lại ít nói, ít chuyện và cứ theo lời chung quanh thì chàng lại có một cái dĩ vãng lạ lùng lắm. Bảo nàng không tò mò sao được. Vậy thì nàng đã gỡ những tập thư, mở những chiếc phong bì to tướng trong đó Bạch nhét bừa bộn những mẩu bút ký hành trình, những cuốn sổ tay nhầu bẩn, những tập vở viết chi chít, những tấm ảnh bay gần hết nước thuốc. Những dòng chữ đọc trộm đó cũng không nói thêm gì với Dung về cái đời sống riêng của Bạch. Nàng đọc để mà càng không hiểu. Nàng chỉ nhớ những lời thư, lời vở, lời sổ tay ấy chỉ hay nói đến chuyện nên bỏ chỗ này rồi lại hứa hẹn tìm chỗ khác. Chỉ có đi và đi. Riêng trong những lá thư Bạch và những bạn chàng chỉ có việc thông tin cho nhau những lúc xa cách. Ây đại khái thì chỉ có thế. Dung đọc mãi mãi mà xem chừng lá thư nào cũng giống lá thư nào. Toàn những “chuyện phiếm” cả. Sao mà họ viết thư được dài như thế. Giả sử Bạch để cái thời giờ phải trả lời những lá thư đó mà dùng vào việc nhà, chăm nom vợ con, thần hôn định tỉnh ông nội và nghĩ đến hạnh phúc gia đình thì có hay hơn không? Dung thở dài, cất những bó thư vào chỗ cũ. Trong lúc vừa chán vừa vội, nàng cũng chẳng cần gói ghém xếp đặt lại tập thư bó vở theo lối cũ và thứ tự cũ.
Lần soát lại những kỷ niệm ngày xa, một buổi mưa gió đầy trời, Bạch thấy những tập thư trong đáy hòm đều mất dấu buộc, những trang vở rời bị xáo lộn, chàng biết là có người đã lục đến. Ngoài Dung ra, không ai lại có ý tò mò đến thư từ của chàng. Bạch vui vui và cũng buồn buồn. Chàng thấy mình lại có thêm một cớ chính đáng nữa để khinh Dung đến điều. Cái lỗi lớn của Dung không thể nào bỏ qua được. Phải cho vào tập hồ sơ kia. Và không có một trường hợp giảm đẳng nào cãi hộ về cái tội Dung. Bạch bình tĩnh ghi cái tội ấy vào tập hồ sơ của Dung. Và từ phút ấy, Bạch thấy mình đáng được đi ra khỏi đời Dung không chút hối hận, không chút tiếc thương. Bạch cảm thấy sự nhẹ nhàng trong tấm thân mình bấy nay chỉ những hết vướng chỗ này thì lại va phải người nọ.
Sức tâm tưởng của con người ta đang đi một chiều như thế, thì một hôm Dung ngập ngừng cầm tay Bạch, và mắt nhìn đúng vào mắt Bạch:
- “Gió đã lên” nghĩa là gì hở anh?
- Em thấy câu ấy ở đâu?
Ở những bức thư của các bạn anh gửi cho anh chứ đâu nữa! Em thấy trong mười bức thì đến tám chiếc đều có câu “gió đã lên”.
- Vậy ra Dung lục thư của anh!
Dung cười, lấy cái cười hồn nhiên ấy thay một lời thú nhận. Dung tiếp:
- Sao, anh không muốn em xem thư của anh à?
Bạch thấy vợ mình có một cái cười ngây thơ làm cho người thù ghét nàng cũng không nỡ xử tàn nhẫn với nàng. Ban nẫy chàng nói câu “Vậy ra Dung lục thư của anh” với tất cả sự ngạc nhiên kinh tởm. Vẻ mặt ngạc nhiên ấy là một sự giả vờ, là một sự giả dối. Chẳng cần đến Dung khai ra, Bạch cũng thừa hiểu là thư của mình bị xem trộm. Bạch thấy sự ngạc nhiên vờ vĩnh vừa rồi của mình thật không xứng đáng một tí nào với cái vẻ ngây thơ thành thực của vợ chàng. Vậy ra Dung cũng không hiểu việc nàng làm là bậy. Và việc đó không còn là ám muội nữa khi mà Dung đã nói rõ. Nàng đã nói ra vì thấy nó là cần cho câu chuyện chứ không phải nói để mà thú nhận một điều gì. Dung biết đâu nàng đã phạm vào tội mà phải thú.
