XVI
XVI
Hai mép Bạch trũng xuống mấy đường hằn của một thứ đau khổ khó nói nên lời. Cốc cà phê chỉ bỏ có hai cục đường đã đắng, giờ nhấp, Bạch càng thấy đắng quá. Bạch lặng lẽ ngồi tiếc đời, thương xuân và ghen với Sương.
Năm nay Bạch ba mươi bảy tuổi. Một đứa con. Và ít ngày nữa lại có thể thêm một đứa nữa. Đời một lữ khách hẹn sống với trôi nổi, như thế đã đủ gọi là vương vít chưa? Hay vẫn còn chưa đủ nặng? Còn như đời Sương? Sương chỉ có một mình. Sương mới hơn hai mươi. Sương sẽ tha hồ mà đi xa. Cái cuộc đời ấy thừa bề rộng thừa bề sâu. Sương sẽ mặc sức mà lăn cái vỏ xanh, tươi, cứng trên mặt quả đất. Cái người trai trẻ ấy có vô số cơ hội để trước bạ tên tuổi vào mọi sông núi hai tân cựu lục địa. So sánh, Bạch cảm thấy sự chênh lệch không là một với hai mà lại là một với mười.
Bạch ít lâu nay, bị tiếng gọi của trách nhiệm, của bổn phận giữ chàng nấn ná ở lại cạnh vợ và con, thấy lòng mình dần dần bị tình thương đối với máu mủ xâm chiếm dần dần. Như thế này thì còn giang hồ gì nữa; nhiều buổi chiều buồn buồn, Bạch thường nói với Bạch như thế. Chàng tự hỏi mình trở về xứ sở, lấy vợ đẻ con như thế có phải là để tự mình mở một kỷ nguyên mới cho đời lông bông lang bang của mình không. Người không hiểu, tưởng tự chàng đã gây lấy vạ vào người, đa mang thì phải đèo bòng, chứ còn kêu ca điều chi nữa. Nhiều người bạn tưởng Bạch đã thấy mệt mỏi với đời phiêu lưu, bây giờ không chịu nổi được thứ cơm nước của khách sạn ở dọc đường và đã đến lúc thèm muốn một nồi cơm vừa chín tới, một trái cà không thâm, một đĩa dưa không khú của chính mâm cơm gia đình mình, đều vỗ về Bạch:
- “Thôi, như thế nó cũng tạm là một cách để yên thân anh ạ. Chứ đi mãi, nó cũng đến chỉ là một hòn đá không dính rêu thôi. Đời anh giang hồ quá nửa phần rồi, tưởng bây giờ cũng đã là đến lúc nghỉ ngơi đi thôi. Ba mươi bảy tuổi. Anh tưởng còn sớm lắm sao. Phải lo tính liệu những ngày còn lại đi thôi chứ. Anh tiêu phí nhiều quá rồi, cái đứa con của phiêu lãng hoang phí đã đến lúc tính sổ và cần kiệm đi thì vừa. Chả nhẽ cứ vung tay mãi. Mái đầu đã bạc trắng hai bên tóc rồi anh ạ”.
Những lời chia buồn và an ủi thành thực ấy chỉ làm cho Bạch sốt ruột thêm. Dẫu sao, những lời của chung quanh, thêm vào ít hiện trạng của hoàn cảnh với những khóc mếu của con trẻ, những nét mặt rầu rĩ của Dung - vợ chàng - và những tiếng thở dài ban đêm của ông cụ Tô sinh ra chàng, bấy nhiêu cái nhỏ nhặt hàng ngày đã ảnh hưởng đến nhân sinh quan một người, mặc dầu lòng người ấy cứ muốn vững như sắt như đá.
Trước cốc rượu lớn Bạch gật gù: “Gần bốn mươi tuổi đầu... Lập lại cuộc đời! Biết có nên? Có thể được không? Hay là quá chậm?” Những lời hỏi nghiêm trọng ấy mà Bạch không trả lời được lúc ngổn ngang trong lòng, chỉ có những tiếng xèo xèo trong nõ điếu hút khoan thai chấm câu cho. Nước bọt, mỗi lúc chảy vào lòng tẩu thuốc, rỏ vào tàn lửa lại rền rĩ kêu đánh xèo một cái. Lắng cái âm thanh rè đục ấy vào một lúc nghiêm trọng mà người ta do dự tại giữa cái ngã tư của lòng, của cuộc đời với thương với nhớ với tiếc cũ với ngại mới, Bạch càng nhận thấy cái tẻ lặng đời mình hơn năm rưỡi nay. Nếu biết có cơ sự như thế này thì hồi ấy chàng đã chẳng về thăm nhà. Con chim trời đã lấy làm hối hận vì cái việc về thăm lại tổ cũ ấy một buổi bạc gió mỏi cánh. Nơi tổ cũ trước kia chỉ có một đấng nghiêm đường tuổi tác, giờ lại đông thêm những một người vợ dại và một trẻ thơ đang tập đi. Bạch suy nghĩ mãi, vẫn không hiểu tại làm sao đời mình lại có đến việc lấy vợ. Thật là một cuộc hôn nhân nghiệt chướng và nghiệp chướng. Chàng bóp trán, cố tìm cho ra cái nguyên nhân ghép đời chàng vào với đời Dung. Dung đẹp lắm, hiền lành và ngoan lắm. Nhưng... trước kia và cả bây giờ nữa, Bạch chưa nhận thấy mình yêu Dung. Những ý nghĩ của Bạch đối với Dung về mặt tình ái, lờ mờ quá, không có cái gì là rõ rệt, có họa chăng hồi gần