Vậy là nơi hồ sơ của Dung, cái tội của nàng lại có viện thêm được trường hợp giảm đẳng.
Và rồi những tật khác, tội khác mà Bạch cứ bới tìm ra cho thực nhiều cốt để ghét để quên và bỏ đứt Dung, Bạch nhận rằng tội nào của vợ chàng cũng đều có trường hợp giảm đẳng, đều đáng tha thứ cả. Bạch định nói xấu Dung để ghét Dung, để xa lìa hẳn Dung, Bạch đã không đạt được ý muốn của mình và chỉ thấy bực mình thêm. Những nỗi bực tức ấy chàng chỉ thầm kín chịu đựng lấy một mình. Bởi vì bắt Dung chịu đựng lấy những sự bực mình ấy thì còn gì vô lý bằng. Không yêu được nhau, không giãi bày được cho nhau nghe những nỗi thầm kín của lòng mà cứ phải sống cạnh nách nhau bằng một sự hằn học úp mở thì trời ôi! Bạch muốn điên mất. Những lúc này, Dung càng khuất phục, càng chiều chuộng, càng đầy đủ bổn phận nội trợ, càng chịu ép một bề thì sự ăn ở chung mãi với nhau lại càng là một việc khó chịu vô cùng không biết bao giờ chấm dấu hết cho.
“Ừ cái gì thì cũng phải nói lên chứ. Nhất định là Dung đã có thất vọng từ ngày nhận phải mình làm chồng. Không thể không được. Vậy sao nàng không nói lên để đòi lại cái quyền sống của nàng, đâu có phải là tất cả các cuộc hôn nhân đều là không phá huỷ được và khi mà người ta đã lấy phải nhau thì không còn cách gì để lập lại cuộc đời nữa, để vớt vát cái hạnh phúc của mình nữa đâu? Nhưng mà Dung phải nói lên chứ. Sao nàng cứ lì xì và có những lúc lại còn cười đùa với mình và với thằng Phong ầm ĩ lên y như là kẻ đã tìm đúng được hạnh phúc thật ấy?”
Bạch muốn Dung phải to tiếng oán mình vì mình đã không được đầy đủ trong phận sự làm người chồng. Đằng này không, Dung chỉ biết cam chịu. Cái thái độ rất Á Đông đó của người đàn bà muốn tỏ ra mình là hiền theo lối cổ đã làm Bạch chẳng vừa lòng chút nào. Những ngày như thế mà cứ kéo dài ra thì chỉ đủ làm cho Dung càng xấu thêm, trước con mắt cau có của Bạch.
Nếu những ngày ấy lại còn là đúng vào ngày Bạch vừa đi tiễn một người bạn thân lên đường thì không còn gì khổ cho chàng bằng những sự chiều chuộng và sự yên lặng và phục tòng của vợ. Dung thấy chàng ít ăn ít nói lại càng săn sóc tợn. Lắm hôm không làm thế nào được, Bạch lại lén đến nhà gác riêng thuê ở phố Hàng Gai, mong sự tĩnh mịch ở đấy đem lại thăng bằng trong tâm óc mình bị kích thích nhiều, bị rối loạn nhiều. Một đôi ngày tĩnh dưỡng đã qua, gân cốt đã bớt găng, Bạch mới lại thấy mình là vô lý và tệ ác. Dung đâu có phải là người sinh ra để mãi mãi làm người nạn nhân lặng lẽ của những cơn khủng hoảng của mình. Chỉ vì Bạch có một người quen đã ra đi, mà hai vợ chồng lại ngúng nguẩy mất hằng mấy ngày. Chàng lại lộn về để cụ Tô hôm ấy lại ăn thêm được một chén cơm nữa.
Bởi muốn tránh những sự dằn vặt vô lý đó cho Dung mà ít lâu nay Bạch không muốn tiễn đưa người thân nào khởi hành nữa. Có khuất mắt hẳn nhưng trò khởi hành ấy đi, có quên hẳn được nhưng chuyện ấy đi, thì họa may chàng mới đỡ làm khổ Dung những lúc gần gũi nàng. Chàng chỉ có thể vui vẻ với vợ và hể hả với con khi mà chàng đã quên hẳn ám ảnh của xê dịch. Có lẽ Bạch sẽ đem lại cho vợ con tất cả hạnh phúc gia đình mà những kẻ thân ấy có quyền đòi đến nếu Bạch đã biết mệt mỏi với cuộc đời cũ. Nhưng cuộc đời tình cảm con người có những cái bề mặt phẳng lặng một cách trí trá tạm bợ mà chỉ một làn sóng ngầm của ngày xa cũ nhô lên một tí là đủ làm nhăn dúm lại ngay. Đang vui vui cho quên - với vợ và đùa rỡn với con mà chợt có một người phu trạm đưa vào cửa sổ cho một cái dây thép là cái đại cục của hạnh phúc gia đình mặc dầu là hạnh phúc nhất thời trong một ngày ấy - lại đổ nhào. Tiếp cái dây thép ấy là Bạch khoác áo đùng đùng ra đi, chỉ kịp ngoái cổ lại dặn vợ còn ngơ ngác: “Ông nội dậy, mình nói là tôi đi có một chút việc cần. Mình đừng đợi cơm tôi. Lúc nào tôi về thì hãy thổi”. Lúc nào, nghĩa là mất hàng hai ba ngày, có khi là một tuần.
Có khi vội vàng đi quá, Bạch bỏ quên lại lá dây thép ở nhà, Dung không hiểu chữ Pháp, cầm sang nhờ hàng xóm xem hộ thì họ bảo rằng:
- À, đâu ông nhà có người bạn sắp đáp tàu qua Pháp và muốn gặp ông nhà trước khi lên đường, uống một cốc rượu mạnh ở tửu điểm trước ga Hàng Cỏ chỉ đó.
Thế cũng là đủ lắm rồi. Dung có cần gì biết đến tên với tuổi người đánh dây thép.
Đêm vắng chồng, Dung không mấy khi chợp mắt. Nàng lo lắm. Chỉ lo Bạch cũng lại theo nết ông bạn quý hóa ấy mà lên đường luôn thôi. Sao lại không xảy ra như thế được? Được sống gần Bạch ngày nào là Dung biết có ngày ấy. Nàng lấy chồng cũng chỉ như người khác đi đánh bạc, cầm được ngày đoàn tụ nào vững trong tay là biết có được ngày ấy. Ngày mai... ngày kia, rất có thể là những ngày của sinh ly. Dung chỉ nơm nớp chờ đợi đến sinh ly.
Bạch đi vắng, cả nhà chỉ còn lại một ông Tô già với nàng dâu và đứa cháu nội. Trước kia sự vắng lạnh ấy chưa đến nỗi mênh mông quá. Bởi vì trong nhà vẫn còn Phối. Nhưng gần đây, Phối cũng nghe lời Bạch mà bỏ nhà ra đi mất rồi. Dung biết rõ việc này và tưởng bố chồng không am tường, đã nói hết với cụ Tô.
Thấy đêm quá thê lương, ông cụ Tô cứ mỗi canh lại hút vài điếu thuốc lào, hình như muốn lấy tiếng guốc điếu kêu lóc cóc để tìm lấy chút ấm áp.
Dung cũng ho khan vài tiếng. Thằng nhỏ Phong cũng khóc thét lên mấy cơn. Nhưng cái nặng nề của đêm vắng chồng thiếu bố vẫn đè xuống mấy lá màn của những người không sao mà ngon giấc được.
Và cái bộ ba ấy cứ thế mà lục sục cho đến sáng. Buổi sáng mở đầu cho ngày tới lại chan hòa những mong chờ. Buổi tối lại đem mối thất vọng đến để chấm dấu cho một ngày nữa hết thêm. Có ai chưa từng nghe thấy cái tiếng đóng cổng chán nản của một thiếu phụ cài then cửa khi biết chắc đêm nay chồng mình cũng chẳng về nào?