đây, chàng chỉ thấy thương Dung nhiều. Như thế không đủ là yêu. Bởi vì tình ái còn ngụ cái ý chia sẻ lẫn cuộc đời tình cảm chung góp lại của một lứa đôi. Sự ấy thực chưa từng có bao giờ, từ ngày Bạch thành gia thất. Và chàng lấy làm phàn nàn cho Dung không biết tại sao mà lại tựa vào mình để tìm tòi hạnh phúc. Với Bạch, hạnh phúc hỡi ôi! Có lẽ chỉ ở những nhà ga. Chỉ có nhà ga bến tàu con đường thiên lý, mặt nước rộng là mới gợi được cho Bạch ý nghĩa của đời sống đích đáng. Tất cả những cái khác là không kể. Làm thế nào mà cắt nghĩa điều ấy cho một người bạn trăm năm hiểu? Mà ví có giảng giải được thì cũng là quá chậm. Một vợ một con. Hai cái kỷ niệm thấm thía ấy bằng thịt bằng máu chả lẽ lại là không đáng quan tâm? Hơn một năm nay nếu Bạch muốn dứt tình, xách cái va ly cũ mà tếch lên đường, đâu có phải là một điều khó khăn. Ở các hãng tàu bể thông ra ngoài, ở hãng tàu bay, ở sở hỏa xa, Bạch có vô số là người quen. Chàng chỉ việc trình diện một cái với cái va ly ngày nọ là xong, không có ai ngăn nổi. Các người quen cũ thấy vậy có lẽ còn bằng lòng khi chàng quyết định tiếp tục lại đoạn đời cũ, nghĩa là lại đi. Lâu nay đã có không biết bao nhiêu người trong đám cố giao lấy câu “Kìa anh Bạch, anh vẫn còn ở nhà à?” thay cho một câu hỏi thăm rõ rệt có ý nói kháy. Sốt ruột quá chừng. Mà trách gì được người ta. Đối với họ, xưa nay Bạch chỉ là cái hình ảnh bất diệt của người du tử thiên vạn cổ. Cái bóng người ấy sống nghĩa là chỉ để thoáng qua mắt họ trong chốc lát, một lúc ngừng im hẳn lại, một lúc đậu hẳn lại thành một cái hình vuông nhoè và không cử động, sao có khỏi làm cho họ không ngạc nhiên và thốt ra một câu giục giã. “Phải đi đi, đến ngay người chung quanh ta cũng muốn thế. Ta phải đi vì nghiệp dĩ bắt như thế!”.
Có một buổi say thuốc phiện, cả xác lẫn hồn nhẹ bỗng, cường ký được thức tỉnh lại, Bạch mới nhận nhớ ra cái cớ đã ghép mình làm người bạn trăm năm của Dung.
Năm kia thấy chàng về, ông cụ Tô mừng quýnh, đã bảo chàng:
- “Con ạ, thày già rồi. Con là trưởng mà con cứ đi luôn. Nhà vắng lắm. Con đối với thiên hạ hậu quá mà đối với gia đình thì chẳng được lấy một phần. Từ đầu chí cuối, thầy chỉ thui thủi một mình với Phối. Thằng em con nó còn dại lắm. Nhất nhất cái gì cũng phải có thầy dúng tay vào. Giá con chiều ý thầy mà lấy vợ thì thực là đủ làm vui cho thầy trước khi thầy nằm xuống. Rồi ra con muốn ganh đua với anh em ở những chỗ đâu đâu thì ở nhà sẽ có người thay con và đỡ hộ thầy, chứ gần đây, trong người thầy, thầy thấy rời rạc lắm rồi”.
Ông cụ Tô nói đến đấy, nấc lên như người kiệt lực lúc đã cố giối giăng xong được một vài việc quan hệ trước khi buông xuôi hai tay.
Bạch, dẫu sao vẫn còn một chút luân lý cũ chạy trong huyết quản, đã vâng chịu và tưởng xong xuôi những ngày trọng đại của lễ thành thân rồi thì chàng lại ra đi được như thường và có lẽ sau khi ông cụ Tô đã có được một người con dâu đỡ đần việc nhà, thì lòng mình có ở chỗ dậm xa nó cũng đỡ áy náy bận bịu như trước. Lòng thương cha, ai mà không nặng. Nhưng một việc hôn nhân ấy đã tỏ hết cả vụng dại của một người khách không nhà khi y tính xếp đến việc nhà. Lần lữa ngày một ngày hai, từ có đèo thêm Dung vào cuộc sống vốn vô thường, Bạch dần dần nhận thấy cái thân của mình đã không hẳn là của mình nữa. Giờ có muốn quăng muốn lăn nó đến đâu cũng không được tự chủ như ngày trước nữa: Bởi vì đã có một người đàn bà tham dự vào.
Ông cụ Tô đã hiểu rõ lòng đứa trưởng nam hoang toàng. Cái tinh thần luân lý ở Bạch vẫn còn vững lắm. Vậy cho nên cuộc hôn nhân do cụ Tô gợi lên đã là một cái bẫy rất lẹ và cuộc sống trật tự đã đưa ra một người ngoan lành như Dung để cướp lại Bạch và đưa ra khỏi cám dỗ của phiêu lưu.
Từ sau hôm cối pháo toàn hồng một vạn quả ấy đã phai nhạt xác giấy báo hỉ ở thềm nhà, thì trong lòng Bạch nhú ngay lên cái thai của một tấn thảm kịch: Con Đường Vô Hạn.
Buổi đầu Bạch chỉ cười và tự tin rằng mình nấn ná ở nhà là cốt để tỏ cái tính lịch sự đối với một người vợ mới và làm vui lòng cha thêm trong ít ngày. Sau đó chàng lại khăn gói đi xa một cách nhẹ nhõm. Và có lẽ đời chàng bị ngắt quãng như thế, có dịp nghỉ ngơi lâu như thế, lúc được lên đường lại, Bạch lại sẽ khoan khoái hơn. Bạch tự ví mình là một con ngựa bị nhốt lâu ngày trong tàu cỏ, lúc nhớ đường được băng ngàn mà ngốn lại đám cỏ non chỗ dặm trường thì còn thú bằng mấy mươi cái lối lồng hí của đàn ngựa hoang trên bãi cỏ xanh. Thêm nữa, giờ đã có người thay mình ở nhà, hầu và đỡ một ông cụ già rồi, thì bước đi chàng càng mạnh lắm.
Nhưng cái ngày lên đường của Bạch cứ bị lùi mãi lại. Dung giữa những câu hát ru con đưa võng, đã có những nụ cười kín đáo của đắc thắng.
Thôi, từ nay Dung hết đọc Chinh Phụ, Cung Oán. “Sân khuya, bóng lẻ người ly phụ...” Ông cụ Tô, độ này cũng không làm thơ một cách tiêu sắt như trước nữa.
Giữa hoàn cảnh đầy tươi vui của gia đình, do mình đánh lộn sòng gây nên trong giây phút hoang mang tạm dừng chân tạm đứng im, Bạch chỉ là một người ốm, tâm trạng rề rề một thứ bệnh du lịch. Bệnh chàng không thuyên giảm - như Dung và cụ Tô lầm tưởng mà trái lại chỉ tăng thêm.
Ngày ngày chàng lê mình ra một cái bến nước, nhìn nước trôi xuôi, nhìn bèo dạt xuôi, nhìn những cánh buồm đi xuôi và những làn khói than đá nhòe trên sông. Và ở bến ga xe lửa, cái người ốm ra đây thẫn thờ nhìn tàu đi để dưỡng cái bệnh đổi chỗ vẫn chỉ là Bạch - người bạn hàng trung thành của ông cụ ký ga già ngồi bán vé ke ở cửa ra đã hàng mười năm. Và ít lâu nay, Bạch nhất định chỉ có tới những chỗ tụ họp đi về của lữ khách một cách vô cớ, thế thôi; nếu có một người quen biết nào lên đường thì Bạch lại cần lánh mặt. Đã phức tạp thay là một tâm hồn đau khổ. Chàng chỉ muốn xem người của thiên hạ vô danh lên đường, chứ chàng không muốn dự vào cuộc khởi hành của một người quen, người thân nào. Thấy người quen mình được ra đi, lòng Bạch chết lịm hằng buổi. Người đi có mấy ai đã thương đến người phải ở lại nơi sân ga. Thói thường con người lúc lâm vào cảnh sinh ly hay nói: “Đi là chết một phần”. Không phải thế. Bạch vừa đưa Phối đi Tây làm lính thợ dạo vừa rồi, chỉ thấy người ở lại mới là người đang chết một phần. Phải cắt lưỡi người lữ khách hay kể lể những đi là chết hoàn toàn - hoặc chết một phần cũng vậy. Việc gì mà chết. Ước gì chàng cứ được luôn luôn có dịp mà “chết” như người ta vẫn kêu rêu!
Lần đưa thằng em nhỏ ra tàu, Bạch tự bảo mình là lần cuối cùng. Từ sau cuộc khởi hành của Phối, Bạch giữ đúng lời nguyền, không hề đưa một ai lên đường nữa. Chàng đã thề độc một câu và tiêu câu ấy lên làm nguyên tắc trong xử sự. Chàng không muốn người thân chung quanh bày ra trước mắt chàng cái trò xê dịch. Mỗi lần phải chứng kiến cuộc khởi hành của đám bằng hữu ra đi, Bạch phải về nhà, Bạch mất hằng tuần lễ vơ vẩn như người bị ma làm. Vào những ngày ấy, không gì cực bằng sự phải trả lời những câu hỏi của Dung: “Anh làm sao trong người - Chiều nay chúng mình đi ăn cơm ở ngoài nhé? - Ngày mai đi chùa Trầm; ông nội hỏi anh có đi thì cũng cho em đi lễ Phật với. Hay là chiều nay tôi đi chợ mua vịt làm lòng dấm anh ăn, nếu anh không bận đi đâu”. Trời ôi! Dung thật là một người đàn bà hiền chất phác quá. Có sống cho đến ngày tận thế ở luôn cạnh Bạch, nàng cũng không bao giờ hiểu được tâm hồn chồng. Thấy Bạch cứ hằng tuần kém ăn kém ngủ, nàng chỉ quy sự thất thường ấy vào việc bếp nước không được chu đáo và nhận lấy trách nhiệm và nhận lấy lỗi ở mình. Rồi nàng đi chợ, rồi nàng xắn tay áo, suốt buổi lúi húi trước bếp lửa, mặt như người say rượu, mồ hôi nhễ nhại làm dính bết mái tóc, trông tội quá chừng. Cái mâm cơm gọn ghẽ ngon lành ấy bưng ra Dung đã tưởng gây được chút vui trong lòng Bạch. Nàng dúi đũa vào tay chồng, mời mọc chồng bằng cặp mắt long lanh thêm mãi lên vì trìu mến chứa chất đầy. Bạch biết Dung đã để tâm vào sự lựa chọn các món ăn khói ngùn ngụt kia. Chàng giả vờ gắp rất nhiều, ngồi rất lâu nhưng thời giờ chàng dùng để đưa đồ ăn vào miệng thì rất ít. Chàng chỉ luôn tay bồi rượu cho ông cụ Tô và bón cơm cho thằng Phong mà Dung đã để lọt thỏm vào lòng chàng. Hình như cả nhà chỉ có ông cụ Tô là hiểu rõ lòng Bạch. Ngoài cái vẻ nghiêm trang cẩn trọng là cái tính quen của ông già, cụ Tô nâng chén rượu nhấm nháp một cách lười biếng và trong tiếng khà mỗi lúc cạn một chén, mắt cụ phang phất buồn rầu. Cụ kềnh càng đứng dậy nhặt những hột cơm vãi bỏ vào bát mình và ngập ngừng hỏi Bạch:
- Bao giờ anh trưởng lại đi?
Cụ dằn giọng vào chữ “lại”. Dung như bị điện giật, đặt cái bát sắt của thằng Phong xuống chiếu, nhìn chằm chặp vào mặt Bạch. Môi nàng mấp máy: “Dạ thưa ông ai đi? Dạ có ai đi đâu đâu ạ”, rồi nàng cúi mặt xuống, kéo Phong vào lòng mình.
Cụ Tô vừa xoa cái vỏ chanh rửa miệng, vừa nói tiếp:
- Bao giờ gần đi, anh cho thầy biết nhé. Thấy muốn cậy anh mua cái này. Mấy lần anh cứ chân trong chân ngoài lại vụt biến đi mất, thành thử thấy không kịp nhắn gửi gì cả.
Bạch vẫn lặng thinh, lòng hết sức ngổn ngang không thừa chỗ để cho đồ ăn đưa vào. Trên mâm cơm ngon nóng, sao Bạch lại thoáng thấy cái mùi lạnh lẽo của buổi lên đường? Thấy Dung nhìn mình, chàng vội và cơm làm như người ăn ngon miệng lắm, nhưng sự thực thì miếng cơm ấy lúng búng trong một cái miệng thều thào, miếng cơm nhai đã vữa cả ra mà chưa chịu trôi xuống họng. Ông cụ Tô chỉ chờ Bạch hỏi tiếp vào câu vừa rồi của mình. Nếu Bạch hỏi thì cụ Tô đã nói ngay một câu đầy những giận hờn mà cụ nghĩ sẵn đã từ lâu:
“- Khi nào, anh sắp đi, mua hộ thầy cái này... A, một cái áo vàng tâm. Thầy đưa gửi lên trên chùa...”.
Ý ông cụ Tô muốn cho Bạch biết rằng cụ đã ngửi thấy mùi đất rồi đấy. Và ông già gần kề miệng huyệt ấy muốn thằng con phóng đãng của mình nên mua cho mình một cỗ áo quan đã, rồi có đi đâu hãy đi. Ông không giữ Bạch. Vì người cha ấy cũng tự biết không giữ nổi con. Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. “Tính thằng Bạch, chí thằng Bạch là ở chỗ bốn bể. Giữ thế nào được nó. Thôi thì mặc nó”. Cụ Tô cũng đành liều ở với trời vậy. Vậy thì Bạch cứ việc mà du đăng khắp thế giới. Muốn giang hồ cứ việc mà giang hồ. Nhưng Bạch xa vắng quanh năm suốt đời như thế, cụ Tô phải tự mình tính liệu lấy những ngày cuối cùng của mình vậy. Trời đất gió máy dở chứng luôn, biết trước thế nào được, nên phòng đi thì vừa. Đã hay rằng lúc cụ nằm xuống mà Bạch còn ở những chỗ đầu sông, ngọn nguồn nào, vợ con không biết địa chỉ mà đánh dây thép gọi về chịu tang, mà Bạch đi xa thế, có biết đích được chỗ mà gọi về thì cũng vô ích, gọi về để nó làm ma khô cho hay sao? - thì đám ma cụ sẽ nhờ người trong họ treo hộ một cây gậy tre và một cái mũ rơm vào đầu đòn, cái đó dĩ nhiên rồi. Nhưng dẫu sao cụ Tô cũng phải có một cái áo quan cho tử tế chứ. Chẳng ma to giỗ lớn thì thôi, chứ cái cỗ hậu sự thì không thể không được. Một người như cụ Tô mà phải nằm vào một chiếc quan tài mỏng độ một phân ván, mua sẵn trong lúc vội vàng có công việc đến nơi thì chẳng hóa ra vô phúc lắm sao. Có một thằng con trưởng như Bạch quanh năm bỏ vắng nhà, cũng đã đủ là một sự đại bất hạnh rồi.
“Khi nào anh sắp đi anh mua hộ thấy cái này... A, một cái áo vàng tâm. Thầy đưa gửi sẵn lên trên chùa... Chừng cũng tới nơi rồi đấy”.
Có con trai sờ sờ ra đấy mà cũng như vô tự, mà phải nhờ nhà chùa làm ma làm chay cho, hương khói cho, bầu hậu cho, may quá, sau bữa cơm ấy giá Bạch hỏi mà cụ Tô không phải trả lời, phải cởi mở cái lòng héo hắt của mình ra, thì cứ đến chan hòa nước mắt ra chứ không thể cầm lại được. Ở vào một cái tuổi già mà phải biểu hiện cái đau đớn của mình ra ngoài bằng những giọt lệ những giọt lệ mà mình đáng lý phải cho nó chạy vào trong - thì còn gì thảm hơn nữa, cụ Tô vuốt râu tóc nghĩ thế, khi mâm cơm đã dọn đi và Dung đã bầy trên giường ấy những thức dùng thường lệ. Đôi gối xếp, cây đèn hoa kỳ, cái điếu bát, một cái ống đựng đóm.
Dung dẹp xong, lại ẵm Phong ra, thả nó vào lòng chồng, bắt Bạch đùa với nó, để mình đi pha cà phê. Cụ Tô nhìn cháu Phong, nghĩ ngay đến một đứa trọng tôn chống gậy theo sau mình thay cho cái thằng Bạch coi như là bỏ đi. Không hơn gì mâm cơm, cốc cà phê của Dung để ý pha kỹ lưỡng có thể nói là cân đếm từng hột cát đường bột, từng mắn cà phê xay, từng giọt nước sôi chế vào Bạch uống nó vẫn thế nào ấy. Bằng thế nào được thứ cà phê nhấp ở mọi hàng quán dọc đường! Dung hỏi chồng:
- Anh uống thế vừa chứ? Đặc hay loãng?
Bạch biết trả lời thế nào? Ai đã dày công vẽ cho Dung pha cà phê? Cái cốc ấy ngon lắm, thơm phưng phức, không đặc lắm, không loãng, đường tan đều mà nước không nguội, chàng không thể đòi hỏi hơn được nữa. Nhưng thực tình, cốc cà phê ấy vẫn thiếu nhiều lắm, mặc dầu Dung đã để hết cái tài gia chánh vào đấy. Nếu một người nói ra để có một người khác hiểu được ngay cái ý của mình, cái nỗi thống khổ thầm kín giữ mãi trong lòng mình thì Bạch đã bảo ngay Dung: “Không bao giờ anh có ý phụ tình Dung. Nhưng giá bây giờ anh được đeo khăn gói lên đường, lúc thèm uống, được người chủ quán ở bất cứ quán nào pha cà phê cho anh uống, anh vẫn thấy nó ngon hơn, anh vẫn thấy nó có hương vị hơn. Tất cả khoa nữ công mà em lĩnh hội và thực hành đúng được, tất cả những săn sóc của em, cũng không lấy nổi cái mùi thơm tuyệt vời ấy. Em cứ đo mãi từng giọt nước sôi, anh cho em đếm em cân nữa, anh quyết không bao giờ em pha cà phê cho vừa miệng anh được, chỉ phí công thôi. Bởi vì anh bỏ nhà nó đã quen thân tập nết rồi và tế bào dạ dày anh nó cũng quen cái mùi quán trọ dọc đường rồi. Nay bắt nó chiều theo nhận lấy một cái thực đơn của gia đình thiếu hẳn gia vị của lữ thứ, sao chẳng có sự bỡ ngỡ. Dung bảo mọi việc ở đời đều là một sự quen. Ba mươi bảy tuổi đầu, phải nhất đán thay hết thói cũ, em tưởng dễ dàng yên ổn lắm sao. Thế nào cuộc thay đổi cũng gây nên đổ vỡ, Dung ạ. Anh cầu mong cho đổ vỡ ấy không ở anh và cũng không ở Dung. Khổ lắm! Dung ơi...
- “... Hay là chúng ta đóng một cái xe có mui, sức ngựa kéo mỗi ngày được đến đâu thì đến. Buổi sớm trước khi anh lắp ngựa vào xe thì em nấu cơm; buổi chiều sau khi anh tháo ngựa cho nó ăn thóc hoặc ăn cỏ ở ngay vệ đường thì Dung lại nấu một lần cơm nữa. Vào khoảng hai bữa cơm lấy ngay những cái mốc cột lô-mét đường thiên lý làm ông đồ rau bắc bếp, em hát khe khẽ cho Phong nó đẫy giấc. Điệu hát ru em, anh không bao giờ chán. Ờ, anh phải thận trọng cầm cương dưỡng sức ngựa cho nó đi được bền, rồi một ngày nào đấy, khi chúng ta đã vượt được đèo Hải Vân, anh sẽ cho cả xe cả ngựa nghỉ thật lâu ở xóm thông bãi biển Cửa Hàn chẳng hạn, cho em đủ thời giờ tập cái giọng hát ru em của những người đàn bà đất Quảng mà anh đã có nhiều lần khoe với em. Bao giờ em luyện xong giọng hát tuyệt vời ấy thì chúng ta lại lên đường... Để đi đến đâu ấy à? Để đi đến những chỗ chưa tính trước được. Những cảnh đẹp ấy không định trước được. Chúng mình cứ đi như thế, không phải là để có một nơi mà đến; chúng mình cứ đi hoài đi mãi như thế cốt để lúc nào cũng có một nơi mà rời bỏ. Và những lúc đổi chỗ, ăn cái gì mà anh chẳng thấy ngon. Em cứ chặt to bung dừ, chẳng cần đến khoa điều nhậm về thuật ẩm thực, chẳng cần phải tốn công mà mới thành được mâm cơm. Đấy, đến lúc bấy giờ là tự dưng Dung pha nổi một cốc cà phê đưa mời anh uống cho được vừa miệng. Củi rừng ấy, nước khe ấy, đun lên mà pha, sao lại chẳng thơm ngon... Này Dung, em há chẳng được thấy đôi vợ chồng người phu làm đường vẫn vui sướng sống cái đời lang thang ấy mỗi ngày, chẳng ngày nào giống ngày nào trên con đường thuộc địa số một có những đoạn rải đá rải nhựa lại, với một cái xe có mái móc vào sau quả hồ lô máy? Cái xe ấy là một cái bất động sản tự động. Cái xe ấy là một cảnh gia đình. Ở đấy có lẽ cũng là một cái gì của Hạnh Phúc”...
Không, Bạch không thể nói những điều ấy với vợ chàng được. Chàng tin chắc rằng Dung không thể nào hiểu được. Dung sẽ cho chàng là điên. Ai lại nhà cửa đang yên ổn như thế mà vợ chồng con cái lại dắt nhau bỏ đấy mà ra đi như một lũ hành khất bao giờ. Có một cái mái nhà mong tu sửa bồi đắp thêm vào còn vẻ thay nữa là... Một lứa đôi đem hai cái nửa âm dương hợp kết lại thành một khối tin yêu, thường là để chung sức lại kiến thiết một cái gì vốn gọi là gia đình xây đắp trên một miếng đất nào mà người ta vốn gọi là quê nhang. Những kẻ lành mạnh nơi tâm óc, chưa từng có ai điên rồ xui vợ con bỏ lại sau mình một chốn yên ấm để mong cùng được làm đôi bạn lữ hành, hồ muốn lấy cái thú gió sớm mưa chiều nơi dọc đường, làm cái định thức ở cõi đời này. Dung vẫn là người vợ hiền, đức tính có thể làm vẻ vang cho một giới phụ nữ ở một xứ mà những giá trị giáo dục của thiếu phụ gần như mất mát hết. Dung vẫn là người đàn bà tốt, nhưng dẫu sao nàng cũng vẫn bị những luật lệ tâm lý thuộc về giống cái cai quản đến mỗi hành động, mỗi ý tưởng. Dung vẫn chỉ là một người đàn bà.
Bạch có lúc đã thí dụ một cách võ đoán rằng Dung sẽ vui lòng theo mình, chàng đi tới đâu nàng cũng vui theo đến đấy, nếu một đêm mưa gió gần đây, lúc đầu gối tay ấp, Bạch sẽ bày tỏ cái thảm kịch đang phá nát lòng mình, từ ngày nguyên nhân hiểu trong gia cảnh đã biến mình thành một kẻ du sĩ có vợ và buộc mình phải có bổn phận đối với Dung. Trong lúc nói chuyện, Bạch sẽ thống thiết cặn kẽ giãi bày tâm sự như là một người tri kỷ. Chắc Dung sẽ khóc òa và rồi chàng cũng đến nghẹn ngào. Thế rồi đôi lứa sẽ cùng một lòng cắt hết những dây tình cảm liên can với họ mạc làng nước để mà ra đi, bởi vì đấy là cái chí nguyện của Bạch; bởi vì không giữ được Bạch, Dung đã phải theo chàng và đem theo cả cái tình thương dấu của mình rắc luôn lên đám hoa cỏ dậm trường. Dung sẽ rụt rè vì bỡ ngỡ - bước theo sát hẳn vào cái lốt chân của Bạch. Mỗi buổi sớm một ngày thái bình ấy, đôi vợ chồng theo nhau như bóng với hình, đã để lại cho người quen ở lại sau một cảnh tượng của một đôi tình nhân chạy loạn rời bỏ thị trấn sinh trưởng. Bánh xe mỗi lúc lăn thêm một vòng trên con đường gió cát lại làm cho hai vợ chồng xa lìa khỏi chốn cũ thêm được một chút.
Quay đầu lại, lấy bàn tay che lên mi mắt làm thành cái mái hiên cho nhỡn giới, có lúc, chưa dứt hẳn tình với cố hương, chợt thấy một vùng mây trắng kéo ngang trời, cái người thiếu phụ ấy hỏi chồng: “Nhà ta ở sau cái đám mây xốp ấy phải không anh?” Người chồng ừ ào, càng thúc xe đi nhanh, lấy tay chỉ cho vợ xem một đám khói đống rơm rạ ngăn tầm mắt chỗ xa xa, tỏ cho vợ biết rằng chúng ta bây giờ nhìn hẳn về phía trước mà đi, từng tiếc thương những cái gì đã bỏ lại phía sau”.
Nghĩ đến cái cảnh lứa đôi lữ thứ như thế, Bạch thấy khoan khoái trong lòng. Nếu Dung cũng dám chia sẻ cái đời trôi giạt với mình, trong lúc đường xa không hay hỏi xem đã tới chưa, thì âu đấy cũng là một hình thức của một giải quyết tạm thời về cái bệnh không gian của chàng. Nhưng... chẳng bao giờ có thể xảy đến như thế được. Nhưng... - rất có thể như thế lắm. - Sau độ dăm bảy bữa lăn cái vỏ mỏng yếu của mình trên đường, bên cạnh chồng, Dung sẽ gục vào vai chàng mà kêu lên rằng: “Em mỏi lắm rồi, anh ạ, anh tìm một chỗ nào gần đây cho em nghỉ chân thôi”. Rồi phải chiều Dung, Bạch đã phải tìm một quán trọ để cho Dung lấy lại sức khoẻ. Rồi có một ngày gần đây, mặc dầu đã khỏe hẳn như cũ, Dung sẽ van lơn chàng không nên bước thêm nữa. “Anh nên cho xe dừng hẳn lại trên chỗ này, nếu chúng ta còn chưa muốn lộn trở về hẳn”.
Thế này thì ra dứt tình cố lý, bỏ nhà ra đi để mà thấy thiếu thốn và mệt mỏi và sợ sống. Cái phút đầu tiên của Dung bước lên xe theo Bạch là một phút không kịp suy nghĩ. Dung chỉ là một hiền phụ lối cũ nghe thấy tiếng gọi của chữ tòng. Theo chồng. Nhưng theo thế nào được một người chồng đi không bao giờ biết mỏi. Đối với thiên hạ rất hậu hĩ và riêng đối với nhà thì rất bạc, cái người chồng kỳ dị ấy lúc được thơ thẩn trên đường sao mà hoang phí tình cảm nhiều đến thế? Chàng yêu sống, dám sống và gặp bất cứ trường hợp gì, trước tự nhiên, trước cảnh vật, chàng đều cởi mở lòng mình rất rộng xa. Sự thay đổi hoàn toàn ấy thật làm cho chàng khác hẳn, trái ngược hẳn với lúc ở nhà, ăn uống thì cầm chừng, nói năng đều như muốn giảm bớt hết, người thì bần thần và luôn luôn vật vã và coi tất cả người, thân thích máu mủ trong nhà, như là kẻ thù trên đời. Người chồng Dung có hai bản ngã, hai bản năng phát hiện mỗi khi một khác tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi lúc. Hai bản ngã ấy tương xung tương khắc. Bạch của giang hồ phiêu đãng không có một tương quan gì với Bạch của gia đình yên ấm. Nếu không được đổi chỗ, phải sống với thói quen ở nhà, Bạch thấy sống là một gánh nặng đè bẹp dí mình xuống. Những ngày ngồi dưới mái nhà mình, Bạch ngẫm thấy cuộc đời có cái nghĩa là một chốn mà mình phải ở. Nếu được nay đây mai đó, cho thể xác mình cũng phù hợp mà trôi theo với cái đà của mọi vật chung quanh là một hứng thú và hình như có ai đã chắp thêm cánh cho mình. Rồi Bạch tin yêu cuộc sống, phóng túng hình hài và tâm óc mình trong bất kể chung đụng nào, lấy những tình cảm tươi mới của mỗi ngày làm kẻ hướng dẫn rất chắc chắn cho bước đi. Bạch rất vị kỷ trong lý tưởng của mình, lại là người rất hoang tàng trong cách đem tiêu pha ngày giờ và sức khoẻ của mình vào việc khởi hành. Và tin tưởng ngày nào, mình cũng chỉ là ngày khởi hành.
Dung theo thế nào được một người đàn ông có tấm lòng rối ren mà không bao giờ nàng hiểu được. Nếu bản tính người đàn bà, nàng căn cơ về chỗ tiền nong, thì về mặt tình cảm, nàng cũng dè xẻn và bóp chắt. Ngoài cái hạnh phúc nhà riêng mình, nàng không biết đến cái gì khác nữa, vui trong yên phận, với chồng với con và một cái bếp. Một lần ấy suy tưởng về cái quá trình phiêu giạt của Bạch, thấy Bạch không thiết tha danh lợi, không đả động đến sự nghiệp và chỉ thấy ca tụng du lịch, để đến ngày nay thành một người đã đứng tuổi mà vẫn chưa có một địa vị xã hội, nàng vô tình đã có cái ác ý ru thằng Phong bằng một câu hát ngụ hết nghĩa chế nhạo khôi hài mà nàng không nhận rõ:
“Không đi (thì) không biết xứ Đông,
Đi ra khôn khổ thân ông thế này!”
Dung ru thằng Phong ngủ, hát câu ấy cốt để đùa nhả với chồng. Bạch đã ít lời, nghe thấy câu hát có ý xúc phạm đến hoài bão thiêng liêng của mình, chàng càng lặng lẽ thêm trong cái không khí nhàn nhạt của gia đình. Câu hát ấy đã là nguyên uỷ của một cuộc hờn giận kéo dài đến mươi hôm. Nhưng rồi Bạch cũng tha thứ và cũng lại làm lành. Khốn nạn quá, những lúc muốn tỏ ra là mình thương yêu chồng và hối lỗi lắm, Dung chỉ biết gia công tắm rửa cho thằng Phong, kính sợ cụ Tô thêm lên và thứ nhất là vào bếp nấu nướng cho thật nhiều. Có những gia đình bình dị - kết nên do hai tâm hồn đơn giản - mà người vợ ngoan muốn chấm hết cho một cuộc bất hòa với chồng, thường đánh dấu hòa thuận bằng một bữa ăn thang hay cuốn rất tươm tất. Lấy một bữa thịnh soạn để mong đè nén những cái sóng ngầm của lòng có khi còn lâu mới dội lên một lần, đã nông nổi thay.
Trước những cử chỉ ấy của người nội trợ, lại càng phải chiều Dung thêm, Bạch càng cảm thấy mình sống một cách quá gượng gạo, không những mình đã đánh lừa mình và lại còn dối trá lẫn cả với một người bạn mà chỉ có kính yêu thành thực mới đủ đền đáp lại.
Bạch là người không thích những tình thế mập mờ và những tính tình nửa chừng. Có những lúc muốn được thấy mình thành thực với ý nghĩ của mình, Bạch muốn nói to lên cho Dung nghe đến những điều chàng nghĩ thẩm rằng hai người trong cuộc hôn nhân này, chỉ là thương hại lẫn nhau và sống chung dưới một mái nhà chẳng qua chỉ để mà làm cho nhau thấy cuộc sống thêm khó nhọc, thêm hận, thêm bực bội, không đủ thành đôi bạn mà chỉ là hai kẻ thù trong sự bầu bạn ép gượng của hằng ngày. Bạch cho cuộc hôn nhân này là một cái bình đã có những đường âm phá mỗi ngày một loang nẻ thêm. Hàn gắn mãi cho khéo, cho kiên nhẫn thì cũng bịt giữ được cho bình khỏi vỡ, nước bình khỏi tuôn rơi ra ngoài, nhưng cái bình ấy, dày cộm lên những vết xi măng đắp gắn, dẫu sao cũng không mất được cái hình thù xấu xí và cục mịch, thiếu hẳn cái dáng đầu tiên của chiếc đồ sứ.
Chỉ có ly dị gỡ thoát đời Dung ra hẳn cuộc sống của Bạch, thì mới hết bận bịu, thì Bạch mới trở lại cái bản ngã của Bạch được.
Nhưng nhiều ý nghĩ khác lại bảo Bạch hãy cứ thong thả xem sao. Nếu một ngày gần đây, tình thế của hai người găng quá, tâm trạng của mỗi người đã không cho nhau dung nổi lấy được nhau nữa, thì sẽ chia rẽ vẫn chưa là muộn. Bạch vẫn chờ.
Nhiều lúc Bạch tưởng cái giờ ấy đã đến để mình và Dung bảo thực cho nhau biết rằng muốn bảo toàn cho độc lập của quan niệm mỗi người về hạnh phúc, thì mỗi người từ phút này sẽ chia tay nhau bằng một thái độ bạn hữu. Cái giờ quan hệ sắp đến. Bạch sắp định rõ thái độ mình thì trời ơi! Dung lại khó ở hằng mươi mười lăm ngày, thì Phong lại biếng chơi biếng ăn hằng tuần, thì cụ Tô lại giở giời. Những ngày Dung yếu không dậy được, Bạch trở nên vui tính. Chàng tạo cho mình những ngôn ngữ cử chỉ hoan lạc. Chàng muốn tỏ cho vợ mình thấy mình là một người lịch sự. Rồi một lọ dầu khuất thần, một câu hỏi thăm chân thành về sức khoẻ người ốm, một bát thuốc rúc lại hâm nóng lên trong những đêm liên miên với cái tro xám của chiếc hỏa lò nguội lạnh, nếu bấy nhiêu cái vặt vãnh có thể làm cho một đôi vợ chồng son hết hờn mát nhau thì vào cảnh huống của Bạch, cũng vẫn là những cớ nhiệm màu làm cho chàng lùi mãi cái giờ trấn tĩnh và tỏ thái độ quyết liệt của mình.
Không còn gì thảm khổ bằng một người thành gia thất rồi, biết mình đã tính lầm về một việc trọng đại, nay muốn lấy ly dị để gỡ cho mình để gỡ luôn cho người, cứ chờ mong ly dị mà cứ phải kéo dài cái tình thế mập mờ của mình.
Không tiết hết được những bực dọc bằng một cuộc nói chuyện rành rọt với vợ để mình sẽ được hoàn toàn trở về với cuộc sống vô thường trôi giạt xưa cũ, Bạch đâm ra giận mình, oán Dung và xương thịt buồn rầu chỉ muốn gây nên một đổ vỡ gì cho nó giải thoát bớt phiền khổ ra ngoài.
Oán Dung, Bạch lại càng nghĩ thêm ra những cách để ghét Dung cho được nhiều. Mỗi ngày chờ đợi ly hôn, Bạch lại thấy Dung có thêm một tật xấu của người đàn bà thiếu học thức và giáo dục của thời đại. Phần đức về luân lý của Dung không đủ bênh vực cho Dung về những tật xấu Bạch tỉa tót thêm mãi ra.
Sống chung với Dung, trước mặt Dung. Bạch đã bao nhiêu lần phạm vào cái tội nói xấu vợ mình. Lắm lúc Bạch tưởng phải dùng cả đến cái lợi khí rất nguy hiểm của người muốn hại một kẻ thù khác: sự vu khống. Cứ vu khống đi, sẽ có một cái gì còn lại. Cái gì còn lại đó, Bạch tin là lòng ghét. Bạch cho là càng ghét được Dung nhiều bao nhiêu thì hai người sẽ sớm được ruồng bỏ nhau bấy nhiêu và chàng sẽ có cơ hội để trở lại - gọi là trở về thì đúng hơn - với cái cá tính của chàng. Cái cá tính ấy, Bạch chỉ lo mất hết. Hiện cá tính chàng đang dọa mất dần. Bởi vì nó đang biến thể, chịu theo điều luật dung hòa của tâm lý. Nếu, thí dụ trong những màu sắc của sự vật hằng ngày, Bạch thích màu đỏ và Dung lại chỉ có ưa màu lam thôi, thì cuộc hôn nhân kia muốn bền bỉ sẽ bảo hai người nên mỗi người nhượng bộ đi một tí. Chàng nhường đi một chút và chàng cũng chịu đi một chút. Cái màu đỏ của Bạch sẽ không chói gắt nữa. Cái màu lam của Dung cũng không xanh biếc nữa. Bạch và Dung sẽ không có chung một thứ màu trung lập hơi hơi tím sẫm. Trong cái chậu phẩm tím hỗn hợp hai thứ phẩm đã mất nguyên sắc, bây giờ mặt nước chậu đã bằng lặng như một tấm gương lấy những cặn phẩm đọng ở đáy thay làm lần thuỷ ngân lót gương.
Soi mặt lên tấm kính hạnh phúc có màu sắc ấy, có lẽ Dung vẫn cứ bằng lòng, bởi vì đối với nàng, nàng có cần gì đấy là màu lam hoặc màu tím. Và có lẽ cũng chẳng bao giờ nàng nhớ lại rằng có một hồi mình nhất định chỉ là một màu lam. Vẽ chuyện. Cái gì ở đời này mà chẳng có màu sắc. Và màu sắc nào cũng đều đẹp cả. Màu đơn cũng đẹp nhưng mà màu kép càng có thể đẹp hơn. Dung sẽ bảo Dung thế.
